I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
PHAN THI PHNG THANH
BảO Vệ, THúC ĐẩY MộT Số QUYềN DÂN Sự
CủA NGƯờI KHUYếT TậT ở VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Phỏp lut v Quyn Con Ngi
Mó s: Chuyờn ngnh o to thớ im
LUN VN THC S LUT HC
Can bụ hng dn khoa hc: PGS. TS. HA THI MAI HIấN
HÀ NỘI - 2014
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phan Thị Phương Thanh
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
LỜI CAM ĐOAN 3
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
SỰ CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 74
Kết luận chương 2 78
Chương 3 79
GIẢI PHÁP THỰC HIỆN VIỆC BẢO VỆ, THÚC ĐẨY 79
CÁC QUYỀN DÂN SỰ CỦA Người khuyết tật Ở VIỆT NAM 79
3.1. NHU CẦU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC THÚC ĐẨY VÀ BẢO VỆ
CÁC QUYỀN DÂN SỰ CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 79
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ
CÁC QUYỀN DÂN SỰ CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM 82
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ THỰC
HIỆN VÀ BẢO VỆ CÁC QUYỀN DÂN SỰ CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở
VIỆT NAM 84
Kết luận chương 3 88
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CRC : Công ước quốc tế về quyền trẻ em
ĐHĐ : Đại hội đồng
ECOSO : Hội đồng kinh tế và xã hội
HĐBA : Hội đồng Bảo an
HĐQT : Hội đồng quản thác
ICCPR : Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị
năm 1966
ICJ : Toà án công lý
ILO : Tổ chức Lao động thế giới
NKT : Người khuyết tật
TGPL : Trợ giúp pháp lý
UN : Liên Hợp Quốc
UNCHR : Văn phòng cao uỷ Liên hợp quốc về người tị nan
UNESCO : Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên
tinh thần nhưng họ không được coi là những người vô dụng và không phải là
gánh nặng của xã hội. Chính vì vậy, việc quan tâm đến quyền và lợi ích của
NKT mà cụ thể là quyền dân sự của NKT giúp họ hòa nhập với cộng đồng xã
hội là điều cần phải làm bởi vì họ cũng là chủ thể của quyền con người và họ
cũng có những quyền và nghĩa vụ bình đẳng với mọi người trong xã hội.
Nguyên tắc tự do, bình đẳng của pháp luật tạo cơ hội ngang nhau cho tất cả
mọi người trong việc thực hiện các quyền con người, quyền công dân về dân
sự. Tuy nhiên, đối với NKT, khả năng hiện thực hóa các quyền đó là không
dễ dàng, họ cần có sự hỗ trợ, giúp đỡ từ phía nhà nước và xã hội.
Nhằm tìm hiểu rõ hơn quy định của pháp luật về vấn đề trên cũng như
đưa ra một số ý kiến để hoàn thiện pháp luật liên quan đến NKT, tác giả đã
lựa chọn đề tài: “Bảo vệ, thúc đẩy một số quyền dân sự của người khuyết
tật ở Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng tới mục đích làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn
của việc bảo vệ và thúc đẩy một số quyền dân sự của người khuyết tật ở Việt
Nam, cụ thể: làm rõ khái niệm, nội dung các biện pháp, vai trò của bảo vệ
thúc đẩy quyền dân sự của người khuyết tật; tìm hiểu các quy định của pháp
luật Việt Nam và một số nước trên thế giới về quyền dân sự của NKT, phân
tích và đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền dân sự cho
NKT, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy
và bảo vệ các quyền dân sự cho NKT, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về
các quyền dân sự cho NKT ở Việt Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, tác giả không có tham vọng nghiên cứu hết tất cả
các quyền dân sự của người khuyết tật, mà chỉ tập trung về bảo vệ và thúc đẩy
2
một số quyền dân sự của người khuyết tật, với mục đích đó luận văn tập trung
tìm hiểu một số vấn đề như: Quyền dân sự của người khuyết tật, một số quyền
dân sự cụ thể của người khuyết tật, làm thế nào để bảo vệ và thúc đẩy quyền
tật và vấn đề thúc đẩy, bảo vệ quyền dân sự của người
khuyết tật ở Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng việc thúc đẩy và bảo vệ quyền dân sự của
người khuyết tật tại Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp thực hiện việc bảo vệ, thúc đẩy các các quyền
dân sự của người khuyết tật ở Việt Nam.
