1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT ĐẶNG THU HẰNG PHÁP LUẬT VỀ THỎA THUẬN TRỌNG
TÀI Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: TS Nguyễn Am Hiểu HÀ NỘI - 2014 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN
Lời cam đoan
1
Lời cảm ơn
2
Mục lục
3
MỞ ĐẦU
5
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật
về thỏa thuận trọng tài
10
1.1
Khái quát về Trọng tài Thương mại
10
1.1.1
Khái niệm Trọng tài Thương mại
10
1.1.2
Đặc điểm của Trọng tài Thương mại
11
1.1.3
Khái lược sự hình thành, phát triển của trọng tài trong lịch
sử pháp luật Việt Nam
13
1.2
46
2.1.3
Các quy định khác về thỏa thuận trọng tài
47
2.2
Thực tiễn áp dụng pháp luật về thỏa thuận trọng tài ở Việt Nam
49
2.2.1
Thực tiễn áp dụng pháp luật về thỏa thuận trọng tài thông qua
một số vụ việc cụ thể
49
2.2.2
Thực tiễn áp dụng pháp luật về thỏa thuận trọng tài ở Việt Nam
57 6
Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật
về thỏa thuận trọng tài và nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật về thỏa thuận trọng tài ở Việt Nam
68
3.1
Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về thỏa thuận
trọng tài ở Việt Nam
68
3.2
Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về
thỏa thuận trọng tài ở Việt Nam
72
áp dụng đó là các tổ chức Trọng tài Thương mại, Tòa án và đặc biệt là các
doanh nghiệp có tranh chấp yêu cầu trọng tài giải quyết.
Trong bối cảnh như vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Pháp luật về thỏa
thuận trọng tài ở Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ với mong muốn nghiên
cứu, tìm ra những điểm còn thiếu sót, những điểm chưa phù hợp của Luật
Trọng tài Thương mại 2010, để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện 8
quy định của pháp luật về thỏa thuận trọng tài và nâng cao hiệu quả áp dụng
quy định về thỏa thuận trọng tài vào thực tế.
Tình hình nghiên cứu
"Pháp luật về thỏa thuận trọng tài ở Việt Nam" là đề tài đã được
nhiều tác giả nghiên cứu và cho ra đời những tác phẩm giá trị: Tiến sĩ Đỗ Văn
Đại và tiến sĩ Trần Hoàng Hải với cuốn sách "Pháp luật Việt Nam về Trọng
tài Thương mại"; Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam với "Trọng tài và các
phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn"; Bộ Tư pháp cũng có đăng một
số chuyên đề "Pháp luật về Trọng tài Thương mại" trên tạp chí Dân chủ và
pháp luật năm 2010; Bài viết "Giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng
tài ở Việt Nam" - TS. Đỗ Văn Đại – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. Ngoài ra
có rất nhiều tác giả đã chọn đề tài này làm đề tài viết khóa luận tốt nghiệp
như: Khóa luận tốt nghiệp "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thỏa thuận
trọng tài đối với giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Thương mại tại Việt
Nam" của Nguyễn Thị Thu thảo - Lớp KT31H - Đại học Luật Hà Nội; Khóa
luận tốt nghiệp "Những điểm mới của Luật Trọng tài Thương mại năm 2010
về thỏa thuận trọng tài và những vấn đề đặt ra" của Mỵ Duy Thanh - CN3
QTKD - Đại học Ngoại Thương - Giáo viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Ngọc
Hà; Khóa luận tốt nghiệp "Pháp luật về thỏa thuận Trọng tài Thương mại"
của Tống Thị Lan Hương - Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Viết Tý và
các bài viết của nhiều tác giả khác.
- Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về thỏa thuận trọng tài
và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thỏa thuận trọng tài ở Việt
Nam: Từ những nhận xét về thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp
dụng pháp luật về thỏa thuận trọng tài ở Việt Nam, đề ra giải pháp nhằm hoàn 10
thiện các quy định của pháp luật liên quan đến thỏa thuận trọng tài và những
biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về thỏa thuận trọng tài ở
Việt Nam.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở:
- Phương pháp luận của Triết học Mác - Lênin;
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích,
phương pháp logic, phương pháp tổng hợp, hệ thống, phương pháp bình luận.
