ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT TRẦN THỊ QUẾ CHI
QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP
KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Mã số : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Ngô Huy Cƣơng
HÀ NỘI – 2012
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan Mục lục Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt MỞ ĐẦU
Chuẩn mực kiểm toán va
̀
đạo đức nghề nghiệp ơ
̉
Viê
̣
t Nam
15
1.2.7.
Quản lý, giám sát hoạt động kiểm toán độc lập
19
1.2.8.
Doanh nghiệp kiểm toán
21
1.3.
Kiểm toán viên độc lập
35
1.3.1.
Chức danh kiểm toán viên ở một số nước trên thế giới
35
1.3.2
Tiêu chuẩn kiểm toán viên
36
1.3.3
Quy định kiểm toán viên bắt buộc là hội viên của tổ chức
nghề nghiệp
37
1.3.4
Cấp giấy chứng nhận đăng ký hành nghề cho kiểm toán
viên
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUY CHÊ
́
PHA
́
P LY
́
CU
̉
A
DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM
2.1.
Lịch sử hình thành và vai trò của hoạt động kiểm toán độc
lập ở Việt Nam
51
2.2.
Môi trường kiểm toán độc lập ở Việt Nam
53
2.2.1.
Môi trường pháp lý
53
2.2.2.
Môi trường cạnh tranh
54
2.3.
Chuẩn mực kiểm toán và đạo đức nghề nghiệp ở Việt Nam
57
2.3.1
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
77
2.5.3
Phạm vi hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam
78
2.5.4
Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam
79
2.5.5
Các trường hợp doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh
nghiệp kiểm toán nước ngoài không được thực hiện kiểm
toán ở Việt Nam
82
2.5.6
Đình chỉ, tạm ngừng và chấm dứt kinh doanh dịch vụ kiểm
toán
85
2.6.
Kiểm toán viên độc lập ở Việt Nam
88
2.6.1
Danh xưng kiểm toán viên ở Việt Nam
88
2.6.2
Tiêu chuẩn kiểm toán viên ở Việt Nam
89
2.6.3
Cấp giấy chứng nhận đăng ký hành nghề cho kiểm toán
viên
89
2.6.4
Kiểm toán báo cáo tài chính của đơn vị có lợi ích công
chúng ở Việt Nam
95
2.9.1.
Các đơn vị có lợi ích công chúng ở Việt Nam
96
2.9.2.
Đối tượng bắt buộc phải được doanh nghiệp kiểm toán
được chấp thuận kiểm toán báo cáo tài chính năm
96
2.9.3.
Tiêu chuẩn, điều kiện để DNKT được chấp thuận kiểm toán
97
2.9.4.
Tiêu chuẩn, điều kiện cho kiểm toán viên hành nghề và
người đại diện lãnh đạo doanh nghiệp kiểm toán được chấp
thuận kiểm toán cho tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và
tổ chức kinh doanh chứng khoán.
97
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP
KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM
3.1.
Sự cần thiết phải hoàn thiện quy chế pháp lý của doanh
nghiệp kiểm toán ở Việt Nam
100
3.2.
Phương hướng hoàn thiện quy chế pháp lý của doanh
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACCA
Hội Kế toán công chứng Anh quốc
AFA
Liên đoàn Kế toán ASEAN
BCTC
Báo cáo tài chính
DNKT
Doanh nghiệp kiểm toán
GASS
Chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận phổ biến
HCSN
Hành chính sự nghiệp
IASB
Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế
IFAC
Liên đoàn Kế toán quốc tế
IFRS
Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
ISA
Chuẩn mực quốc tế về kiểm toán
KTV
Kiểm toán viên
PCAOB
Ủy ban Giám sát hoạt động kiểm toán các công ty niêm yết
thị trường tài chính lành mạnh và thị trường kiểm toán độc lập vững mạnh.