4
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN DÂN SỰ CỦA NGƯỜI
KHUYẾT TẬT VÀ VẤN ĐỀ THÚC ĐẨY, BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ
CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM QUYỀN DÂN SỰ CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ
SỰ CẦN THIẾT THÚC ĐẨY, BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ CỦA NGƯỜI
KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM
1.1.1. Khái niệm quyền dân sự của Người khuyết tật
1.1.1.1. Khái niệm Người khuyết tật
Con người là một thực thể tự nhiên và xã hội, phát sinh, phát triển dưới
sự tác động của các quy luật tự nhiên và xã hội. Cũng như mọi thực thể khác,
con người cũng được sinh ra và tồn tại một cách đa dạng và có thể có những
đột biến, những rủi ro về tâm sinh lý, nên có thể bị khiếm khuyết, bị dị tật.
Tuy nhiên, trước tạo hóa, con người luôn bình đẳng. Cùng với quá trình phát
triển của xã hội, con người đã xác định được những quy tắc xử sự chi phối
mọi hoạt động của các chủ thể biết tôn trọng và bảo đảm quyền tự do và bình
đẳng của con người. Điều 1 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người
năm 1948 tuyên bố: “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng về nhân phẩm
và quyền. Mọi con người đều được tạo hóa ban cho lí trí và lương tâm và cần
đối xử với nhau trong tình bằng hữu”[11, Điều 1].
Chính quy định này đã cho thấy rõ vị trí của mỗi người sinh ra trong xã
hội là hoàn toàn bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, không có sự phân
biệt đối xử giữa những người được sinh ra bình thường và những người sinh
6
và môi trường vật thể xung quanh NKT. Quan điểm này cho rằng NKT có thể
hưởng lợi từ phương pháp khoa học như thuốc điều trị và các công nghệ cải
tiến chức năng. Mô hình y tế chú trọng vào việc trị liệu cá nhân chứ không
xem trọng việc trị liệu xã hội. Như vậy mô hình y tế nhìn nhận NKT là vấn đề
đưa ra và đưa ra giải pháp để làm người đó “bình thường”.
Với quan điểm này xã hội đã coi NKT là những người có vấn đề về thể
chất và cần phải chữa trị. Do đó đã đẩy những NKT vào thế bị động của
người bệnh.
b. Quan điểm khuyết tật theo mô hình xã hội
Đây được coi là nền tảng của những chuyển biến của vấn đề NKT. Ở
đây, NKT được nhìn nhận là hệ quả bị xã hội phân biệt. Bởi vì xã hội được tổ
chức không tốt nên NKT bị phân biệt đối xử.
Từ những quan điểm khác nhau thì mỗi quốc gia có một cách nhìn nhận
riêng và có cách hiểu riêng về định nghĩa NKT riêng được ghi nhận trong
pháp luật quốc gia đó.
Trong điều 2 Luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ
người khuyết tật năm 1990:
Người khuyết tật là một trong những người bị bất thường,
mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng, tâm lí hay
sinh lí, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những người đã mất toàn
bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động một cách
bình thường.
Người khuyết tật là những người có thính giác, thị giác, lời
nói hoặc khuyết tật về thể chất, chậm phát triển tâm thần, rối loạn
tâm thần, khuyết tật nhiều và/ hoặc khuyết tật khác [4, Điều 2].
Còn theo quy định trong khoản 1 Điều 1 Công ước số 159 của ILO về
phục hồi chức năng lao động và việc làm của NKT năm 1983, quy định: “Người
7
khuyết tật dùng để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ
dân sự là những quyền gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao
cho người khác được như quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân, quyền
không bị bắt làm nô lệ, quyền không bị tra tấn, quyền được đối xử nhân đạo,
quyền kết hôn và xây dựng gia đình, quyền có tài sản riêng Đây là những
quyền quan trọng của mỗi công dân và bản thân những NKT cũng là những
công dân bình thường nên họ cũng có đầy đủ các quyền này, các quyền này
của NKT cũng được nhà nước tôn trọng, bảo vệ và tạo những điều kiện thuận
lợi nhất để NKT thực hiện được các quyền này một cách tốt nhất.