Những điểm mới của luận văn
Hệ thống được những quy định của pháp luật hiện hành về thỏa thuận
trọng tài, đồng thời có sự so sánh với quy định của Luật Mẫu và pháp luật của
một số nước trên thế giới để thấy được sự kế thừa và sự khác biệt giữa pháp
luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về thỏa thuận trọng tài, nhận định những
điểm còn hạn chế trong quy định về thỏa thuận trọng tài theo Luật Trọng tài
Thương mại 2010. Từ đó, đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện thêm các
quy định về thỏa thuận trọng tài. Ngoài ra, luận văn còn nhận xét về thực tiễn
áp dụng quy định về thỏa thuận trọng tài ở Việt Nam hiện nay, những thành
tựu đạt được và những hạn chế còn tồn tại, qua đó tìm ra những phương
hướng nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về thỏa thuận trọng tài ở
Việt Nam trong thời gian tới.
Cơ cấu luận văn
Luận văn được chia làm 03 (ba) phần lớn:
thi hành”.
Pháp luật trọng tài Việt Nam cũng có quy định tương tự về khái niệm
này: Khoản 1, Điều 2 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003 ghi nhận: "Trọng
tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương
mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự thủ tục do pháp
lệnh quy định". Khoản 1, Điều 3, Luật Trọng tài Thương mại 2010 cũng quy
định: "Trọng tài Thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các
bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này" 13
Bên cạnh đó, trọng tài với tư cách là một cơ quan giải quyết tranh chấp
cũng là cách tiếp cận khá phổ biến. Theo từ điển tiếng Việt thì trọng tài là
“Người được cử ra để phân xử, giải quyết những vụ tranh chấp”.
Ngoài ra, khái niệm này còn được tiếp cận với tư cách là một chế định
pháp luật, theo cuốn Danh từ pháp luật lược giải thì trọng tài là “một chế định
cử tư nhân giải quyết sự bất hòa cho hai bên nguyên bị trong một vụ tranh
chấp”.
Như vậy, có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về trọng tài, tuy
nhiên khi nghiên cứu khái niệm này ta thường xem xét dưới hai góc độ chủ
yếu: là một hình thức giải quyết tranh chấp và là cơ quan giải quyết tranh chấp:
- Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh
doanh thương mại: Với tính chất là một phương thức giải quyết tranh chấp,
Trọng tài Thương mại được hiểu là phương thức, trong đó các bên tranh chấp
tự nguyện thỏa thuận với nhau để ủy thác việc giải quyết tranh chấp đã hoặc
sẽ phát sinh giữa họ cho trọng tài và trọng tài, trên cơ sở các tình tiết khách
quan của tranh chấp, được quyền đưa ra quyết định cuối cùng để giải quyết
tranh chấp và quyết định này có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên.
- Trọng tài là một cơ quan giải quyết tranh chấp: Trọng tài Thương
mại là cơ quan được thành lập tự nguyện bởi các trọng tài viên để giải quyết
- Trọng tài tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là: trọng tài vụ việc và
trọng tài thường trực. Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài được lập ra để
giải quyết các tranh chấp cụ thể và tự giải thể khi giải quyết xong tranh chấp 15
đó. Trọng tài thường trực là những tổ chức trọng tài có hình thức tổ chức, trụ
sở ổn định, danh sách trọng tài viên và hoạt động theo điều lệ riêng.
1.1.3 Khái lược sự hình thành, phát triển của trọng tài trong lịch sử
pháp luật Việt Nam
Ở nước ta, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đã được hình
thành từ khá lâu và trải qua các giai đoạn phát triển.
Vào năm 1963 và 1964, ở miền Bắc nước ta đã thành lập Hội đồng
trọng tài Ngoại thương và Hội đồng trọng tài Hàng hải Việt Nam bên cạnh
phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam. Vào những năm 1990 của thế
kỷ 20, một hệ thống trọng tài kinh tế từ huyện, tỉnh đến Trung Ương đã được
thành lập để giải quyết các tranh chấp chủ yếu giữa các xí nghiệp quốc doanh,
các hợp tác xã. Trọng tài kinh tế thực chất là những cơ quan hành chính Nhà
nước mà chưa thực hiện được vai trò đúng như tên gọi.
Năm 1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 116/CP, cho phép thành
lập tổ chức trọng tài kinh tế với tư cách là một tổ chức xã hội - nghề nghiệp
dưới hình thức Trung tâm Trọng tài Thương mại, tách biệt hẳn với trọng tài
kinh tế nhà nước. Đây là một bước ngoặt khi Nhà nước đã trả Trọng tài
Thương mại về đúng bản chất và chức năng của nó.
