Phát triển năng lượng xanh ở hàn quốc - Pdf 30

PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG XANH CỦA HÀN QUỐC
Phạm Thị Xuân Mai
Phòng Nghiên cứu Môi trường
và Phát triển bền vững
Năng lượng giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong hoạt động kinh tế xã hội cũng như
cuộc sống của con người. Nguồn năng lượng chủ yếu chúng ta sử dụng từ trước đến nay
là năng lượng hóa thạch. Tuy nhiên nguồn năng lượng này đang dần cạn kiệt và khi sử
dụng chúng cũng thải ra nhiều khí nhà kính. Vì thế nhân loại đang tìm kiếm và sử dụng
những nguồn năng lượng mới có tính tái tạo và ít thải khí nhà kính, người ta gọi chung
những loại năng lượng đó là năng lượng xanh.
Sự phát triển kinh tế luôn gắn với nhu cầu sử dụng năng lượng. Hàn Quốc là một
trong những nền kinh tế phát triển năng động nhất thế giới và kèm theo đó nhu cầu về
năng lượng của quốc gia này cũng tăng nhanh. Là một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên
nên nhu cầu sử dụng năng lượng của Hàn Quốc chủ yếu được đáp ứng bằng việc nhập
khẩu. Trước tình trạng giá các nhiên liệu hóa thạch ngày một tăng, việc sử dụng chúng đã
có những ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái, đến sức khỏe của con người, đến sự
biến đổi khí hậu nên Hàn Quốc cũng như nhiều nước khác trên thế giới trong những năm
gần đây đã chú trọng phát triển các nguồn năng lượng xanh. Nghiên cứu thực trạng khai
thác, sử dụng năng lượng xanh và những tiến bộ trong công nghệ phát triển năng lượng
xanh của Hàn Quốc sẽ có ý nghĩa thiết thực đối với Việt Nam.
1.

Tiêu dùng năng lượng của Hàn Quốc

1.1.

Tình hình tiêu thụ năng lượng trên thế giới

Để đáp ứng các đòi hỏi của sự phát triển kinh tế và thỏa mãn các nhu cầu về mọi
mặt của dân số ngày càng lớn, tiêu thụ năng lượng trên thế giới cũng như của Hàn Quốc
đã tăng nhanh trong hơn một thế kỷ qua. Từ năm 1900 đến năm 2000, năng lượng tiêu thụ

(OECD) năm 2035 dự kiến sẽ chỉ cao hơn 3% so với năm 2010. Nhu cầu về dầu, khí đốt
và than đá có xu hướng gia tăng đến năm 2035, nhưng phần đóng góp của những nguồn
năng lượng này trong cơ cấu năng lượng toàn cầu sẽ giảm từ 81% xuống 75% trong thời
gian từ năm 2010 đến năm 2035.
Trong hội nghị năng lượng Thế giới lần thứ 22 tổ chức tại Hàn Quốc tháng 10 năm
2013 tại thành phố Daegu, Tổng thư ký Hội đồng Năng lượng thế giới, ông Christoph Frei
cho rằng: « Lĩnh vực năng lượng đang ở trong một giai đoạn bất trắc chưa từng có »3. Kể
từ hội nghị lần thứ 21 tại Montreal năm 2010 đến nay, rất nhiều điều trong lĩnh vực này
đã thay đổi chẳng hạn như: triển vọng của năng lượng hạt nhân đầu thế kỷ XXI bị thách
thức sau thảm họa Fukushima 2011, sự trỗi dậy bất ngờ và mãnh liệt của việc khai thác
dầu khí từ đá phiến tại Bắc Mỹ trong hai năm trở lại đây, bên cạnh đó là sự phát triển
không đồng đều của các loại hình năng lượng tái tạo tại các khu vực khác nhau trên thế
giới…Một mặt, nhu cầu năng lượng tiếp tục tăng mạnh, do tăng trưởng kinh tế của nhiều
nước ở ngoài khối OECD, nhưng bên cạnh đó, áp lực đối với việc thay đổi mô hình năng
lượng toàn cầu cũng vô cùng lớn, do những dự báo nghiêm trọng về Biến đổi khí hậu, đặc
biệt với báo cáo mới đây vào cuối tháng 9/2013 của nhóm chuyên gia liên chính phủ về
Biến đổi khí hậu. Các chính phủ và các ngành công nghiệp hiện cùng lúc đứng trước ba
áp lực: (1) Vừa phải bảo đảm được nguồn năng lượng trong bối cảnh dân cư thế giới tiếp
tục gia tăng mạnh, (2) vừa phải bảo đảm giá cả năng lượng thấp ở mức chấp nhận được và
đồng thời gia tăng năng lượng, (3) nhưng lại không được làm nghiêm trọng hơn quá trình
khí hậu bị nóng lên.
Xã hội ngày càng phát triển thì sự lệ thuộc vào năng lượng mà chủ yếu là điện
năng, ngày càng chặt chẽ. Nhu cầu năng lượng toàn cầu đang vượt xa khả năng cung cấp
mới trên thị trường và thế giới đang phải đối mặt với những thách thức về năng lượng
chưa từng có trong lịch sử. Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA) dự báo nhu cầu điện năng
toàn cầu tăng trên 70% vào năm 2035 đạt mức khoảng 36.637 TWh (1 TWh đọc là Tera
wat giờ = 1tỉ kWh và nếu viết bằng số là 1.000.000.000 kWh), hơn một nửa của sự gia
tăng này sẽ thuộc về Trung Quốc và Ấn Độ. Tuy nhiên than vẫn là nguồn cung cấp điện
năng chính trên toàn cầu, đặc biệt là các quốc gia ngoài OECD, nhưng đóng góp của than
3

