I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
PHAN THI PHNG THANH
BảO Vệ, THúC ĐẩY MộT Số QUYềN DÂN Sự
CủA NGƯờI KHUYếT TậT ở VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Phỏp lut v Quyn Con Ngi
Mó s: Chuyờn ngnh o to thớ im
LUN VN THC S LUT HC
Can bụ hng dn khoa hc: PGS. TS. HA THI MAI HIấN
H NI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
Phan Thị Phƣơng Thanh
1.2.1.
Nội dung các quyền dân sự cơ bản của ngƣời khuyết tật trong luật quốc tế .....17
1.2.2.
Vấn đề nội luật hóa các điều ƣớc quốc tế về quyền của Ngƣời khuyế t
tâ ̣t ở Việt Nam .............................................................................................30
1.3.
CÁC BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY VÀ BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ CỦA
NGƢỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM ..........................................................36
1.3.1.
Biện pháp xã hội ..........................................................................................37
1.3.2.
Biện pháp kinh tế.........................................................................................44
1.3.3.
Biện pháp pháp lí .........................................................................................45
1.4.
CÁC CƠ CHẾ QUỐC TẾ VÀ QUỐC GIA VỀ BẢO VỆ VÀ THÚC ĐẨY
CÁC QUYỀN DÂN SỰ CỦA NGƢỜI KHUYẾT TẬT...................................48
2.1.4.
Quyền bảo trợ xã hội đối với Ngƣời khuyế t tâ ̣t ..........................................66
2.2.
THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUYỀN DÂN SỰ CƠ BẢN CỦA
NGƢỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM ...............................................................69
2.2.1.
Về quyền đƣợc chăm sóc sức khỏe, y tế và phục hồi chức năng chỉnh hình ....70
2.2.2.
Việc thực hiện quyền trợ giúp pháp lí cho Ngƣời khuyế t tâ ̣t ......................70
2.2.3.
Trong việc tiếp cận các công trình công cộng, công nghệ thông tin của
2.2.4.
Ngƣời khuyế t tâ ̣t ..........................................................................................71
Về vấn đề hôn nhân và gia đình ..................................................................72
2.2.5.
Về vấn đề bảo trợ xã hội .............................................................................72
3.3.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƢỜNG HIỆU QUẢ THỰC HIỆN
VÀ BẢO VỆ CÁC QUYỀN DÂN SỰ CỦA NGƢỜI KHUYẾT TẬT Ở
VIỆT NAM ...................................................................................................82
KẾT LUẬN ..............................................................................................................85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................87
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CRC
: Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em
ĐHĐ
: Đại hội đồng
ECOSO
: Hội đồng kinh tế và xã hội
HĐBA
: Hội đồng Bảo an
HĐQT
: Văn phòng cao uỷ Liên hợp quốc về ngƣời tị nan
UNESCO
: Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá của Liên
hợp quốc
UNHRC
: Hội đồng quyền con ngƣời Liên hợp quốc
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mọi sự vật, hiện tƣợng hoặc một thực thể nào đó trong thế giới tự nhiên
và xã hội đều có những khiếm khuyết nào đó, dù ở mức độ ít hay nhiều, trong
thời gian dài hay ngắn. Xã hội nào cũng có những ngƣời bị khuyết tật. Trong
xã hội văn minh, với tƣ cách là một đối tƣợng yếu thế trong đời sống xã hội,
ngƣời khuyết tật (NKT) có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân. Nhà nƣớc và xã hội luôn dành sự quan tâm để có những chính sách an
sinh xã hội cho ngƣời bị khuyết tật. Tuy nhiên, do những điều kiện chủ quan
và khách quan, NKT vẫn đang bị phân biệt đối xử và gặp khá nhiều khó khăn
trong việc thực hiện các quyền chủ thể của mình, cũng nhƣ trong quá trình
hòa nhập với cộng đồng.