Trước kia, các quy định về doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam đã được quy
định trong Nghị định 07-CP ngày 29/1/1994 ban hành Quy chế về Kiểm toán độc
lập trong nền kinh tế quốc dân. Nhưng qua thực tiễn áp dụng, các quy định trong
Nghị định này đã trở nên quá ít, không đủ để điều chỉnh hoạt động của doanh
nghiệp kiểm toán. Vì vậy, tháng 3 năm 2011, Luật Kiểm toán độc lập được ban
hành và chính thức có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2012. Luật Kiểm toán độc
lập đã tạo lập cơ sở pháp lý ở tầm cao hơn cho doanh nghiệp kiểm toán và quy định
khá đầy đủ những vấn đề liên quan đến doanh nghiệp kiểm toán. Tuy nhiên, vẫn
còn những vấn đề mà các nhà làm luật chưa quan tâm đến hoặc chưa tiên liệu hết
hoặc quy định chưa sát với thực tiễn.
Bên cạnh đó, xu thế toàn cầu hóa đã dẫn đến việc mở cửa thị trường kiểm
toán; các nước trên thế giới đều hướng đến việc hội tụ chuẩn mực kiểm toán quốc tế
và thừa nhận lẫn nhau về dịch vụ kiểm toán. Ở phần lớn các nước phát triển, hoạt
2
động kiểm toán độc lập đã phát triển lâu dài và vì vậy, doanh nghiệp kiểm toán ở
các nước này rất mạnh. Có thể nói, các doanh nghiệp kiểm toán này hơn hẳn các
doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam về trình độ, về kinh nghiệm, về uy tín, về thị
phần….Điều này một mặt tạo ra sức ép cạnh tranh đối với doanh nghiệp kiểm toán
Việt Nam, một mặt lại tạo động lực để doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam phát triển.
Nó đặt ra bài toán về việc phát triển hoạt động kiểm toán độc lập nói chung và
doanh nghiệp kiểm toán nói riêng cho Nhà nước, cho những cơ quan quản lý. Các
doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam muốn cạnh tranh, muốn hòa nhập được vào thị
trường tài chính thế giới, không còn cách nào khác là phải nâng cao năng lực, khẳng
định vị thế trong phạm vi quốc gia và sau đó là phạm vi quốc tế.
Trước tình hình đó, việc xác lập vai trò, vị trí và hoàn thiện quy chế pháp lý
của doanh nghiệp kiểm toán phù hợp với thông lệ quốc tế và tuân theo các chuẩn
mực quốc tế càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ.
Một quy chế pháp lý thống nhất sẽ là cơ sở giúp doanh nghiệp kiểm toán thực
nhiều trong các hội nghị, hội thảo chuyên môn của Việt Nam và quốc tế; trên các
tạp chí chuyên ngành, trên các diễn đàn nghề nghiệp…. Song các nội dung nghiên
cứu được đặt ra một cách riêng lẻ, không có một công trình đưa ra cái nhìn xuyên
suốt về doanh nghiệp kiểm toán.
Đề tài này tổng hợp các nội dung cả về cơ sở lý luận, thực trạng các quy định
pháp luật và hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán để có một bức tranh toàn cảnh
về doanh nghiệp kiểm toán ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu với mục đích làm sáng tỏ cơ sở lý luận về hoạt
động kiểm toán độc lập và doanh nghiệp kiểm toán, thực trạng quy chế pháp lý của
4
doanh nghiệp kiểm toán độc lập ở Việt Nam hiện nay; tìm ra phương hướng và đề
xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật điều chỉnh
doanh nghiệp kiểm toán ở Việt Nam.
Từ mục đích trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ đặc điểm, chức năng của hoạt động kiểm toán
độc lập, của doanh nghiệp kiểm toán độc lập và cơ sở lý luận của pháp luật điều
chỉnh doanh nghiệp kiểm toán.
- Thứ hai, phân tích thực trạng các quy định của pháp luật điều chỉnh doanh
nghiệp kiểm toán ở Việt Nam, từ đó nêu được những hạn chế, thiếu sót trong quy
định của pháp luật.
- Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn đưa ra
một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về doanh nghiệp kiểm toán
ở Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chủ yếu là quy chế pháp lý của doanh nghiệp
kiểm toán theo Luật Kiểm toán độc lập, các chuẩn mực kiểm toán quốc tế và Việt
Nam.
