ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ TUYỀN
PHÁP LUẬT PHÁT TRIỂN NĂNG LƢỢNG XANH
Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGƢỜI CAM ĐOAN LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Trƣờng Đại học Quốc Gia Hà
Nội, các Quý Thầy, Cô đã giúp tôi trang bị kiến thức, tạo môi trƣờng điều
kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này.
Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin đƣợc bày tỏ lời cảm ơn tới PGS.
TS Vũ Thu Hạnh đã khuyến khích, chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời
gian thực hiện nghiên cứu này.
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình và những ngƣời bạn đã động
viên, hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành
luận văn.
DANH MỤC BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng Phát triển châu Á
CDM Cơ chế phát triển sạch
CERs Chứng chỉ giảm phát thải đã đƣợc công nhận
EVN Tập đoàn Điện lực Việt Nam
FIT Biểu giá ƣu đãi
GDP Tổng thu nhập quốc nội
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
UNFCCC Công ƣớc khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu
QCN Quyền con ngƣời
1.2.3. Nguyên tắc chủ yếu trong pháp luật phát triển năng lƣợng xanh . 23
1.2.4. Các biện pháp phát triển năng lƣợng xanh 25
1.2.5. Nội dung pháp luật phát triển năng lƣợng xanh 27
1.2.6. Nguồn của pháp luật phát triển năng lƣợng xanh 31
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN PHÁP LÝ VỀ
PHÁT TRIỂN NĂNG LƢỢNG XANH Ở VIỆT NAM 35
2.1. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
PHÁT TRIỂN NĂNG LƢỢNG XANH 35
2.2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN PHÁP LÝ VỀ PHÁT
TRIỂN CÁC NGUỒN NĂNG LƢỢNG XANH 39
2.2.1. Thực trạng pháp luật và thực tiễn pháp lý về phát triển nguồn năng
lƣợng mặt trời 39
2.2.2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn pháp lý về phát triển năng
lƣợng gió 52
2.2.3. Thực trạng pháp luật và thực tiễn pháp lý về phát triển năng lƣợng
sinh khối 59
2.2.4. Nguyên nhân thực trạng pháp luật và thực tiễn pháp lý phát triển
năng lƣợng xanh thiếu và yếu 69
Chƣơng 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LƢỢNG
XANH Ở VIỆT NAM 72
3.1. NHỮNG QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO TRONG VIỆC HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LƢỢNG XANH 72
3.1.1. Những định hƣớng chung của Đảng và Nhà nƣớc về phát triển
năng lƣợng xanh 72
3.1.2. Khuyến khích phát triển năng lƣợng xanh nhằm đảm bảo quyền
con ngƣời đƣợc sống trong môi trƣờng trong lành, ứng phó biến đổi khí
hậu và phát triển bền vững 77
3.2. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN
NĂNG LƢỢNG XANH 81
C do việc tích lũy các
chất Cácbon điôxít (CO
2
), mêtan (CH
4
), và các khí thải gây hiệu ứng nhà
kính khác trong không khí( nhƣ
N
2
O, HFC
s
, PFC
s
, SF
6
)- sản phẩm sinh ra từ
việc đốt nhiên liệu hóa thạch trong các nhà máy, phƣơng tiện giao thông và
các nguồn khác, những hiện tƣợng trên đều do biến đổi khí hậu gây nên. Biến
đổi khí hậu đƣợc coi là toàn cầu vì nó diễn ra ở hầu nhƣ trên thế giới. Đặc
biệt, Việt Nam đứng thứ 5 trong danh sách các nƣớc bị ảnh hƣởng bởi khí hậu
toàn cầu. Do đó, nếu không có những biện pháp nhằm giảm thiểu tác hại của
biến đổi khí hậu thì hậu quả sẽ khó lƣờng.