Để đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đưa hệ thống pháp luật
Việt Nam tiệm cận với pháp luật quốc tế, nâng cao tính minh bạch, chuyên
nghiệp cho hoạt động của các trung tâm Trọng tài Thương mại, Pháp lệnh
Trọng tài Thương mại 2003 được ban hành. Tuy nhiên, sau một quá trình áp
dụng vào thực tế, Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003 đã bộc lộ nhiều vấn
đề bất cập, hạn chế, bởi vậy, đến ngày 17/06/2010, Quốc Hội đã chính thức
17
hoặc có thể phát sinh ra giải quyết bằng trọng tài, còn các nội hàm về các
tranh chấp được thỏa thuận giải quyết bằng trọng tài là những tranh chấp nào?
Chủ thể của tranh chấp là những ai? Thỏa thuận trọng tài được xác lập dưới
những hình thức nào? lại được quy định riêng tại các điều luật khác.
Khoản 2, Điều 3, Luật Trọng tài Thương mại 2010 quy định: "Thoả
thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài
tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh"
Thỏa thuận trọng tài theo quy định tại Luật Trọng tài Thương mại 2010
là sự thỏa thuận của các bên về việc giải quyết các tranh chấp có thể sẽ xảy ra
trong tương lai hoặc tranh chấp đã xảy ra bằng con đường Trọng tài Thương
mại. Nội hàm khái niệm thỏa thuận trọng tài được phân tích như sau:
- Thời điểm xác lập thỏa thuận trọng tài
Theo quy định của Luật Trọng tài Thương mại 2010 thì tranh chấp
được giải quyết bằng Trọng tài Thương mại là “tranh chấp có thể phát sinh”
hoặc “đã phát sinh”. Như vậy, thời điểm hai bên thỏa thuận giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài có thể là trước khi tranh chấp giữa hai bên xảy ra hoặc
vào thời điểm sau khi tranh chấp đã xảy ra.
+ Trường hợp thỏa thuận trọng tài được xác lập trước khi tranh chấp
xảy ra:
Ví dụ: Công ty A mua hàng hóa của Công ty B, trong Hợp đồng mua
bán hàng hóa, hai bên có thỏa thuận về điều khoản giải quyết tranh chấp như
sau: "Mọi tranh chấp phát sinh hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải
quyết chung thẩm tại Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) theo quy
tắc tố tụng trọng tài của trung tâm này". 18
Tòa án rất rộng. Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm
quyền giải quyết của Toà án gồm:
Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa
cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi
nhuận bao gồm: mua bán hàng hoá; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện,
đại lý; ký gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn, kỹ thuật; vận
chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa;
vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; mua bán
cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảo
hiểm; thăm dò, khai thác.
Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá
nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các
thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải
thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định.
Khi Luật Trọng tài Thương mại 2010 không quy định cụ thể thế nào là
hoạt động thương mại thì thiết nghĩ, bất kỳ hoạt động nào được coi là hoạt
động thương mại trong một văn bản pháp luật khác ở Việt Nam đều thuộc
khái niệm "hoạt động thương mại" của Luật Trọng tài Thương mại 2010. Do
đó, tất cả những hoạt động được coi là hoạt động thương mại trong Luật
thương mại 2005 hay Bộ luật tố tụng dân sự đều thuộc khái niệm "hoạt động
thương mại" của Luật Trọng tài Thương mại 2010. Như vậy, các tranh chấp
phát sinh từ hoạt động này có thể được giải quyết bằng phương thức trọng tài.
+ Tranh chấp giữa các bên, trong đó có ít nhất một bên có hoạt động
thương mại: Loại tranh chấp này có thể xảy ra giữa: 20
Tranh chấp xảy ra giữa các bên trong đó một bên có hoạt động thương
Điều 7.1 Luật Mẫu quy định: "Thoả thuận trọng tài là thoả thuận mà
các bên đưa ra trọng tài mọi hoặc các tranh chấp nhất định phát sinh hoặc
có thể phát sinh giữa các bên về quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp
đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng".
Theo quy định của Luật Mẫu thì thỏa thuận trọng tài được chia thành
hai loại:
- Thỏa thuận trọng tài được xác lập trước khi tranh chấp phát sinh: thỏa
thuận trọng tài loại này được xác lập để giải quyết các tranh chấp "có thể phát
sinh" trong tương lai.
- Thỏa thuận trọng tài được xác lập sau khi tranh chấp phát sinh: thỏa
thuận trọng tài loại này được xác lập để giải quyết những tranh chấp đã phát
sinh giữa các bên.
Trong khi đó, Khoản 1, Điều 3, Luật Trọng tài Thương mại 2010 quy
định: "Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nếu trước hoặc sau khi xảy
ra tranh chấp các bên có thỏa thuận trọng tài".