Trƣớc đây, trong một thời gian dài nhận thức của xã hội về NKT là
chƣa đúng và họ coi NKT là những đối tƣợng của lòng thƣơng hại, xem họ là
những đối tƣợng không may mắn trong xã hội, vì vậy mà nhiều ngƣời còn có
thái độ miệt thị, khinh bỉ, xa lánh những NKT làm cho những NKT lại càng bị
tổn thƣơng nhiều hơn. Chính vì vậy mà trong thời gian dài những NKT không
đƣợc xã hội tôn trọng và các quyền lợi của họ với tƣ cách là một công dân đã
thúc đẩy quyền dân sự của ngƣời khuyết tật; tìm hiểu các quy định của pháp
luật Việt Nam và một số nƣớc trên thế giới về quyền dân sự của NKT, phân
tích và đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền dân sự cho
NKT, trên cơ sở đó đƣa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy
và bảo vệ các quyền dân sự cho NKT, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về
các quyền dân sự cho NKT ở Việt Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, tác giả không có tham vọng nghiên cứu hết tất cả
các quyền dân sự của ngƣời khuyết tật, mà chỉ tập trung về bảo vệ và thúc đẩy
2
một số quyền dân sự của ngƣời khuyết tật, với mục đích đó luận văn tập trung
tìm hiểu một số vấn đề nhƣ: Quyền dân sự của ngƣời khuyết tật, một số quyền
dân sự cụ thể của ngƣời khuyết tật, làm thế nào để bảo vệ và thúc đẩy quyền
dân sự của ngƣời khuyết tật ở Việt Nam trong thực tiễn, tìm ra các giải pháp
để bảo vệ và thúc đẩy các quyền dân sự đó trên thực tế,...
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, tác giả chủ yếu vận dụng phƣơng pháp luận của
chủ nghĩa Mác-Lê Nin. Cụ thể là, phƣơng pháp duy vật biện chứng và
phƣơng pháp duy vật lịch sử. Đây là phƣơng pháp luận xuyên suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và các quan điểm pháp luật, đƣờng lối, chủ
trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về quyền dân sự cho NKT cũng là
cơ sở lý luận soi sáng cho việc phân tích và nghiên cứu đề tài.
Ngoài ra, tác giả luận văn còn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ
thể nhƣ: Phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp tổng hợp, phƣơng pháp so
sánh, phƣơng pháp lịch sử, phƣơng pháp logic và phƣơng pháp bình luận.
5. Tính mới và những đóng góp của đề tài
SỰ CỦA NGƢỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM QUYỀN DÂN SỰ CỦA NGƢỜI KHUYẾT TẬT VÀ SỰ
CẦN THIẾT THÚC ĐẨY, BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ CỦA NGƢỜI KHUYẾT
TẬT Ở VIỆT NAM
1.1.1. Khái niệm quyền dân sự của Ngƣời khuyế t tâ ̣t
1.1.1.1. Khái niệm Người khuyế t tâṭ
Con ngƣời là một thực thể tự nhiên và xã hội, phát sinh, phát triển dƣới
sự tác động của các quy luật tự nhiên và xã hội. Cũng nhƣ mọi thực thể khác,
con ngƣời cũng đƣợc sinh ra và tồn tại một cách đa dạng và có thể có những
đột biến, những rủi ro về tâm sinh lý, nên có thể bị khiếm khuyết, bị dị tật.
Tuy nhiên, trƣớc tạo hóa, con ngƣời luôn bình đẳng. Cùng với quá trình phát
triển của xã hội, con ngƣời đã xác định đƣợc những quy tắc xử sự chi phối
mọi hoạt động của các chủ thể biết tôn trọng và bảo đảm quyền tự do và bình
đẳng của con ngƣời. Điều 1 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con ngƣời
năm 1948 tuyên bố: “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng về nhân phẩm
và quyền. Mọi con người đều được tạo hóa ban cho lí trí và lương tâm và cần
đối xử với nhau trong tình bằng hữu” [11, Điề u 1].
Chính quy định này đã cho thấy rõ vị trí của mỗi ngƣời sinh ra trong xã
hội là hoàn toàn bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, không có sự phân
biệt đối xử giữa những ngƣời đƣợc sinh ra bình thƣờng và những ngƣời sinh
ra đã có khiếm khuyết. Nói một cách nôm na, ngƣời khuyết tật (NKT) là
ngƣời có khiếm khuyết và ngƣời bị tàn tật.
Trong pháp luật quốc tế về quyền con ngƣời, NKT thuộc nhóm ngƣời
5
dễ bị tổn thƣơng. Họ “dễ bị tổn thƣơng” trong cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng
hƣởng lợi từ phƣơng pháp khoa học nhƣ thuốc điều trị và các công nghệ cải
tiến chức năng. Mô hình y tế chú trọng vào việc trị liệu cá nhân chứ không
xem trọng việc trị liệu xã hội. Nhƣ vậy mô hình y tế nhìn nhận NKT là vấn đề
đƣa ra và đƣa ra giải pháp để làm ngƣời đó “bình thƣờng”.