Hơn nữa, nhiên liệu hóa thạch theo tính toán của các nhà khoa học và
môi trƣờng học sẽ cạn kiệt trong vòng 50 năm nữa nếu cứ sử dụng với tốc độ
hiện nay. Theo dự báo, đến năm 2025, Việt Nam chỉ đáp ứng đƣợc 30% nhu
2
cầu tiêu thụ năng lƣợng trong nƣớc và tƣơng lai, Việt Nam có thể sẽ phải
nhập khẩu năng lƣợng. Trƣớc tình hình trên, phƣơng thức chuyển đổi từ năng
văn thạc sĩ Thạc sĩ Phạm Quang Minh, “Năng lượng mặt trời – Công nghệ
dẫn và chiếu sáng bằng cable quang”… Tuy nhiên, những công trình này
mới chỉ dừng lại ở vấn đề nghiên cứu, phát minh ra những mô hình phát điện
để thay thế các nhà máy thủy điện hiện nay chứ không phân tích và đi sâu về
quy định của pháp luật về năng lƣợng xanh. Gần đây nhất có luận văn thạc sĩ
luật học của Phan Duy An “Pháp luật về các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ
phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam hiện nay” đã bƣớc đầu xây dựng,
đặt nền móng cho pháp luật về khuyến khích phát triển nguồn năng lƣợng tái
tạo, thân thiện với môi trƣờng; Đào Khắc An – Trần Mạnh Tuấn “ Vấn đề an
ninh năng lượng & các giải pháp khai thác năng lượng mặt trời từ vũ trụ
truyền về trái đất” của Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, năm 2012; Ngô
Đăng Nghĩa “ Năng lượng xanh” của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, năm
2011; Đỗ Văn Phú “ Năng lượng xanh – Nguồn năng lượng cho sự phát triển
bền vững”, năm 2012 của Tạp chí Khoa học Công nghệ & Môi trƣờng công
an. Các nghiên cứu này mặc dù đã nêu lên lợi ích của việc phát triển năng
lƣợng xanh và đề xuất một số kiến nghị hợp lý đối với cơ quan nhà nƣớc có
thẩm quyền. Tuy nhiên, các tác phẩm trên mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá
mang tính định hƣớng mà chƣa có tính hệ thống về các chế định, quy định của
pháp luật trong phát triển năng lƣợng xanh. Do đó, Luận văn thạc sĩ luật học
của tác giả chính là đề tài mang tính khoa học, chuyên sâu đầu tiên về việc
nghiên cứu, phân tích, đánh giá và hoàn thiện quy định pháp luật về phát triển
năng lƣợng xanh ở Việt Nam hiện nay.
4
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu tổng quát
Đề xuất một hƣớng tiếp cận mới về chính sách phát triển nguồn năng
lƣợng xanh. Đƣa ra những giải pháp, định hƣớng xây dựng và hoàn thiện
pháp luật Việt Nam, nâng cao hiệu quả của cơ chế thực thi pháp luật về phát
lƣợng sinh khối.
5. Dự kiến tính mới và những đóng góp của đề tài
- Hiện nay vẫn chƣa có một công trình nghiên cứu một cách hoàn chỉnh
về pháp luật phát triển năng lƣợng xanh nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu.
Đề tài sẽ đƣa ra một hƣớng tiếp cận mới trong chính sách pháp luật về bảo vệ
môi trƣờng.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện chính sách,
pháp luật quốc gia về pháp luật phát triển năng lƣợng xanh, nhằm ứng phó với
biến đổi khí hậu, đảm bảo an ninh năng lƣợng quốc gia. Những giải pháp
đƣợc đƣa ra có tác dụng khuyến khích các cơ quan hữu quan trong việc phát
hiện và phát triển các nguồn năng lƣợng xanh, thân thiện với môi trƣờng.
- Những luận cứ khoa học và thực tiễn đƣợc trình bày có thể làm tài
liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy kiến thức về môi trƣờng; những
kết luận, khuyến nghị có thể đƣợc tham khảo trong việc thực thi và ban hành
các chính sách pháp luật về phát triển nguồn năng lƣợng xanh.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài trình bày trên cơ sở phƣơng pháp luận của Chủ nghĩa Mác –
Lênin và Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về Nhà nƣớc và pháp luật, đề tài sử dụng các
6
phƣơng pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, so sánh, phân tích định tính,
định lƣợng và khái quát hóa, đồng thời kết hợp với các phƣơng pháp suy luận
logic. Thêm vào đó, đề tài đã kết hợp phƣơng pháp phỏng vấn chuyên gia
trong lĩnh vực Kinh tế, Năng lƣợng, Môi trƣờng tại Trƣờng Đại học Quốc gia
Hà Nội, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, Trƣờng Đại học Tây Nguyên, Viện
Nhà nƣớc và Pháp luật.