Theo quy định trên, căn cứ vào thời điểm xác lập thỏa thuận trọng tài,
thỏa thuận trọng tài được phân chia thành hai loại là:
- Thỏa thuận trọng tài được xác lập trước khi tranh chấp phát sinh
Thỏa thuận trọng tài loại này thường có trong hợp đồng giữa các bên và
là một thỏa thuận để đưa các tranh chấp xảy ra trong tương lai ra trọng tài.
Điều khoản trọng tài thường có nội dung khá ngắn gọn, vì điều khoản trọng
tài liên quan đến các tranh chấp có thể phát sinh trong tương lai. Điều khoản 22
trọng tài thường không quá đi vào chi tiết vì rất khó biết chắc được loại tranh
chấp nào sẽ phát sinh và đâu là cách tốt nhất để giải quyết tranh chấp đó. Trên
thực tế, mặc dù trong hợp đồng hai bên luôn dự trù tình huống tranh chấp có
thể phát sinh nên đồng ý đưa vào hợp đồng một điều khoản trọng tài nhưng
thực chất cả hai bên đều không mong muốn tranh chấp xảy ra và không cần
1.2.3 Hình thức thỏa thuận trọng tài
* Hình thức của thỏa thuận trọng tài
Tất cả các công ước quốc tế về trọng tài cũng như Luật mẫu và hầu hết
luật trọng tài của các nước trên thế giới đều quy định một thỏa thuận trọng tài
phải được lập thành văn bản. Điều II Công ước New York quy định yêu cầu
thỏa thuận trọng tài được thể hiện dưới hình thức văn bản, Điều 7.2 Luật mẫu
cũng quy định: "Thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản" . Tuy
nhiên, định nghĩa "văn bản" lại được giải thích khác nhau.
Công ước New York định nghĩa "văn bản" như sau: thỏa thuận bằng
văn bản bao gồm một điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc một thỏa
thuận trọng tài được các bên ký hoặc có trong các thư từ hoặc điện tín trao
đổi. Tuy nhiên, kể từ khi Công ước New York ra đời năm 1958, đã có một
cuộc cách mạng trong truyền thông. Điện tín - một phương tiện truyền tin
bằng văn bản phổ biến đã được thay thế bằng telex, fax và bây giờ là thư điện tử.
Luật mẫu đã kịp thời cập nhật sự thay đổi về phương tiện liên lạc và có
sự tiến bộ hơn so với Công ước New York trong việc định nghĩa "văn bản",
Điều 7.2, Luật mẫu quy định: Thoả thuận là văn bản nếu nó nằm trong một
văn bản được các bên ký kết hoặc bằng sự trao đổi qua thư từ, Telex,
telegrams hoặc các hình thức trao đổi viễn thông khác mà ghi nhận thoả thuận 24
đó hoặc qua trao đổi về đơn kiện và bản biện hộ mà trong đó thể hiện sự tồn
tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận. Việc dẫn
chiếu trong hợp đồng tới một văn bản ghi nhận điều khoản trọng tài lập nên
thoả thuận trọng tài với điều kiện hợp đồng này phải là văn bản và sự dẫn
chiếu đó là một bộ phận của hợp đồng này. Vì vậy, theo Luật mẫu, bất cứ
phươg tiện viễn thông nào ghi nhận thỏa thuận đều thỏa mãn quy định về thỏa
thuận phải bằng văn bản. Khi một bên tham gia vào một quá trình tố tụng
trọng tài mà không phủ nhận sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài thì một thỏa
- Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản
giữa các bên.
Ví dụ: trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng, Công ty X và Công
ty Y có gửi công văn qua lại, trao đổi với nhau trong đó có nội dung ghi nhận
việc nếu có tranh chấp phát sinh từ hợp đồng hoặc liên quan đến hợp đồng
xảy ra thì Trọng tài Thương mại sẽ là tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh
chấp đó. Trong trường hợp này, thỏa thuận của Công ty X và Công ty Y được
ghi nhận trong các công văn qua lại là một hình thức thỏa thuận trọng tài.
- Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm
quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên.
Ví dụ: Ông A và Công ty B có ký kết hợp đồng cho thuê mặt bằng để
làm địa điểm kinh doanh. Trong quá trình thỏa thuận, ký kết hợp đồng, hai
bên đã đến Văn phòng công chứng X để công chứng hợp đồng cho thuê mặt
bằng, đồng thời yêu cầu công chứng viên ghi nhận lại việc hai bên thỏa thuận
giải quyết tranh chấp (nếu có) phát sinh bằng trọng tài. Khi đó, văn bản do
công chứng viên ghi chép lại ghi nhận ý chí thỏa thuận của các bên được coi
là một thỏa thuận trọng tài.