ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ QUẾ
QUYÒN LµM VIÖC CñA NG¦êI KHUYÕT TËT T¹I VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ QUẾ
QUYÒN LµM VIÖC CñA NG¦êI KHUYÕT TËT T¹I VIÖT NAM
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. HOÀNG NGỌC GIAO
HÀ NỘI – 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
1.1.2. Khái niệm người lao động khuyết tật ............................................... 11
1.1.3. Quyền làm việc của người khuyết tật trong mối quan hệ với các
quyền khác....................................................................................... 12
1.1.4. Quyền làm việc của người khuyết tật – Quyền con người ................ 13
1.2.
Kinh nghiệm của một số quốc gia đảm bảo quyền làm việc
của người khuyết tật ...................................................................... 18
1.2.1. Quyền làm việc của người khuyết tật tại Nhật Bản .......................... 18
1.2.2. Quyền làm việc của người khuyết tật tại Malaysia ........................... 20
1.2.3. Quyền làm việc của người khuyết tật ở nước Cộng hoà nhân
dân Trung Hoa ................................................................................. 25
1.2.4. Quyền làm việc của người khuyết tật ở Mỹ...................................... 27
Kết luận chương 1 ...................................................................................... 31
Chương 2: THỰC TRẠNG NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI VIỆT NAM VÀ
CÁC CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT, THỂ CHẾ ĐẢM BẢO QUYỀN
LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI VIỆT NAM.........................32
2.1.
Thực trạng lao động khuyết tật tại Việt Nam .............................. 32
2.1.1. Tỷ lệ lao động khuyết tật ................................................................. 32
2.1.2. Các dạng khuyết tật theo lứa tuổi ..................................................... 33
2.1.3. Giáo dục và đào tạo ......................................................................... 35
2.1.4. Tham gia lực lượng lao động và việc làm ........................................ 40
2.1.5. Mức sống và thu nhập ...................................................................... 41
2.2.
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLĐTBXH:
Bộ lao động thương binh xã hội
CNTT:
Công nghệ thông tin
ĐHQG:
Đại học Quốc gia
ĐTMSDC:
Điều tra mức sống dân cư
LĐTBXH:
Lao động thương binh xã hội
NKT:
Người khuyết tật
TĐTDS:
Tổng điều tra dân số
Bảng 2.4: Tình trạng đi học của trẻ theo tình trạng khuyết tật và mức
độ khó khăn
Bảng 2.5: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động theo mức độ khuyết tật
38
40
Bảng 2.6: Thu nhập bình quân của người khuyết tật chia theo nhóm
tuổi và lĩnh vực nghề nghiệp
Bảng 3.1: Mức chi phí đào tạo nghề cho học viên là người khuyết tật
42
59
Bảng 3.2: Sở lao động thương binh xã hội tỉnh Đồng Nai – Đào tạo
cho người khuyết tật
Bảng 3.3: Đào tạo nghề cho người khuyết tật tại tỉnh Hải Dương
72
72
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay số người khuyết tật ở nước ta chiếm khoảng 6% dân số trong
đó có 60% người là đang trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động nhất
định. Với những đặc tính của mình như chăm chỉ, tận tuỵ, tính kỷ luật cao
người khuyết tật cũng là một nguồn lực mang lại nhiều giá trị cho xã hội. Rất
nhiều người khuyết tật có khiếm khuyết một phần cơ thể vẫn có thể làm các
công việc phù hợp để nuôi sống bản thân và giúp ích cho xã hội, đây được coi
người khuyết tật.
Đây rõ ràng là hai mặt của một vấn đề, từ chỗ không được đảm bảo
quyền làm việc đến bị lợi dụng và trà đạp lên danh dự, nhân phẩm để kiếm tiền.
Chính vì thực trạng trên tại Việt Nam, yêu cầu cần có một đề tài nghiên
cứu khoa học về quyền có việc làm của người khuyết tật là hết sức cấp thiết.