Từ những tài liệu thu thập đƣợc và trên cơ sở tham khảo ý kiến chuyên
gia, tác giả sẽ đƣa ra ý kiến riêng về pháp luật pháp triển năng lƣợng xanh ở
Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
các nguồn nhiên liệu hóa thạch nhƣ than, dầu, khí đốt tự nhiên…là yếu tố
quan trọng tạo ra và duy trì sự phát triển, tiến bộ của xã hội loài ngƣời. Tuy
nhiên, cùng với cuộc “cách mạng công nghiệp” diễn ra từ cuối thế kỷ 18, đầu
thế kỷ 19 đến nay, việc khai thác và sử dụng quá mức các nguồn nhiên liệu
hóa thạch và đang đẩy Hành tinh xanh của chúng ta đối mặt với những vấn
đề nghiêm trọng về năng lƣợng và bảo vệ môi trƣờng.
8
Cũng theo tính toán của các nhà khoa học, trong 1 – 2 thế kỷ nữa, nhân
loại sẽ phải đối mặt với vấn đề khủng hoảng năng lƣợng và môi trƣờng
nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó, năng lƣợng xanh đƣợc coi là sự lựa chọn
hợp lý nhất cho sự phát triển bền vững của trái đất.
Năng lƣợng xanh là một khái niệm rộng, mang tính mới và hiện nay
xung quanh khái niệm này trên thế giới cũng nhƣ tại Việt Nam có nhiều quan
niệm khác nhau.
Theo quan điểm của các nhà khoa học trên thế giới cho rằng năng
lƣợng xanh chính là một khái niệm hẹp trong năng lƣợng tái tạo, và nó biểu
thị về các nguồn năng lƣợng tái tạo và các công nghệ chế tạo năng lƣợng có
lợi nhất cho môi trƣờng. Cơ quan bảo vệ môi trƣờng Mỹ định nghĩa năng
lƣợng xanh là năng lƣợng điện đã đƣợc chế tạo từ năng lƣợng mặt trời, gió,
địa nhiệt, khối lƣợng sinh học, và các trạm thủy điện nhỏ có tác động thấp tới
môi trƣờng. [43. Tr 6].
Còn tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu lại chia làm hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, năng lƣợng xanh để chỉ năng lƣợng đƣợc
sinh ra từ các nguồn năng lƣợng thân thiện với môi trƣờng hơn là các nguồn
năng lƣợng hóa thạch. Năng lƣợng xanh bao gồm các nguồn năng lƣợng tái tạo
nhƣ năng lƣợng mặt trời, năng lƣợng gió, năng lƣợng địa nhiệt, nhiên liệu sinh
học, thủy năng. Đồng thời các nhà khoa học theo quan điểm này cũng cho rằng
thuật ngữ năng lƣợng xanh đồng nghĩa với năng lƣợng tái tạo. [23. Tr 111]
Quan điểm thứ hai thì cho rằng, năng lƣợng xanh bao gồm những
Bách khoa toàn thƣ Việt Nam có định nghĩa: Năng lượng tái tạo hay
năng lượng tái sinh là năng lượng từ những nguồn liên tục mà theo chuẩn
10
mực của con người là vô hạn. Nguyên tắc cơ bản của việc sử dụng năng
lượng tái sinh là tách một phần năng lượng từ các quy trình diễn biến liên tục
trong môi trường và đưa vào trong các sử dụng kỹ thuật. Các quy trình này
thường được thúc đẩy đặc biệt là từ Mặt trời.
Khoản 1 Điều 33 Luật môi trƣờng năm 2005 (quy định về phát triển
năng lƣợng sạch, năng lƣợng tái tạo và sản phẩm thân thiện với môi trƣờng)
có định nghĩa nhƣ sau: Năng lượng sạch, năng lượng tái tạo là năng lượng
được khai thác từ gió, mặt trời, địa nhiệt, nước, sinh khối và các nguồn tái
tạo khác.
Khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 3 Luật sử dụng năng lƣợng tiết kiệm
và hiệu quả năm 2010 (có hiệu lực thi hành 01/01/2011) định nghĩa:
“1. Năng lượng bao gồm nhiên liệu, điện năng, nhiệt năng thu được trực
tiếp hoặc thông qua chế biến từ các nguồn tài nguyên năng lượng không tái
tạo và tái tạo.