trong suốt 30 năm qua. Nguồn than an tra xit trước đây sử dụng nhiều trong khu vực dân
cư nhưng hai thập kỉ gần đây đã chuyển mạnh sang khu vực sản xuất điện.
Nhu cầu về dầu đã tăng từ những năm 1970 trừ những năm rơi vào 2 cuộc khủng
hoảng dầu lửa 1973, 1979. Hàn Quốc xếp hàng thứ 9 về tiêu thụ dầu trên thế giới. Nhập
khẩu dầu chủ yếu từ Trung Đông, chiếm 72,3% năm 1999 nhưng đã tăng lên 84,5% năm
2009, khiến cho Hàn Quốc phụ thuộc nặng nề vào nhập khẩu dầu từ Trung Đông, nơi có
chính trị bất ổn và sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh năng lượng của Hàn Quốc.
Hình 1. Tiêu dùng dầu của Hàn Quốc, 2000-2010
Đơn vị : triệu thùng/ngày

4

Korea Energy Management Corperation, 2012. />
3


Nguồn: Cơ quan thông tin năng lượng Mỹ, 2010 (US Energy Information
Administration)
Tiêu dùng dầu của Hàn Quốc đã tăng từ 2,138 triệu thùng /ngày năm 2000 lên 2,235
triệu thùng ngày năm 2010. Tuy nhiên tỉ lệ sử dụng dầu trong tổng năng lượng sơ cấp đã
giảm dần. Năm 2011 tiêu dùng dầu của Hàn Quốc giảm còn 2,195 triệu thùng mỗi ngày.
Hàn Quốc có 3 trong 10 nhà máy lọc dầu lớn nhất thế giới và xuất khẩu trung bình 1,1
triệu thùng dầu đã lọc mỗi ngày trong năm 2011, tăng 16% so với năm 20105. Dầu xuất
khẩu tăng là do nhu cầu về dầu đã được lọc ở các nước châu Á tăng nên tốc độ xuất khẩu
sản phẩm này của Hàn Quốc tăng nhanh hơn nhiều so với tốc độ tiêu thụ trong nước.
Khí ga hóa lỏng (LNG) bắt đầu được nhập khẩu và sử dụng từ năm 1986, nhưng
việc sử dụng loại nhiên liệu này ở Hàn Quốc đã tăng rất nhanh trong những thập kỉ qua.
Hàn Quốc là nước nhập khẩu LNG lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Nhật Bản. LNG chiếm tới
17% tổng năng lượng tiêu thụ năm 2011. Phần lớn ga dùng để phát điện (42% năm 2004).
Hàn Quốc đang tăng cường sử dụng điện hạt nhân để giảm bớt việc sử dụng ga- có nghĩa


2009

2010

2011

Nhiệt điện

264.747
(62,7%)

278.400
(64,2%)

315.608

324.354

(66,5%)

(65,3%)