Nghiên cứu này hi vọng có thể qua thực trạng tại Việt Nam hiện nay, chỉ ra
các nguyên nhân căn bản nhất và một vài giải pháp để khắc phúc.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở nước ta, bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ quyền của người
khuyết tật nói riêng, trong đó có quyền làm việc của người khuết tật là vấn đề
đã được Đảng, Nhà nước cùng các nhà khoa học xã hội hết sức quan tâm
nghiên cứu.
Đầu tiên phải kể đến các công trình nghiên cứu về quyền con người nói
chung - tạo tiền đề cho việc nghiên cứu quyền của các nhóm người yếu thế
trong xã hội - nở rộ và đạt được nhiều thành tựu trong những năm gần đây:
Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người biên tập hai tập chuyên khảo:
“Quyền con người, quyền công dân” của nhiều tác giả, xuất bản năm 1995;
“Tìm hiểu vấn đề nhân quyền trong thế giới hiện đại” do TS. Chu Hồng
Thanh chủ biên, Nxb. Lao động, Hà Nội, 1996; Báo cáo tổng thuật Đề tài
2
KX.07- 16 nghiên cứu về “Các điều kiện đảm bảo quyền con người, quyền
công dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước” do GS.TS Hoàng Văn Hảo chủ
nhiệm… “Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người” của tập thể tác
giả do GS.TS. Nguyễn Đăng Dung, T.S Vũ Công Giao, ThS. Lã Khánh Tùng
(đồng chủ biên) và cuốn sách nhiều tập “Quyền con người” tiếp cận đa ngành,
liên ngành của GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà
Nội, 2010; v.v…
khuyết tật tại Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Làm rõ những khái niệm cơ bản về quyền làm việc của người khuyết tật.
- Phân tích các chính sách, pháp luật và thể chế của nhà nước trong việc
hỗ trợ đảm bảo quyền làm việc của người khuyết tật.
- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia về việc đảm bảo quyền
làm việc của người khuyết tật.
- Kiến nghị hoàn thiện các chính sách, pháp luật và thể chế nhằm nâng
cao việc đảm bảo quyền làm việc của người khuyết tật.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là các văn bản pháp luật quốc gia liên quan đến
quyền làm việc của người khuyết tật tại Việt Nam. Các cơ chế liên quan đến
việc thực thi quyền làm việc của người khuyết tật tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu bao gồm: Những vấn đề chung về bảo vệ quyền
làm việc của người khuyết tật tại Việt Nam.Quy định của luật người khuyết
tật hiện hành và thực tiễn bảo vệ quyền làm việc của người khuyết tật. Hoàn
thiện các quy định của pháp luật, các chính sách, thể chế nhằm nâng cao việc
bảo vệ quyền làm việc của người khuyết tật tại Việt Nam.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa
4
Mác-LêNin (duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh và
các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và Pháp luật, về Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về bảo vệ quyền con người.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
nghiệm thực tiễn cho việc thực hiện có hiệu quả việc bảo vệ quyền làm việc
của người khuyết tật. Kết quả của luận văn có giá trị tham khảo cho những ai
quan tâm đến lĩnh vực này.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểu
thì luận văn được kết cầu gồm 3 chương:
Chương 1. Lý luận chung về quyền làm việc của người khuyết tật và
kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới.
Chương 2. Thực trạng người khuyết tật tại Việt Nam và các chính
sách, pháp luật, thể chế đảm bảo quyền làm việc của người
khuyết tật tại Việt Nam.
Chương 3. Kiến nghị hoàn thiện về chính sách, pháp luật, thể chế của
Việt Nam trong việc đảm bảo quyền làm việc của người
khuyết tật.