2. Tài nguyên năng lượng không tái tạo gồm than đá, khí than, dầu mỏ,
khí thiên nhiên, quặng urani và các tài nguyên năng lượng khác không có khả
năng tái tạo.
3. Tài nguyên năng lượng tái tạo gồm sức nước, sức gió, ánh sáng mặt
trời, địa nhiệt, nhiên liệu sinh học và các tài nguyên năng lượng khác có khả
năng tái tạo”
Khoản 13 Điều 2 Quyết định số 18/2008/QĐ-BCT ngày 18/7/2008, ban
hành quy định về biểu giá chi phí tránh được và Hợp đồng mua bán điện mẫu
áp dụng cho các nhà máy điện nhỏ sử dụng năng lượng tái tạo của Bộ trƣởng
Bộ Công thƣơng có định nghĩa: Năng lượng tái tạo là năng lượng được sản
xuất từ các nguồn như thủy điện nhỏ, gió, mặt trời, địa nhiệt, thủy triều, sinh
khối, khí chôn lấp rác thải, khí của nhà máy xử lý rác thải và khí sinh học.
tiêu thụ của toàn thể nhân loại trong vòng một năm. Trong 36 giờ truyền xạ,
mặt trời cho chúng ta một năng lƣợng bằng tất cả những giếng dầu của quả đất.
Năng lƣợng mặt trời có những ƣu điểm nhƣ: sạch, chi phí nhiên liệu và
bảo dƣỡng thấp, an toàn cho ngƣời sử dụng… Đồng thời, phát triển ngành
công nghiệp sản xuất pin mặt trời sẽ góp phần thay thế các nguồn năng lƣợng
hóa thạch, giảm phát khí thải nhà kính, bảo vệ môi trƣờng. Vì thế, đây đƣợc
coi là nguồn năng lƣợng quý giá, có thể thay thế những dạng năng lƣợng cũ
đang ngày càng cạn kiệt.
Hiện nay năng lƣợng mặt trời đang đƣợc các nƣớc tập trung nghiên cứu,
ứng dụng trong đời sống thực tiễn, nhƣng do vẫn còn đang trong thời kỳ đầu
của những ứng dụng, vì vậy chi phí đầu tƣ lớn cho thiết bị, dẫn tới số lƣợng
thành phần sử dụng trực tiếp năng lƣợng mặt trời phục vụ sản xuất, kinh
doanh cũng nhƣ đời sống sinh hoạt thƣờng ngày vẫn còn hạn chế.
1.1.2.2. Năng lượng gió
Vào đầu thế kỷ 21, năng lƣợng gió đƣợc xem là nguồn năng lƣợng tái
tạo có nhiều triển vọng nhất. Tiềm năng của năng lƣợng gió là rất lớn, theo
ƣớc tính, sản lƣợng điện gió có thể đạt 20.000 - 50.000 tỷ kWh/năm.
Hiện nay, sức gió đang đƣợc ứng dụng để chuyển hóa thành điện năng
phục vụ đời sống con ngƣời, thông qua những máy quay gió (tuabin gió).
Loại hình này cũng không tạo ra chất thải ô nhiễm môi trƣờng, vì vậy việc tận
dụng lợi thế tại những khu vực có lƣu lƣợng gió ổn định để phát triển các nhà
máy phong điện sẽ là lời giải cho bài toán năng lƣợng và môi trƣờng trong
thời gian tới. Tuy nhiên, giống nhƣ năng lƣợng mặt trời, năng lƣợng gió cũng
đòi hỏi vốn đầu tƣ khá cao và lệ thuộc vào tự nhiên, nên nhiều nhà đầu tƣ vẫn
còn rụt rè khi đầu tƣ vào dạng năng lƣợng này.
13
1.1.2.3. Năng lượng sinh khối
Sinh khối là tên chung cho tất cả các vật liệu hữu cơ từ cây cỏ, kể cả
tới nhu cầu tiêu thụ năng lượng ngày càng lớn.