Trong lịch sử nhân quyền thì các quyền dân sự ra đời khá sớm, trong các
văn kiện pháp luật của các nước từ thời xa xưa đã chứa đựng nhiều nội dung
quy định về việc bảo vệ các quyền sống, quyền an toàn cá nhân, Sau khi UN
ra đời và thông quan bản Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền đã càng
khẳng định các quyền phổ quát cho toàn nhân loại, trong đó ghi nhận các
quyền dân sự bên cạnh các quyền khác của con người. Về sau các quyền này
được tái khẳng định và cụ thể hóa trong nhiều văn kiện quốc tế khác mà đặc
biệt là trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) năm
1966.
Các quyền dân sự cụ thể được quy định trong Công ước quốc tế về các
quyền dân sự, chính trị (ICCPR) năm 1966 áp dụng chung cho tất cả mọi
người trong đó bao gồm cả nhóm NKT, bao gồm các quyền như: Quyền
không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận và bình đẳng trước pháp luật;
Quyền sống, tự do và an ninh cá nhân; Quyền về xét xử công bằng; Quyền về
tự do đi lại, cư trú; Quyền được bảo vệ đời tư; Quyền tự do tư tưởng, tín
ngưỡng, tôn giáo; Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân;
9
Đây là các quyền cá nhân cơ bản của mỗi công dân.
Các quyền dân sự này có những đặc điểm riêng so với các quyền khác.
Quyền dân sự thực chất là các quyền tự do cá nhân. Chủ thể quyền quyền dân
sự tự mình thực hiện quyền của mình một cách tự do và bình đẳng với các
chủ thể khác. Nhà nước trong hầu hết các trường hợp không cần chủ động
biệt phải chịu thiệt thòi về mặt kinh tế - xã hội. Những gia đình có NKT
thường họ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống vì họ điều kiện kinh tế khó
khăn do phải nuôi dưỡng và chăm lo cho cuộc sống của NKT. Học vấn của
bản thân NKT và thành viên trong gia đình NKT thường không cao, do bản
thân NKT gặp những khó khăn về thể chất hoặc trí tuệ ảnh hưởng đến khả
năng tiếp thu học vấn cũng như những khó khăn về mặt kinh tế nên không có
khả năng theo học. Tài sản của NKT thường nghèo nàn, thu nhập của NKT
thường ở mức độ thấp, vì vậy điều kiện sống và sinh hoạt là không tốt, ảnh
hưởng xấu đến cuộc sống, sức khỏe, phúc lợi xã hội của các thành viên trong
gia đình NKT. Ngoài ra những NKT đến tuổi trưởng thành rất khó có việc
làm, vì NKT họ khó tìm được việc làm phù hợp với dạng khuyết tật của mình
cũng như xã hội chưa tạo được nhiều điều kiện việc làm cho NKT.
Vì tình trạng khuyết tật nên NKT phải gánh chịu nhiều thiệt thòi trong
mọi mặt đời sống. Khuyết tật là nguyên nhân chính gây ra nhiều khó khăn cho
NKT trong việc thực hiện các công việc sinh hoạt hàng ngày, trong giáo dục,
việc làm, tiếp cận các dịch vụ y tế, kết hôn, sinh con hay tham gia vào các
hoạt động của đời sống xã hội. Để làm được những việc này, NKT không thể
tự mình làm được mà phải dựa vào những người thân trong gia đình.
Vì tình trạng khuyết tật của mình NKT còn bị phải đối diện với thái độ
coi thường, miệt thị của nhiều người trong xã hội đối với tình trạng khuyết tật
11
của họ. Quan niệm của xã hội đối với NKT vẫn còn tiêu cực, nhiều người trong
xã hội vẫn coi NKT là gánh nặng cho xã hội, coi thường những khả năng của
chính NKT, nhiều người trong xã hội vẫn coi NKT là những đối tượng “đáng
thương”, coi NKT là những đối tượng của lòng thương hại. Từ đó, chính những
người trong xã hội vẫn còn có thái độ kì thị, phân biệt đối xử với NKT, nhiều
khi nó còn diễn ra trong chính gia đình NKT. Chính bản thân những NKT cũng
có những suy nghĩ không tốt, khi một người ở vào trong hoàn cảnh bị khiếm
khuyết về thể chất và tinh thần thì chính họ cũng cảm thấy mặc cảm, từ đó họ
tự ti khi tham gia vào các hoạt động xã hội, họ cảm thấy chính bản thân mình là
học tập. Đối với những trường hợp này rất cần sự chung tay của xã hội trong
việc hỗ trợ NKT về thiết bị cũng như các cơ sở vật chất thuận lợi cho họ
trong quá trình đi lại của họ, cần có những xây dựng riêng về việc làm, khu
vui chơi giải trí, xe cộ dành riêng, thuận lợi cho những đối tượng này để họ
dễ dàng di chuyển được.