Với quan điểm này xã hội đã coi NKT là những ngƣời có vấn đề về thể
chất và cần phải chữa trị. Do đó đã đẩy những NKT vào thế bị động của
ngƣời bệnh.
b. Quan điểm khuyết tật theo mô hình xã hội
Đây đƣợc coi là nền tảng của những chuyển biến của vấn đề NKT. Ở
đây, NKT đƣợc nhìn nhận là hệ quả bị xã hội phân biệt. Bởi vì xã hội đƣợc tổ
chức không tốt nên NKT bị phân biệt đối xử.
Từ những quan điểm khác nhau thì mỗi quốc gia có một cách nhìn nhận
riêng và có cách hiểu riêng về định nghĩa NKT riêng đƣợc ghi nhận trong
pháp luật quốc gia đó.
Trong điều 2 Luật của nƣớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ
ngƣời khuyết tật năm 1990:
Ngƣời khuyết tật là một trong những ngƣời bị bất thƣờng,
mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng, tâm lí hay
sinh lí, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những ngƣời đã mất toàn
bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động một cách
bình thƣờng.
Ngƣời khuyết tật là những ngƣời có thính giác, thị giác, lời
nói hoặc khuyết tật về thể chất, chậm phát triển tâm thần, rối loạn
tâm thần, khuyết tật nhiều và/ hoặc khuyết tật khác [4, Điề u 2].
Còn theo quy định trong khoản 1 Điều 1 Công ƣớc số 159 của ILO về
phục hồi chức năng lao động và việc làm của NKT năm 1983, quy định: “Người
khuyết tật dùng để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ
7
Theo Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 của UN thì
quyền dân sự, chính trị của mỗi con ngƣời đƣợc xem là giá trị của tất cả mọi
ngƣời mà nhà nƣớc phải tôn trọng và bảo vệ. Theo đó, ta có thể hiểu Quyền
dân sự là những quyền gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao
cho ngƣời khác đƣợc nhƣ quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân, quyền
không bị bắt làm nô lệ, quyền không bị tra tấn, quyền đƣợc đối xử nhân đạo,
quyền kết hôn và xây dựng gia đình, quyền có tài sản riêng... Đây là những
quyền quan trọng của mỗi công dân và bản thân những NKT cũng là những
công dân bình thƣờng nên họ cũng có đầy đủ các quyền này, các quyền này
của NKT cũng đƣợc nhà nƣớc tôn trọng, bảo vệ và tạo những điều kiện thuận
lợi nhất để NKT thực hiện đƣợc các quyền này một cách tốt nhất.
Trong lịch sử nhân quyền thì các quyền dân sự ra đời khá sớm, trong các
văn kiện pháp luật của các nƣớc từ thời xa xƣa đã chứa đựng nhiều nội dung
quy định về việc bảo vệ các quyền sống, quyền an toàn cá nhân,...Sau khi UN
ra đời và thông quan bản Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền đã càng
khẳng định các quyền phổ quát cho toàn nhân loại, trong đó ghi nhận các quyền
dân sự bên cạnh các quyền khác của con ngƣời. Về sau các quyền này đƣợc tái
khẳng định và cụ thể hóa trong nhiều văn kiện quốc tế khác mà đặc biệt là
trong Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) năm 1966.
Các quyền dân sự cụ thể đƣợc quy định trong Công ƣớc quốc tế về các
quyền dân sự, chính trị (ICCPR) năm 1966 áp dụng chung cho tất cả mọi
ngƣời trong đó bao gồm cả nhóm NKT, bao gồm các quyền nhƣ: Quyền
không bị phân biệt đối xử, đƣợc thừa nhận và bình đẳng trƣớc pháp luật;
Quyền sống, tự do và an ninh cá nhân; Quyền về xét xử công bằng; Quyền về
tự do đi lại, cƣ trú; Quyền đƣợc bảo vệ đời tƣ; Quyền tự do tƣ tƣởng, tín
ngƣỡng, tôn giáo; Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân;
Đây là các quyền cá nhân cơ bản của mỗi công dân.
Các quyền dân sự này có những đặc điểm riêng so với các quyền khác.
10
nhóm ngƣời khuyết tật nói chung lại có những nét đặc thù so với nhóm ngƣời
không khuyết tật và mỗi nhóm NKT dạng này lại có những nét đặc thù so với
nhóm NKT dạng khác.