Luận văn tập trung nghiên cứu quy chế pháp lý liên quan tới kiểm toán độc
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA
DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN
1.1. Khái niệm quy chế pháp lý của doanh nghiệp kiểm toán
* Khái niệm quy chế pháp lý của doanh nghiệp kiểm toán
Quy chế pháp lý của doanh nghiệp kiểm toán là tổng hợp những quy định
của pháp luật xác định vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm,
phạm vi và điều kiện thành lập, hoạt động, … của doanh nghiệp kiểm toán.
* Cơ cấu quy chế pháp lý của doanh nghiệp kiểm toán
“Doanh nghiệp kiểm toán” là một danh từ chỉ chủ thể thực hiện hoạt động
kinh doanh dịch vụ kiểm toán độc lập, mà kiểm toán độc lập là ngành nghề có
những đặc điểm, tiêu chuẩn đặc biệt. Doanh nghiệp kiểm toán cũng là một doanh
nghiệp, nên nó phải tuân thủ các quy tắc chung dành cho mọi doanh nghiệp nói
chung. Sau nữa, doanh nghiệp kiểm toán cần phải tuân thủ các quy tắc riêng trong
nghề nghiệp kiểm toán.
Do vậy, các quy tắc chung dành cho doanh nghiệp kiểm toán phải được xây
dựng trên cơ sở những đặc điểm riêng của ngành nghề kiểm toán, phải bao gồm tất
cả các nội dung liên quan đến việc đảm bảo thực hiện đúng và đủ chức năng, nhiệm
vụ của hoạt động kiểm toán độc lập, phản ánh đúng vai trò của kiểm toán độc lập.
Các nội dung đó phải bao gồm nhóm các quy định về doanh nghiệp kiểm toán (loại
hình doanh nghiệp kiểm toán; điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán; phạm vi hoạt
động của doanh nghiệp kiểm toán; quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh
nghiệp kiểm toán; quản lý giám sát doanh nghiệp kiểm toán, các trường hợp không
7
được thực hiện kiểm toán; các trường hợp đình chỉ, tạm ngừng và chấm dứt kinh
doanh dịch vụ kiểm toán….) nhóm các quy định về hoạt động của doanh nghiệp
kiểm toán (báo cáo kiểm toán; hồ sơ kiểm toán, dịch vụ kiểm toán, hợp đồng kiểm
toán, quy trình kiểm toán, kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán, xử lý vi phạm về
trình bày theo mẫu chính thức của luật định” [28].
Hiện nay, có một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi, đó là “kiểm toán là
quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm
xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực
đã được thiết lập. Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên
đủ năng lực và độc lập” [27].
Qua các khái niệm trên, có thể thấy được các yếu tố cơ bản của kiểm toán
như sau:
- Chủ thể của hoạt động kiểm toán: là những kiểm toán viên đủ năng lực và
độc lập. Năng lực của kiểm toán viên là trình độ nghiệp vụ đã được đào tạo cùng
với kinh nghiệm thực tế tích lũy giúp cho kiểm toán viên có khả năng xét đoán,
phân tích trong từng trường hợp kiểm toán cụ thể. Sự độc lập của kiểm toán viên là
một yêu cầu tối quan trọng để thực hiện kiểm toán một cách khách quan, tạo ra
niềm tin đối với người sử dụng thông tin kiểm toán.
- Khách thể của kiểm toán: là một thực thể kinh tế hay một tổ chức được
kiểm toán. Thực thể kinh tế hay tổ chức ở đây được hiểu là một thực thể pháp lý.
- Đối tượng trực tiếp của kiểm toán: là các thông tin được kiểm tra, có thể là
báo cáo tài chính, tờ khai nộp thuế, quyết toán ngân sách…. của tổ chức được kiểm
9
toán.
- Cơ sở thực hiện kiểm toán: là những tiêu chuẩn đã được thiết lập. Chúng có
thể thay đổi tùy theo thông tin được kiểm tra trong mỗi cuộc kiểm toán. Chúng có
thể là chế độ kế toán hiện hành , có thể là Luật thuế, ….