Một dạng khuyết tật khác đó là khuyết tật về nghe, nói. Đây là những
người gặp khó khăn khi giao tiếp với người xung quanh bằng ngôn ngữ, từ đó
họ bị hạn chế về khả năng tiếp thu trong quá trình học tập, làm việc. Để
những NKT trong trường hợp này có thể tham gia vào đời sống xã hội họ cần
có ngôn ngữ, kí hiệu riêng cũng như công cụ đặc thù như máy trợ thính giúp
họ có thể nghe được. Hiện nay, việc giao tiếp bằng ngôn ngữ của người bị
câm cũng đang ngày càng được nhiều người học tập để có thể giao tiếp được
với họ, tuy nhiên ngôn ngữ kí hiệu cũng có nhiều hạn chế vì không thể phản
ánh được đầy đủ tính chất, mức độ các hoạt động cuộc sống như tiếng nói hay
chữ viết, nó không thể phản ánh hết được những gì mà bản thân NKT mong
muốn thể hiện ra bên ngoài, bên cạnh đó việc tiếp cận với ngôn ngữ kí hiệu
không phải là việc dễ dàng đối vơi những NKT, điều đó càng làm hạn chế khả
13
năng giao tiếp, hòa nhập của NKT trong đời sống, xã hội và việc làm.
Còn đối với các dạng khuyết tật khác như khuyết tật nhìn, khuyết tật trí
tuệ cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống NKT. Đối với những người
không thể nhìn thấy thì việc họ tham gia vào đời sống xã hội cũng như học
tập gặp rất nhiều khó khăn, do không thể nhìn thấy nên họ không thể biết
được về cuộc sống xung quanh chính mình, họ bị hạn chế khi giao lưu, tiếp
xúc với xã hội cũng cách họ tiếp cận với những gì đang xảy ra trong chính
môi trường sống của họ. Mặc dù hiện nay,việc học tập của những người
khuyết tật về nhìn đã được khắc phục phần nào do họ đã có chữ viết riêng,
việc học tập của những người khuyết tật phần nào đã được quan tâm, xã hội
cũng đã có những chính sách ưu tiên, quan tâm tạo điều kiện cho họ tiếp cận
với chữ viết, hệ thống các trường học cũng đã có những chương trình riêng
hội đều là con người và họ phải được tôn trọng, bình đẳng như nhau trong
đồi sống xã hội.
Vì vậy, việc bảo vệ quyền của NKT là đương nhiên, bởi bản thân
những NKT là công dân của một đất nước và họ cũng là chủ thể của pháp
luật, họ có quyền và nghĩa vụ bình đẳng với tất cả mọi người khác được sinh
ra trong xã hội đó. Mặc dù bản thân những NKT họ phải mang trong mình
những kiếm khuyết không mong muốn nhưng bản thân họ cũng là một con
người, họ cũng có những thế mạnh riêng của chính bản thân mình, nếu chúng
ta giúp đỡ họ có thể phát huy được thế mạnh đó thì chính những NKT họ có
thể tự nuôi sống chính bản thân mình, có thể tự tham gia vào các hoạt động xã
hội mà không còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội như chúng ta vẫn
thường nghĩ khi nói đến NKT. Bản thân những NKT đã được pháp luật công
nhận là một chủ thể của pháp luật thì họ cần được xã hội và Nhà nước đảm
15
bảo phải thực hiện được tất cả các quyền mà một chủ thể pháp luật có như
những quyền về học tập, lao động, việc làm, kết hôn, Bởi vì có đảm bảo
được rằng NKT họ có đầy đủ các quyền đó thì chúng ta mới thực sự làm đúng
tinh thần của pháp luật là coi người khuyết tật cũng là chủ thể của pháp luật.