Vì mang trong mình những khiếm khuyết nên NKT có đời sống khó
khăn hơn với những nhóm ngƣời khác trong xã hội, đây là nhóm dân cƣ đặc
biệt phải chịu thiệt thòi về mặt kinh tế - xã hội. Những gia đình có NKT
thƣờng họ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống vì họ điều kiện kinh tế khó
khăn do phải nuôi dƣỡng và chăm lo cho cuộc sống của NKT. Học vấn của
bản thân NKT và thành viên trong gia đình NKT thƣờng không cao, do bản
thân NKT gặp những khó khăn về thể chất hoặc trí tuệ ảnh hƣởng đến khả
năng tiếp thu học vấn cũng nhƣ những khó khăn về mặt kinh tế nên không có
khả năng theo học. Tài sản của NKT thƣờng nghèo nàn, thu nhập của NKT
thƣờng ở mức độ thấp, vì vậy điều kiện sống và sinh hoạt là không tốt, ảnh
hƣởng xấu đến cuộc sống, sức khỏe, phúc lợi xã hội của các thành viên trong
gia đình NKT. Ngoài ra những NKT đến tuổi trƣởng thành rất khó có việc
làm, vì NKT họ khó tìm đƣợc việc làm phù hợp với dạng khuyết tật của mình
cũng nhƣ xã hội chƣa tạo đƣợc nhiều điều kiện việc làm cho NKT.
Vì tình trạng khuyết tật nên NKT phải gánh chịu nhiều thiệt thòi trong
mọi mặt đời sống. Khuyết tật là nguyên nhân chính gây ra nhiều khó khăn cho
NKT trong việc thực hiện các công việc sinh hoạt hàng ngày, trong giáo dục,
việc làm, tiếp cận các dịch vụ y tế, kết hôn, sinh con hay tham gia vào các
hoạt động của đời sống xã hội. Để làm đƣợc những việc này, NKT không thể
tự mình làm đƣợc mà phải dựa vào những ngƣời thân trong gia đình.
Vì tình trạng khuyết tật của mình NKT còn bị phải đối diện với thái độ
coi thƣờng, miệt thị của nhiều ngƣời trong xã hội đối với tình trạng khuyết tật
của họ. Quan niệm của xã hội đối với NKT vẫn còn tiêu cực, nhiều ngƣời trong
tham gia. Do hoàn cảnh khuyết tật hoặc các yếu tố khác về kinh tế, môi
trƣờng,... nên nhiều ngƣời không có điều kiện để rèn luyện, khắc phục những
12
hạn chế ngay từ sớm, khiến họ không thể hòa nhập đƣợc. Điều này làm cho
họ cảm thấy thiếu tự chủ, thiếu tự tin trong giao tiếp với ngƣời xung quanh –
tình trạng sẽ tồi tệ hơn nếu mọi ngƣời trong xã hội lại có thái độ coi thƣờng,
chế diễu NKT.
Đối với những trƣờng hợp bị khuyết tật vận động thì họ gặp những
khó khăn trong việc di chuyển nên họ rất cần sự giúp đỡ của ngƣời khác
cũng nhƣ các vật dụng y tế hiện đại nhƣ xe lăn, gậy,...trong quá trình di
chuyển của mình. Vì không thể tự đi lại nên những NKT vận động này khó
khăn trong việc tham gia vào các hoạt động của đời sống xã hội, vui chơi và
học tập. Đối với những trƣờng hợp này rất cần sự chung tay của xã hội trong
việc hỗ trợ NKT về thiết bị cũng nhƣ các cơ sở vật chất thuận lợi cho họ
trong quá trình đi lại của họ, cần có những xây dựng riêng về việc làm, khu
vui chơi giải trí, xe cộ dành riêng, thuận lợi cho những đối tƣợng này để họ
dễ dàng di chuyển đƣợc.