- Bằng chứng kiểm toán: là các thông tin để chứng minh cho ý kiến của kiểm
toán viên.Quá trình kiểm toán bao gồm việc thu thập bằng chứng cần thiết và đánh
giá tính thích hợp cho việc đưa ra các ý kiến nhận xét trên báo cáo kiểm toán. Bằng
chứng kiểm toán có thể là các tài liệu kế toán của tổ chức được kiểm toán, cũng có
thể là chứng cứ riêng của kiểm toán viên.
Hoạt động kiểm toán có thể được phân loại theo mục đích hoặc theo chủ thể
là kiểm toán độc lập nói riêng đã thể hiện rõ vai trò của nó, nhất là với thị trường tài
chính thế giới. Hoạt động đầu tư tài chính vượt ra khỏi biên giới quốc gia đã làm
tăng nhu cầu đảm bảo độ tin cậy của thông tin tài chính. Vì vậy, người ta cần đến
kiểm toán độc lập ngày một nhiều hơn và kiểm toán độc lập ngày càng trở nên quan
trọng hơn đối với quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
1.2.3. Vai trò của hoạt động kiểm toán độc lập
Do nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển đã tạo nên hệ quả là khả năng
nhận được những thông tin tài chính kém tin cậy cũng sẽ gia tăng. Rủi ro về thông
tin gia tăng xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, như là:
Thứ nhất, sự khó khăn trong việc tiếp cận nguồn thông tin. Điều này làm
tăng rủi ro có thông tin bị sai lệch khi được cung cấp cho những người sử dụng.
11
Thứ hai, động cơ của người cung cấp thông tin: Những người này thường có
xu hướng trình bày thông tin theo chiều thuận lợi nhất cho mình. Chẳng hạn khi
doanh nghiệp bán cổ phần, các thông tin về doanh lợi, lợi nhuận… có thể sẽ bị khai
tăng giả tạo, hay không được cung cấp đầy đủ…
Thứ ba, lượng thông tin phải xử lý và độ phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế
gia tăng, nhất là khi mà hoạt động kinh doanh ngày càng đa dạng, quy mô của các
tổ chức càng lớn.
Chính vì thế, cần có những giải pháp để làm giảm rủi ro , trong đo
́
gia
̉
i pha
́
p
kiê
̉
m toa
khách hàng nhưng kết quả của cuộc kiểm toán thì không chỉ có đơn vị được kiểm
toán sử dụng. Vì mục đích của đơn vị được kiểm toán là nhằm khẳng định “giá trị
bản thân” thông qua một báo cáo kiểm toán “đẹp” nên sản phẩm cuối cùng của một
cuộc kiểm toán là báo cáo kiểm toán sẽ được công khai cho nhiều đối tượng quan
tâm và sử dụng. Chẳng hạn như các nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng, các nhà quản
lý, người lao động…. Chất lượng của một cuộc kiểm toán ảnh hưởng rất lớn đến
quyết định và hoạt động của các đối tượng sử dụng báo cáo kiểm toán. Vì thông qua
báo cáo kiểm toán, các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính có thể đánh giá tình
trạng tài chính của đơn vị được kiểm toán để từ đó đưa ra quyết định đầu tư của họ.
Bởi vậy có thể nói chất lượng của kiểm toán độc lập có ảnh hưởng rất lớn đến lợi
ích của đông đảo những người sử dụng.
- Phải có các tiêu chuẩn riêng cho những người muốn tham gia vào hoạt động này
và phải bảo đảm chất lượng dịch vụ cung ứng.