Tổng dân số thế giới năm 2011 vào khoảng 7 tỷ ngƣời, nhƣng đƣợc dự
báo của Liên Hợp Quốc đến năm 2025 là 8 tỷ và sẽ đạt tới 11 tỷ vào năm
2050, trong đó dân số của các nƣớc đang phát triển sẽ chiếm khoảng 80%
[52]. Giả sử, nguồn tài nguyên hữu hạn này đến một ngày nào đó sẽ rơi vào
tình trạng cạn kiệt, mức tiêu thụ năng lƣợng của các nƣớc đang phát triển sẽ
tăng gấp 2 lần so với hiện nay thì chúng ta sẽ phải đối mặt với một thời kỳ rất
khó khăn trong việc đáp ứng cung và cầu của năng lƣợng hóa thạch mà chủ
yếu là dầu mỏ.
Thứ hai: Sự thiếu hụt và ngày càng cạn kiệt của của các nguồn năng
lượng truyền thống
Từ trƣớc đến nay, hệ thống năng lƣợng của Việt Nam vẫn dựa vào ba trụ
cột chính là dầu khí, than đá và điện nhƣng chỉ trong một vài năm tới, ba
nguồn năng lƣợng này sẽ không thể đáp ứng đầy đủ cho hệ thống tiêu thụ
năng lƣợng của cả nƣớc, càng không thể đảm bảo lâu dài cho ngành năng
lƣợng Việt Nam.
Nhiều chuyên gia nhận định, đến năm 2015 Việt Nam sẽ thiếu than và số
lƣợng thiếu hụt sẽ tăng dần theo từng năm. Cụ thể là năm 2015 thiếu 5,8 triệu
tấn; năm 2016 thiếu 25 triệu tấn, và năm 2020 lên đến 66 triệu tấn, điều này
đồng nghĩa với việc Việt Nam phải nhập khẩu than từ năm 2015 trở đi [37].
Không chỉ vậy, nhu cầu điện cũng thiếu hụt trầm trọng với mức tăng tiêu thụ
15
từ 15 – 20% mỗi năm. Đặc biệt, trong thời gian tới nếu Việt Nam không phát
hiện thêm các mỏ dầu mới có trữ lƣợng lớn thì đến 2025 sẽ cơ bản cạn kiệt tài
nguyên dầu khí. Việt Nam chuyển từ vị thế xuất khẩu năng lƣợng (dầu thô,
than) sang nƣớc nhập khẩu năng lƣợng và mức độ phụ thuộc vào năng lƣợng
nhập khẩu sẽ ngày một tăng trong vòng 10 – 15 năm tới.
Thứ ba: Tác hại của việc sử dụng nguồn năng lượng hóa thạch tới môi
trường, sức khỏe con người và đời sống kinh tế xã hội
học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục
hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến
hoạt động của các hệ thống kinh tế- xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của
con người”.
Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các
hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức
các bể hấp thụ khí nhà kính nhƣ sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ
và đất liền khác.
Hiện nay đối với Việt Nam, biến đổi khí hậu đang diễn ra rất nhanh và
tác động ngày càng rõ rệt. Biểu hiện rõ ràng nhất là sự thay đổi thời tiết rất
khó lƣờng. Trong khoảng 60 năm qua (1951- 2011), nhiệt độ trung bình hàng
năm ở Việt Nam đã tăng lên từ 0,5- 0,7
0
C và đang có xu hƣớng tiếp tục tăng,
nhiệt độ các vùng phía Bắc và Bắc trung bộ sẽ tăng nhanh hơn so với Nam bộ.
Và với mức tăng nhƣ vậy thì các nhà nghiên cứu tính toán đến năm 2100
nhiệt độ có thể tăng lên 3
0
C. Bên cạnh đó, tính chất mùa cũng có sự biến
động, trong hai thập kỷ gần đây, mùa đông ngắn hơn với mật độ các đợt
không khí lạnh giảm đi trong khi đó các đợt nắng nóng kéo dài diễn ra thƣờng
xuyên hơn trong mùa hè. Đặc biệt xuất hiện những kiểu thời tiết bất thƣờng
nhƣ rét đậm, rét hại kéo dài vào tháng 1 và tháng 2 năm 2008 tại các tỉnh phía
Bắc; nắng nóng kỷ lục trong vòng 60 năm vào tháng 6 năm 2010 tại Hà Nội,
nhiệt độ lên tới 44,4
0
C [37]
Trƣớc những diễn biến phức tạp của tình trạng biến đổi khí hậu trong
những năm qua đã gây ra những ảnh hƣởng không nhỏ tới đời sống kinh tế -
17