Một dạng khuyết tật khác đó là khuyết tật về nghe, nói. Đây là những
ngƣời gặp khó khăn khi giao tiếp với ngƣời xung quanh bằng ngôn ngữ, từ đó
họ bị hạn chế về khả năng tiếp thu trong quá trình học tập, làm việc. Để
những NKT trong trƣờng hợp này có thể tham gia vào đời sống xã hội họ cần
có ngôn ngữ, kí hiệu riêng cũng nhƣ công cụ đặc thù nhƣ máy trợ thính giúp
họ có thể nghe đƣợc. Hiện nay, việc giao tiếp bằng ngôn ngữ của ngƣời bị
câm cũng đang ngày càng đƣợc nhiều ngƣời học tập để có thể giao tiếp đƣợc
với họ, tuy nhiên ngôn ngữ kí hiệu cũng có nhiều hạn chế vì không thể phản
ánh đƣợc đầy đủ tính chất, mức độ các hoạt động cuộc sống nhƣ tiếng nói hay
chữ viết, nó không thể phản ánh hết đƣợc những gì mà bản thân NKT mong
một nhóm thiểu số nhƣng họ lại là bộ phận dân cƣ cấu thành nên cộng đồng
xã hội, những NKT họ đang nỗ lực để phát huy tốt những gì mà họ có để
tham gia vào chính đời sống của toàn xã hội. Cùng với sự giúp đỡ của xã hội
về việc tạo điều kiện để NKT hạn chế đƣợc các nhƣợc điểm mà họ đang mang
để họ hòa nhập với đời sống cộng đồng và trở thành thành viên quan trọng
14
của đời sống xã hội sẽ là động lực quan trọng giúp cho chính bản thân những
NKT họ thêm hiểu đƣợc giá trị của chính bản thân họ, để xóa đi cái mặc cảm
khuyết tật của mình và vƣơn lên trong cuộc sống, tự chủ chính cuộc sống của
mình nhƣ những ngƣời bình thƣờng trong xã hội. Chính vì vậy mà những
NKT họ cũng có những quyền và nghĩa vụ ngang bằng với những ngƣời bình
thƣờng khác trong xã hội.
Mặc dù trƣớc đây trong một thời gian dài, chúng ta coi NKT là đối
tƣợng của các bảo trợ xã hội cần đƣợc nâng đỡ và giúp đỡ nhƣng ngày nay
với thay đổi trong nhận thức của chính chúng ta thì đã nhìn nhận NKT là
một bộ phận không thể thiếu trong xã hội và pháp luật cũng đã có nhiều
quy định có tính pháp lý cao tôn trọng NKT dƣới góc độ quyền con ngƣời.
Điều đó chứng tỏ một điều quan trọng rằng mỗi con ngƣời sinh ra trong xã
hội đều là con ngƣời và họ phải đƣợc tôn trọng, bình đẳng nhƣ nhau trong
đồi sống xã hội.
Vì vậy, việc bảo vệ quyền của NKT là đƣơng nhiên, bởi bản thân
những NKT là công dân của một đất nƣớc và họ cũng là chủ thể của pháp
luật, họ có quyền và nghĩa vụ bình đẳng với tất cả mọi ngƣời khác đƣợc sinh
ra trong xã hội đó. Mặc dù bản thân những NKT họ phải mang trong mình
những kiếm khuyết không mong muốn nhƣng bản thân họ cũng là một con
ngƣời, họ cũng có những thế mạnh riêng của chính bản thân mình, nếu chúng
ta giúp đỡ họ có thể phát huy đƣợc thế mạnh đó thì chính những NKT họ có
cũng là sự đóng góp chung của từng cá nhân trong xã hội đó mà không phân
biệt gì, trong một xã hội mà tất cả mọi ngƣời cùng bình đẳng với nhau thì xã
hội đó mới có thể phát triển đều đƣợc. Việc pháp luật tôn trọng và bảo vệ
quyền của NKT nhƣ những chủ thể khác thể hiện sự quan tâm của Nhà nƣớc
đối với mọi thành phần trong xã hội cũng nhƣ Nhà nƣớc đó đang đi trong xu
thế phát triển chung của toàn nhân loại, coi trọng quyền của những NKT, có
nhiều biện pháp để tôn trọng và bảo vệ quyền của NKT cũng là một cách để
16
nhà nƣớc tôn trọng vị thế của mình trong trƣờng quốc tế chung và tôn trọng
lịch sử giáo dục của chính đất nƣớc mình
1.2. NỘI DUNG CÁC QUYỀN DÂN SỰ CỦA NGƢỜI KHUYẾT TẬT
TRONG LUẬT QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ NỘI LUẬT HÓA CÁC ĐIỀU ƢỚC
QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM
1.2.1. Nội dung các quyền dân sự cơ bản của ngƣời khuyết tật trong
luật quốc tế
Theo công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR,1966)
thì các quyền dân sự của cá nhân nói chung cũng nhƣ quyền dân sự của NKT
bao gồm các quyền chủ yếu nhƣ: quyền sống, quyền không bị tra tấn, quyền
tự do không bị buộc làm nô lệ hay nô dịch, quyền tự do và an toàn cá nhân,
quyền đƣợc đối xử nhân đạo của ngƣời bị tƣớc tự do, cấm phạt tù vĩ nghĩa vụ
dân sự, quyền tự do đi lại và cƣ trú, quyền về thủ tục khi bị trục xuất, quyền
về xét xử công bằng, cấm áp dụng luật hồi tố, quyền đƣợc thừa nhận là thể
nhân trƣớc pháp luật, quyền bảo vệ sự riêng tƣ, quyền tự do tƣ tƣởng, lƣơng
tâm và tôn giáo; quyền tự do biểu đạt, bảo vệ gia đình, bảo vệ trẻ em.