Việc bảo vệ quyền của NKT cũng là việc rất cần thiết trong việc tạo
điều kiện cho NKT thực sự tham gia hội nhập vào đời sống văn hóa – xã hội
cũng như chính trị, giúp họ hòa nhập cộng đồng nhanh hơn đồng thời tạo
những điều kiện tốt nhất để NKT thực sự tiếp cận và phát huy những gì mà họ
có thể làm để có thể tự nuôi sống, chăm lo cho bản thân và gia đình mình, họ
có thể hoàn toàn tự chủ được trong đời sống của mình mà không cần phải trở
thành gánh nặng cho gia đình và xã hội, họ có thể tự chăm lo được cho cuộc
sống của riêng mình, giảm bớt được gánh nặng cho gia đình và xã hội, và một
khi có thể tham gia vào đời sống xã hội như những người bình thường khác
thì chính bản thân những NKT họ sẽ cảm thấy tự tin hơn, họ thấy mình có ích
cho xã hội, được xã hội quan tâm và coi trọng, họ sẽ thoát khỏi cảm giác mặc
cảm, tự ti vốn có của NKT từ đó họ sẽ phát huy tốt những gì mà họ có để
Đặc điểm của nhóm quyền dân sự này chỉ thái độ thụ động của nhà
nước trong hầu hết các trương hợp, không cần chủ động thực hiện các biện
pháp hỗ trợ mà chỉ đơn thuần là kiềm chế không can thiệp vào việc thụ hưởng
các quyền này của cá nhân, tuy nhiên trong một số trường hợp nhà nước cũng
phải thực hiện các nghĩa vụ chủ động để đảm bảo thực hiện hóa các quyền
này, việc bảo đảm thực hiện các quyền dân sự không đòi hỏi tiêu tốn nhiều
nhân lực, vật lực, nên các quốc gia có thể và cần phải thực hiên ngay.
Qua đây ta thấy để bảo vệ các quyền dân sự của NKT thì việc ban hành
các quy định pháp luật phù hợp với đối tượng NKT, tạo hành lang pháp lí cho
17
việc thực hiện một cách nghiêm túc các quyền này là một trong những yêu
cầu quan trọng trong quá trình bảo vệ và thúc đẩy các quyền dân sự của bản
thân NKT.
Đối với những NKT thì chính thái độ kì thị của xã hội là một rào cản
rất lớn đẩy những NKT ra khỏi các hoạt động xã hội, tách biệt những NKT
thành những đối tượng, những gánh nặng chung của xã hội. Chính vì vậy,
thay đổi cuộc sống NKT trước tiên bắt đầu từ thay đổi trong nhận thức của xã
hội. Trong thời gian dài NKT mới chỉ được coi là đối tượng của tình thương,
việc bảo vệ, hỗ trợ chủ yếu dựa trên cách tiếp cận của lòng nhân ái chứ không
bắt nguồn từ nhận thức rằng họ cũng là chủ thể của quyền, bản thân NKT
cũng là một công dân bình đẳng cũng mang quyền và nghĩa vụ như những
công dân khác. Và chính là những công dân của xã hội nên các đối tượng
khác còn lại phải luôn có nghĩa vụ phải tôn trọng và bảo đảm cho NKT được
thực hiện các quyền công dân đó. Chính vì những suy nghĩ không tôn trọng,
kì thị NKT mà đã làm cho NKT không những không có đầy đủ các quyền con
người mà thêm vào đó còn ngăn cản họ tham gia, hội nhập có hiệu quả vào
đời sống xã hội.
Cùng với những thay đổi về nhận thức thì trong các văn bản pháp lý
của quốc tế và từng quốc gia đã có những quy định cụ thể dành riêng để bảo
vệ quyền lợi của người khuyết tật.
bình đẳng của họ, Công ước của UN còn quy định trách nhiệm của các quốc
gia thành viên trong việc đảm bảo thực hiện quyền này cho người khuyết tật.
Theo đó các quốc gia cần:
Tiền hành các biện pháp phù hợp với nghĩa vụ của mình theo
luật quốc tế, trong đó có luật nhân đạo quốc tế và luật quốc tế về
19