6
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI KHUYẾT
TẬT VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm người khuyết tật theo công ước quốc tế và luật
người khuyết tật
Theo công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật được đại hội
đồng liên hợp quốc thông qua ngày 13/3/2007 thì khái niệm người khuyết tật
được hiểu là một khái niệm mở, tiến triển theo thời gian và điều kiện xã hội,
theo đó thì các quốc gia tham gia công ước sẽ:
Thừa nhận rằng sự khuyết tật là một khái niệm luôn tiến triển
và sự khuyết tật xuất phát từ sự tương tác giữa người có khuyết tật
kết luận là sự cần thiết sử dụng từ “khuyết tật” thay cho “tàn tật” bởi vì
những lý do sau:
- Mặt ý nghĩa từ “tàn tật” mang ý nghĩa tiêu cực, nặng nề hơn. Việc
dùng từ tàn tật sẽ khiến người ta có cảm giác là những người này không còn
khả năng gì và điều đó ảnh hưởng tiêu cực đến sự nỗ lực phấn đấu vượt khó
khăn. Trong khi đó từ “khuyết tật” lại mang ý nghĩa là những khiếm khuyết,
sự giảm chức năng, phục hồi chức năng, vẫn còn khả năng, còn hy vọng bởi
vậy, nó mang ý nghĩa tích cực hơn.
- Xã hội ngày càng phát triển, văn minh hơn, nhận thức của xã hội nói
chung và nhận thức của xã hội về người khuyết tật nói riêng cũng thay đổi
nên từ ngữ sử dụng cũng cần thay đổi theo xu hướng đó.
- Đại bộ phận người khuyết tật mong muốn được gọi là người
khuyết tật chứ không phải là người tàn tật vì nó mang tính nhân văn và xã
hội nhiều hơn.
8
Phân loại người khuyết tật
Để phân loại người khuyết tật nói chung và lao động khuyết tật nói
riêng có thể dựa vào các tiêu chí sau đây:
a. Theo nguyên nhân dẫn đến khuyết tật, gồm có: Nhóm nguyên nhân
khuyết tật do bẩm sinh; Nhóm nguyên nhân khuyết tật do bệnh tật; Nhóm
nguyên nhân khuyết tật do chiến tranh; Nhóm nguyên nhân khuyết tật do tai
nạn lao động; Do các nguyên nhân khác.
b. Theo tiêu chuẩn phân loại khả năng suy giảm, khuyết tật và trở ngại
(ICIDH) do tổ chức Y tế thế giới ban hành vào năm 1980, gồm 7 dạng: Suy
giảm khả năng vận động như bị cụt chân, cụt tay, liệt, bại não... Suy giảm
thính giác/nói (giao tiếp); Suy giảm thị giác bao gồm mù, mù màu...; Hành vì
cư xử xa lạ (thường là do kết quả bệnh thần kinh phân liệt hay chứng loạn
- Khuyết tật thị giác: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm
nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi
trường bình thường.
- Khuyết tật vận động: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động
đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển
- Khuyết tật nghe nói: tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói
hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong
giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói.
- Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ,
cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành
động bất thường.
- Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư
duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật,
hiện tượng, giải quyết sự việc.
- Khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể
khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không
thuộc các trường hợp đã nêu trên.
10
Việc phân loại dạng khuyết tật cũng như xác định mức độ khuyết tật là
rất quan trọng vì với mỗi loại khuyết tật sẽ phù hợp với công việc và các trang
thiết bị hỗ trợ khác nhau. Các mức độ khuyết tật khác nhau cũng giúp người
sử dụng lao động đánh giá được khả năng lao động để bố trí công việc phù
hợp cho từng lao động.
1.1.2. Khái niệm người lao động khuyết tật
Khái niệm người lao động khuyết tật sẽ hẹp hơn khái niệm lao
động khuyết tật vì không phải tất cả những người khuyết tật đều có khả
năng lao động.
loại mức độ khuyết tật, dạng khuyết tật để phục vụ cho việc tư vấn dạy nghề,
dạy nghề, tạo việc làm và tạo môi trường lao động thích hợp.
1.1.3. Quyền làm việc của người khuyết tật trong mối quan hệ với các
quyền khác
Có thể nói quyền làm việc của người khuyết tật là một quyền cơ bản,
tạo tiền đề để người khuyết tật có cơ hội tiếp cận và thực hiện các quyền
khác của mình.