Đặc điểm của nhóm quyền dân sự này chỉ thái độ thụ động của nhà
nƣớc trong hầu hết các trƣơng hợp, không cần chủ động thực hiện các biện
vệ quyền lợi của ngƣời khuyết tật.
Ngay từ khi ban hành những văn bản pháp lý đầu tiên, UN luôn
khẳng định sự thiết yếu của việc tôn trọng và thực hiện các quyền và tự
do cơ bản của tất cả mọi ngƣời và không phân biệt thành phần, tôn giáo,
hay tín ngƣỡng,... các quyền của NKT đƣợc đặt trên cơ sở các quy định
phổ quát đó.
Trong hệ thống các văn bản pháp lí quốc tế về quyền của NKT, các văn
kiện ghi nhận quyền của NKT có ý nghĩa quan trọng bậc nhất. Với bản công
ƣớc mới năm 2006 của UN dành riêng cho NKT phản ánh sự thay đổi về
phƣơng pháp tiếp cận, các quyền của NKT đã đƣợc đề cập vừa khái quát vừa
toàn diện. UN yêu cầu các quốc gia thành viên phải thực thi những biện pháp
thích hợp để đảm bảo thực hiện những quyền đó.
18
Trong những quyền của NKT thì quyền dân sự của NKT có thể đƣợc
chia thành các nhóm quyền sau:
1.2.1.1. Nhóm quyền được sống và được đối xử bình đẳng
a. Quyền được sống.
Đây là quyền cơ bản của mỗi con ngƣời, và NKT không nằm ngoài quy
luật của quyền này. Quyền đƣợc sống của NKT đƣợc đề cập tại Điều 10 của
Công ƣớc về quyền của NKT: “Các quốc gia thành viên tái khẳng định rằng
mọi người đều có quyền được sống và sẽ tiến hành tất cả các biện pháp cần
thiết để đảm bảo người khuyết tật được thực sự thụ hưởng quyền này trên cơ sở
bình đẳng với những người khác” [13, Điề u 10].
Quyền đƣợc sống có thể coi nhƣ quyền hiển nhiên nhất của tất cả mọi
ngƣời trên thế giới nhƣng đối với NKT việc khẳng định quyền này là vấn đề
đặc biệt có ý nghĩa. Bởi vì bản thân NKT họ gặp nhiều khó khăn trong quá
trình sinh hoạt, bị xã hội kì thị, phân biệt đối xử, cho rằng NKT là gánh nặng
quan tâm, tôn trọng nhƣ nhau. Điều này đã đƣợc khẳng định từ rất lâu và
đã đƣợc ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lí quan trọng. Bản thân NKT
cũng đƣợc coi là công dân của một quốc gia, là một chủ thể quyền nên về
mọi mặt đời sống xã hội NKT luôn có sự bình đẳng tất cả những công dân
khác trong xã hội.
Quyền bình đẳng của NKT đƣợc phản ánh ở nhiều khía cạnh, bao gồm:
Thứ nhất: Sự bình đẳng về địa vị xã hội mà sự thể hiện trƣớc hết là bình
đẳng trƣớc pháp luật và đƣợc pháp luật bảo vệ bình đẳng với ngƣời khác. Pháp
luật quốc tế khẳng định NKT có quyền đƣợc công nhận ở tất cả mọi nơi là
những con ngƣời trƣớc pháp luật, năng lực pháp lí của NKT phải đƣợc công
nhận trên cơ sở bình đẳng nhƣ công dân khác trong mọi mặt của đời sống.
Sự bảo vệ này bảo đảm rằng những biện pháp có liên quan tới việc thực
hiện năng lực pháp lí sẽ tôn trọng quyền, ý nguyện và sở thích của NKT,
không bị tranh chấp về quyền lợi và cũng không chịu ảnh hƣởng.
20