Điện hạt nhân

150.958
(35,7%)

147.771
(34,1%)


1.791

3.984

9.985

(0,3%)

(0,4%)

(0,8%)

(2,0%)

5


Tổng cộng

422.355

433.604

474.660

496.893

Nguồn: IEA Statistics © OECD/IEA, />Giá sản xuất điện hạt nhân ở Hàn Quốc tương đối thấp, theo báo cáo của công ty
điện hạt nhân và thủy điện của Hàn Quốc năm 2008, giá sản xuất cho 1 KWh điện hạt

(nấu ăn, đun nước sôi, sưởi ấm, sấy khô), 10% dưới hình thức nhiệt cho các qui trình công
nghiệp, 15% dưới hình thức điện cho các động cơ, thắp sáng, các thiết bị điện tử, còn
khoảng 30% cho giao thông vận tải7. Vì nguồn năng lượng này phần lớn lấy ra từ các
nhiên liệu hóa thạch cho nên khi sử dụng thường phát thải ra một lượng lớn khí CO2,
chiếm khoảng 80% tổng lượng CO2 phát tán ra vào khí quyển. CO2 là thủ phạm chính dẫn
6

Hiệp hội nguyên tử thế giới, 20-8-2013. Xem trên: />7
Nguyễn Thọ Nhân, 2009. Biến đổi khí hậu và năng lượng. Nhà xuất bản Tri Thức. Hà Nội, Việt Nam, tr. 199.

6


đến sự ấm lên của trái đất. Ngoài CO2 ra khi đốt dầu, than và khí tự nhiên còn thải ra ôxít
sunphua (SOx), ôxít nitơ (NOx), Methane (CH4)…. Những khí này là nguyên nhân dẫn
đến một số hậu quả to lớn đối với môi trường sống và ảnh hưởng trực tiếp đến chính con
người. Chẳng hạn như SO2 rất độc hại đối với sức khoẻ của người và sinh vật, gây ra các
bệnh về phổi, khí phế quản. Khi con người ở trong không khí có nồng độ CO khoảng 250
ppm sẽ bị tử vong, tuy nhiên CO không độc với thực vật vì cây xanh có thể chuyển hoá
CO thành CO2 và sử dụng nó trong quá trình quang hợp. Do đó thảm thực vật được xem
là tác nhân tự nhiên có tác dụng làm giảm ô nhiễm CO. Các khí SOx, NOx trong khí thải
từ các nhà máy và ôtô đã tạo ra các phản ứng hóa học trong không khí, sau đó di chuyển,
rồi tạo ra mưa axít làm trơ trụi các cánh rừng, tiêu diệt các sinh vật trong ao hồ, gây tác
hại to lớn cho sản xuất nông nghiệp. Hiện tượng này lúc đầu xuất hiện ở Bắc Âu, sau đó,
liên tiếp xuất hiện ở khu vực Trung Âu cho đến tận khu vực Bắc Mỹ và gần đây đã xuất
hiện ở một số nước châu Á khác. Tác hại do ô nhiễm không khí đã vượt ra khỏi biên giới
quốc gia và lan ra một khu vực rộng lớn. Đối sách phòng chống hiện tượng này là cần
phải có sự hợp tác của cộng đồng quốc tế.
Nhu cầu về năng lượng tăng nhanh cũng dẫn đến các tranh chấp trên thế giới như:
Tranh chấp khí đốt giữa Nga – Ukraine – EU, tranh chấp những giếng dầu ở Trung Đông,

nhiễm lớn nhất tại Mỹ, chiếm đến 40% lượng khí CO2 được thải ra trên cả nước. Laurie
Johnson cho rằng “Đốt than là một phương pháp rất tốn kém để sản xuất điện. Thực tế, có
nhiều cách khác hiệu quả và bền vững hơn để làm việc này”8. Ông cũng đã tính toán và
cho biết hiệu suất sử dụng của năng lượng xanh là rất cao, chẳng hạn như một tua bin
thủy điện hiện đại có thể sản xuất ra hơn 90% năng lượng trong nước thành điện, hiệu quả
hơn rất nhiều so với bất kỳ hình thức sản xuất điện nào khác, trong khi sử dụng than, dầu
thì hiệu suất sử dụng chỉ đạt từ 30-50%.
2.3. Các dạng năng lượng xanh và việc khai thác, sử dụng chúng trên thế giới
Các dạng năng lượng xanh phổ biến gồm có: Năng lượng mặt trời, năng lượng gió,
năng lượng nước (thủy điện), năng lượng địa nhiệt, năng lượng thuỷ triều và nhiệt năng
biển, năng lượng sinh học, năng lượng hydro.
2.3.1.