Khi người khuyết tật được học nghề và làm việc phù hợp với khả năng,
tự tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân, không phải phụ thuộc vào gia đình và
xã hội thì tự bản thân người khuyết tật sẽ cảm thấy tự tin trong cuộc sống,
tiếng nói của họ trong gia đình và xã hội sẽ có trọng lượng hơn. Từ đó người
khuyết tật mạnh rạn tham gia các hoạt động xã hội khác trong khu dân cư nơi
mình sinh sống, cơ quan nơi mình làm việc, các quyền về văn hóa xã hội của
người khuyết tật vì thế mà được đảm bảo hơn. Từ việc có thể tích cực tham
gia các hoạt động xã hội, nâng cao hơn nữa, người khuyết tật có thể tiếp cận
các quyền dân sự chính trị như ứng cử, bầu cử, tự do ngôn luận....Rõ ràng, khi
có thể tự chủ về kinh tế, tìm được chỗ đứng của mình trong xã hội thì người
khuyết tật mới có tiếng nói và có cơ hội thực hiện các quyền văn hóa xã hội,
dân sự chính trị.
12
Tương tự như vậy, khi có quyền làm việc, có khả năng tự tạo thu nhập
thì các quyền về kinh tế của người khuyết tật mới có cơ hội được đảm bảo tốt
hơn. Ví dụ người khuyết tật khi chứng minh được năng lực của mình có thể
tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi để tự mình sản xuất kinh doanh, thành lập
công ty... đóng góp vào nền kinh tế chung của đất nước.
1.1.4. Quyền làm việc của người khuyết tật – Quyền con người
* Năng lực pháp luật của người khuyết tật – quyền được làm việc,
b. Bảo vệ quyền của người khuyết tật được có điều kiện làm việc chính
đáng và thuận lợi trên cơ sở bình đẳng với những người khác, trong đó có cơ
hội bình đẳng và được trả lương ngang nhau cho công việc có giá trị ngang
nhau, điều kiện làm việc an toàn và bảo đảm sức khỏe, bao gồm việc được
bảo vệ không bị quấy rối hay bị mắng nhiếc.
c. Bảo đảm cho người khuyết tật có thể thực hiện quyền tham gia công
đoàn, nghiệp đoàn trên cơ sở bình đẳng với những người khác;
d. Tạo điều kiện cho người khuyết tật tiếp cận các chương trình kỹ
thuật và hướng nghiệp chung, các dịch vụ việc làm, đào tạo nghề và đào
tạo tiếp tục;
e. Thúc đẩy cơ hội việc làm và thăng tiến nghề nghiệp cho người
khuyết tật trên thị trường lao động, cũng như thúc đẩy hỗ trợ tìm kiếm việc
làm, duy trì và quay trở lại làm việc;
f. Thúc đẩy cơ hội tự làm việc, nhận thầu, phát triển hợp tác xã và
khởi nghiệp;
g. Tuyển dụng người khuyết tật trong lĩnh vực công;
h. Thúc đẩy tuyển dụng người khuyết tật trong lĩnh vực tư, thông qua
các biện pháp và chính sách thích hợp, trong đó có thể có các chương trình
hành động mang tính chất động viên, khen thưởng và các biện pháp khác;
i. Bảo đảm tạo điều kiện hợp lý cho người khuyết tật ở nơi làm việc;
j. Tạo điều kiện cho người khuyết tật có kinh nghiệm làm việc trên thị
trường lao động mở;
14
k. Thúc đẩy các chương trình phục hồi nghề nghiệp, giữ gìn nghề
nghiệp và quay trở lại làm việc cho người khuyết tật.