Là một ngành nghề có điều kiện, kiểm toán độc lập phải có tiêu chuẩn riêng
cho những người muốn cung cấp dịch vụ này. Những tiêu chuẩn được đặt ra là
những tiêu chuẩn về chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp nhằm đảm bảo chất lượng
13
dịch vụ mà các doanh nghiệp cung ứng cho xã hội. Những người cung cấp dịch vụ
kiểm toán là cung cấp một sự „chứng thực” cho xã hội về thông tin tài chính mà đơn
vị được kiểm toán đưa ra. Nếu họ không đạt được các tiêu chuẩn nhất định về
chuyên môn, về đạo đức nghề nghiệp thì sự bảo đảm về “sự chứng thực” đó sẽ
không cao. Do đó, một trong những đặc điểm quan trọng của kiểm toán độc lập là
phải có các tiêu chuẩn riêng cho kiểm toán viên, cho doanh nghiệp kiểm toán. Điều
này nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ kiểm toán ở mức tốt nhất có thể.
- Được Chính phủ chính thức công nhận, thông qua việc cấp giấy phép hành nghề
kiểm toán viên.
Được Chính phủ công nhận và pháp luật bảo hộ vì hoạt động kiểm toán độc
lập được coi như là một trong những công cụ kiểm soát kinh tế vĩ mô. Khi được
Chính phủ công nhận thông qua việc ban hành những quy định riêng về kiểm toán
tài chính. Nếu hoạt động kiểm toán độc lập chỉ phục vụ cho lợi ích của khách hàng
mà làm ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hội thì nó đã không thực hiện đúng
chức năng, nhiệm vụ của nó.
- Công khai thừa nhận trách nhiệm đối với xã hội, đối với việc bảo vệ lợi ích của
đông đảo người sử dụng hơn là những lợi ích vật chất.
Vì kiểm toán độc lập lấy việc phục vụ lợi ích của xã hội là mục tiêu hoạt
động, sản phẩm cuối cùng của hoạt động kiểm toán độc lập được đông đảo công
chúng trong xã hội quan tâm và sử dụng nên chủ thể thực hiện hoạt động kiểm toán
độc lập phải có trách nhiệm trước xã hội về hoạt động của chính họ là tất yếu.
1.2.5. Môi trƣờng kiểm toán
15
Xuất phát từ những đặc điểm của kiểm toán độc lập, môi trường kiểm toán
độc lập chịu tác động từ nhiều phía:
- Từ yêu cầu của xã hội đối với chức năng kiểm toán, yêu cầu này luôn thúc đẩy
hoạt động kiểm toán hoàn thiện hơn để cung cấp mức độ đảm bảo ngày càng cao
hơn cho các thông tin được kiểm toán.
- Từ ý thức trách nhiệm của những người hành nghề kiểm toán, thông qua tổ chức
nghề nghiệp kiểm toán của họ. Sự ý thức cao về trách nhiệm xã hội của các doanh
nghiệp kiểm toán đã khiến họ không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động, giữ gìn
uy tín và khẳng định vị trí với xã hội.
- Từ yêu cầu của Nhà nước, với tư cách là người quản lý xã hội, Nhà nước sẽ đưa ra
các chế định giám sát hoạt động kiểm toán độc lập tùy theo đặc điểm và nhu cầu xã
hội [15, tr27].
Nếu tổ chức nghề nghiệp kiểm toán phát triển mạnh, đưa ra được những quy
định tự kiểm soát nghề nghiệp, Nhà nước sẽ đóng vai trò là người đưa ra khuôn khổ
pháp lý chung để xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của kiểm toán viên và doanh
nghiệp kiểm toán. Chẳng hạn như ở Malaysia, Singapore, Anh quốc là những
nước mà tổ chức nghề nghiệp của họ phát triển mạnh, họ được Nhà nước giao cho
nhiều quyền hành trong việc kiểm soát nghề nghiệp kế toán và kiểm toán. Ngược
chung, nhóm chuẩn mực thực hành và nhóm chuẩn mực báo cáo.
Liên đoàn Kế toán quốc tế (International Federation of Accountants - IFAC)
đã ủy nhiệm cho Ủy Ban Quốc tế về Chuẩn mực kiểm toán và dịch vụ bảo đảm
((International Auditing and Assurance Standards Boad - IAASB) ban hành hệ
thống chuẩn mực quốc tế về kiểm toán (International Standard on Auditing - ISA).
Mỗi chuẩn mực trình bày về thủ tục, nguyên tắc cơ bản và thể thức áp dụng trong