Năng lượng mặt trời

Năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng phong phú nhất, dồi dào nhất trong tất cả
các nguồn năng lượng có sẵn trong tự nhiên. Năng lượng mặt trời sẽ không bao giờ cạn
kiệt vì theo những nghiên cứu của thiên văn học thì mặt trời của chúng ta chỉ mới sống
được một nửa tuổi thọ của nó, tức là nó còn có thể sống thêm khoảng 7,8 tỷ năm nữa
trước khi chuyển sang giai đoạn già và nuốt chửng tất cả các hành tinh khác trong hệ mặt
trời.
Ánh sáng mặt trời là một nguồn năng lượng dồi dào, mặt trời truyền đến cho ta một
năng lượng khổng lồ vượt ra ngoài sự tưởng tượng của mọi người. Trong 10 phút truyền
xạ, quả đất nhận một năng lượng khoảng 5 x 1020 J (500 tỷ tỷ Joule), tương đương với
lượng tiêu thụ của toàn thể nhân loại trong vòng một năm. Trong 36 giờ truyền xạ, mặt
trời cho chúng ta một năng lượng bằng tất cả những giếng dầu của quả đất. Năng lượng
mặt trời vì vậy gần như vô tận. Hơn nữa, nó không phát sinh các loại khí nhà kính và khí
gây ô nhiễm. Nếu con người biết cách thu hoạch nguồn năng lượng sạch và vô tận này thì
có lẽ loài người sẽ mãi mãi sống hạnh phúc trong một thế giới hòa bình không còn chiến
tranh vì những cuộc tranh giành quyền lợi trên các giếng dầu.

của Hiệp hội công nghiệp quang điện châu Âu, sau 8 năm, con số này đã tăng lên 5 lần.
Công suất 100 GW tương đương với tổng công suất của hàng chục nhà máy điện hạt
nhân9.
2.3.2.

Năng lượng nước:Thủy điện

Thủy điện là nguồn tài nguyên năng lượng tái tạo hàng đầu thế giới và đây là
phương pháp khai thác nguồn năng lượng sạch lâu đời nhất. Chẳng hạn như các bánh xe
nước đầu tiên đã được sử dụng cách đây hơn 2.000 năm.
Thủy điện là một công nghệ linh hoạt, đã được chứng minh, cải tiến và phát triển
qua nhiều năm, đặc biệt mỗi công trình đều có tính năng cụ thể do đó làm cho nó có tính
chất đổi mới cao trong ứng dụng và dễ dàng trong việc sử dụng rộng rãi các nguồn tài
nguyên có sẵn dù lớn hay nhỏ, hồ chứa hoặc dòng chảy, và bao gồm cả phạm vi thủy
triều, kênh rạch và thậm chí cả các công trình xử lý nước. Thủy điện là một trong những
cách đầu tư rẻ tiền nhất để tạo ra năng lượng, nó đóng một vai trò quan trọng trong sự ổn
định hệ thống điện của nhiều nước. Thủy điện hiện đang đóng góp 17% lượng điện và
50% năng lượng tái tạo trên thế giới. Vòng đời của dự án thủy điện có thể tồn tại hơn 100
năm, và đã có nhiều nhà máy thủy điện như vậy trên thế giới. Gilbert Gilkes & Gordon
Ltd Kendal tại Anh, đã sản xuất tua bin thủy điện có vòng đời hoạt động dài hơn so với
bất kỳ công ty nào khác trên thế giới.
2.3.3.