Quốc gia thành viên bảo đảm rằng người khuyết tật không phải làm nô
dịch hoặc lao dịch, và được bảo vệ khỏi hình thức lao động cưỡng bức hoặc
cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn
khác” [16, Điều 59]; Điều 61 quy định mở rộng đối tượng được tạo điều kiện
học văn hóa và học nghề, không phân biệt người khuyết tật là trẻ em hay
không phải là trẻ em: “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải
đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc
biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người
khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề” [16, Điều 61].
Hệ thống pháp luật về người khuyết tật ở Việt Nam ngày càng được
hoàn thiện, cơ bản đã thể chế hoá được các chủ trương, chính sách của Đảng
đối với người khuyết tật và có sự tương đồng với Công ước quốc tế về quyền
của người khuyết tật. Trong các quyền của người khuyết tật, quyền làm việc
đã được khẳng định trong các văn bản pháp luật.
Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Người khuyết tật thay thế Pháp
lệnh về người tàn tật năm 1998. Luật Người khuyết tật năm 2010 đã quy định
quyền được làm việc của tất cả người khuyết tật. Tại điều 5 luật người khuyết
tật 2010 nêu rõ chính sách của nhà nước về người khuyết tật trong đó khẳng
định “nhà nước bảo trợ xã hội, trợ giúp người khuyết tật trong chăm sóc sức
khỏe, giáo dục, dạy nghề, việc làm...” [18, Điều 5].
=> Năng lực hành vi của người khuyết tật – hạn chế, tùy theo dạng
thức, mức độ khuyết tật. Tuy nhiên, sự hạn chế về năng lực hành vi của người
khuyết tật – không thể là căn cứ để loại trừ năng lực pháp luật thể hiện ở
quyền làm việc của người khuyết tật đã được công nhận trong cả các văn kiện
quốc tế và quốc gia.
Với những lập luận nêu trên, quyền làm việc của người khuyết tật là
16
quyền con người chính đáng, nhưng chủ thể quyền khó có thể thực hiện
được quyền của mình nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước, doanh nghiệp
+ Thứ hai, cần có sự khuyến khích của nhà nước bằng các quy định ưu
đãi, tạo điều kiện nếu doanh nghiệp sử dụng lao động là người khuyết tật.
- Sự hỗ trợ của xã hội trong việc thực thi quyền làm việc của người
khuyết tật.
Đây chính là sự hỗ trợ lớn lao và không thể thiếu đối với người khuyết
tật. Xã hội ta hiện nay vẫn có sự kỳ thị không hề nhỏ với người khuyết tật, coi
họ là vô dụng, không làm được gì nên phần lớn người khuyết tật, đặc biệt
sống ở nông thôn hầu như không được làm việc, họ sống dựa vào gia đình,
không được học hành hay có bất cứ cơ hội nào để hòa nhập, sống như một
người bình thường.
Những thông báo tuyển dụng, những con đường giao thông, những
siêu thị, trung cư, những phương tiện giao thông công cộng của Việt Nam
hầu như không có các phương tiện đặc thù để người khuyết tật sử dụng.
Cho thấy những nhà quy hoạch, những kiến trúc sư và cả xã hội chưa quan
tâm đúng mức đến người khuyết tật, đến quyền hòa nhập, đi lại và làm việc
của người khuyết tất.
Trong một số năm gần đây, nhà nước và các tổ chức hội người khuyết
tật đã tích cực làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, nêu gương khiến cho
quan niệm về người khuyết tật tại Việt Nam đã dần có những biểu hiện tích
cực. Xã hội, dư luận đã bước đầu có cái nhìn bình đẳng, tôn trọng và không
kỳ thị đối với người khuyết tật, các doanh nghiệp cũng dần nhận thấy tiềm
năng của những người khuyết tật giàu nghị lực và học thức.
1.2. Kinh nghiệm của một số quốc gia đảm bảo quyền làm việc của
người khuyết tật
1.2.1. Quyền làm việc của người khuyết tật tại Nhật Bản
Nhật Bản là quốc gia đi đầu khu vực Châu á trong lĩnh vực ưu tiên dạy
nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật ở các thành phần kinh tế: quốc
18