Năng lượng gió

9

/>
9



Sinh khối là vật liệu hữu cơ dự trữ ánh sáng mặt trời dưới dạng năng lượng hoá học,
năng lượng từ mặt trời được "giữ" lại bởi cây cối qua quá trình quang hợp trong giai đoạn
phát triển của chúng. Khi được đốt cháy, năng lượng hoá học này được giải phóng dưới
dạng nhiệt dùng để nấu nướng, sưởi ấm và làm nhiên liệu.
Khi thực vật sinh trưởng, chúng hấp thụ khí các-bon-níc (CO2) trong môi trường và
dự trữ nó thông qua quá trình quang hợp. Một lượng CO2 tương đương được giải phóng
khi thực vật bị phân huỷ tự nhiên hoặc đốt cháy. Điều đó có nghĩa là năng lượng sinh khối
không đóng góp vào quá trình phát thải khí nhà kính.
Trong tự nhiên, sinh khối bao gồm cây cối, cây trồng công nghiệp, tảo và các loài
thực vật khác, hoặc là những phụ phẩm của nông nghiệp và lâm nghiệp (rơm rạ, bã mía,
vỏ, xơ bắp, lá khô, vụn gỗ...), giấy vụn, mêtan từ các bãi chôn lấp, trạm xử lý.

10

/>
10


Trên quy mô toàn cầu, sinh khối là nguồn năng lượng lớn thứ tư, chiếm khoảng
14%-15% tổng năng lượng tiêu thụ của thế giới. Ở các nước đang phát triển, sinh khối
thường là nguồn năng lượng lớn, đóng góp khoảng 35% trong tổng cung cấp năng lượng.
Vì vậy năng lượng sinh khối giữ vai trò quan trọng và có khả năng sẽ giữ vai trò sống còn
trong việc đáp ứng nhu cầu năng lượng của thế giới trong tương lai.
Hiện nay trên thế giới có sáu hệ thống điện sinh học lớn, bao gồm: Đốt sinh khối
trực tiếp, đồng đốt cháy, khí hoá, tiêu hoá kỵ khí, nhiệt phân và hệ thống điện sinh học
nhỏ. Ước tính tới năm 2020, sản lượng điện sinh khối của thế giới là hơn 30.000 MW.
Mỹ là nước sản xuất điện sinh khối lớn nhất thế giới, có hơn 350 nhà máy và sản
xuất trên 7.500MW điện mỗi năm. Những nhà máy này sử dụng chất thải từ nhà máy
giấy, nhà máy cưa, sản phẩm phụ nông nghiệp, cành lá từ các vườn cây... Năng lượng


/>
11


Ở các vùng núi lửa hoạt động, ở độ sâu 1 -2 km tồn tại các bồn nhiệt thế cao 200300 C đã được khai thác để phát điện ở hơn 20 nước (Mỹ, Philipin, Indonesia,…) với
tổng công suất khoảng 10 GW. Khai thác năng lượng này bằng công nghệ bơm nhiệt đất
(Ground Source Heat Pump - GSHP) để điều hòa không khí từ quy mô gia đình đến
thương nghiệp đã được phổ biến rộng rãi ở nhiều nước (Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc,…)
đạt công suất hơn 20.000 MWt, và đã chứng tỏ đây là một giải pháp tiết kiệm (30 -50%)
năng lượng và giảm khí phát thải CO2 hiệu quả nhất12. Hiện có khoảng 12GW công suất
điện địa nhiệt được lắp đặt trên toàn thế giới, tập trung chủ yếu ở Mỹ (hơn 3GW) và
Philippines, Indonesia.
o

2.3.6.

Năng lượng Hydro

Hydro là nguyên tố hóa học nhẹ nhất với đồng vị phổ biến nhất chứa một proton và
một điện tử. Do hydro có hoạt tính cực mạnh nên hiếm thấy hydro tồn tại như một nguyên
tố riêng rẽ. Được làm mát tới trạng thái lỏng hydro chiếm 1/700 thể tích của trạng thái
khí, Hydro khi hoá hợp với ôxy có hàm lượng năng lượng cao nhất trên một đơn vị khối
lượng là 120,7 GJ/T, và nhiệt phát ra của một gram dung dịch hydro cháy có giá trị
142.000 J, tương ứng với 24 lần giá trị phát nhiệt của xăng. Do đó, khi sử dụng hydro sẽ
không tạo ra khí nhà kính và không phá hoại vòng luân chuyển của nước trong thiên
nhiên.
2.3.7.

Năng lượng thủy triều

tăng liên tục từ năm 2006 đến năm 2012 tăng thêm 1.300 TWh (Mtoe - triệu tấn dầu qui
chuẩn tương đương với 11,63 TWh), ước tính đến năm 2018 sẽ tăng thêm 2.000 TWh
(hình 3) và năng lượng xanh sẽ cung cấp khoảng gần 50% sản lượng điện của thế giới.
Hình 3. Tổng sản lượng năng lượng xanh của thế giới

Nguồn: Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA) 2012.
Evan Musolino, Viện Quan sát Thế giới (Worldwatch), cho hay ngoài chính sách hỗ
trợ về công nghệ, thời gian gần đây, các quốc gia có tiềm năng về năng lượng tái tạo còn
đẩy mạnh chính sách trợ giá cho RE, ban hành các tiêu chuẩn danh mục RE nhằm tăng tỷ
lệ sử dụng các nguồn tài nguyên không các-bon để tạo ra điện trong những năm sắp tới…
Như vậy năng lượng xanh có thể giúp các nước tăng cường an ninh năng lượng,
giảm sự phụ thuộc vào dầu và các nhiên liệu hóa thạch khác. Tăng cường lợi ích về môi
trường khi nó góp phần duy trì đa dạng sinh học và kiểm soát phát thải khí nhà kính. Các
cơ sở khai thác và cung cấp năng lượng tái tạo sẽ tạo thêm nhiều việc làm mới và nhiên
liệu cho nền kinh tế địa phương.
2.4. Mười công trình năng lượng xanh lớn nhất thế giới
1.

Tổ hợp Nhà máy Điện địa nhiệt Geysers - California, Mỹ

Đây là một tổ hợp công trình bao gồm 22 nhà máy điện địa nhiệt, sử dụng hơi nước
nóng từ hơn 350 giếng để các turbine phát điện với công suất lắp đặt 1.517MW. Geysers
cung cấp đủ cho nhu cầu dùng điện của 1,1 triệu người.
2. Trang trại gió Roscoe - Texas, Mỹ

13

/>
13


cấp cho 500 nghìn hộ gia đình. Với dự án Sihwa, Hàn Quốc đang thực hiện giai đoạn đầu
của kế hoạch biến bờ biển phía tây nước này thành vành đai nhà máy điện thủy triều lớn
nhất thế giới.
7. Nhà máy Điện năng lượng mặt trời Solnova - Tây Ban Nha
Nhà máy Điện Solnova là nhà máy điện sử dụng công nghệ năng lượng mặt trời tập
trung (CSP) lớn nhất thế giới. Nhà máy gồm 5 trạm phát điện, mỗi trạm công suất 50MW,
do Công ty Abengoa sở hữu và điều hành. Ở Solnova, một số trạm phát điện được trang
bị thêm để có thể sử dụng khí đốt như một nguồn nhiên liệu thứ cấp để sản xuất điện.
8. Nhà máy Điện thủy triều Le Rance - Brittany, Pháp

14


Ngay từ năm 1963, nước Pháp đã phát triển nhà máy điện thủy triều đầu tiên trên thế
giới ở La Rance. Nhờ kết nối thành công với hệ thống đường dây tải điện vào năm 1967,
với công suất 240MW mỗi năm, nhà máy này có thể cung cấp tới 600GWh điện, đưa
nước Pháp vươn lên dẫn đầu thế giới suốt nhiều thập kỷ về dạng năng lượng này, đồng
thời, thu hút khoảng 200.000 khách du lịch mỗi năm. Sau gần 40 năm ở ngôi đầu bảng, La
Rance đã nhường lại vị trí này cho nhà máy điện thủy triều Sihwa (Hàn Quốc) vào năm
2011.
9. Nhà máy Điện năng lượng mặt trời Andasol - Andalusia, Tây Ban Nha
Andasol là nhà máy điện năng lượng mặt trời máng parabol được đưa vào vận hành
thương mại đầu tiên tại châu Âu. Nằm trên vùng núi Andalusia, ở độ cao trung bình
1.100m so với mực nước biển, hơn 600.000 tấm gương parabol của nhà máy có điều kiện
để thu nhận ánh sáng mặt trời tốt hơn so với toàn bộ bán đảo Arập Xêút. Với diện tích lớn
tương đương 210 sân bóng đá và công suất 150MW, Andasol có thể đáp ứng nhu cầu
năng lượng cho nửa triệu người và có thể tiếp tục phát điện trong khoảng thời gian từ 810 tiếng đồng hồ sau khi mặt trời lặn.
10. Dự án điện thẩm thấu của Statkraft - Tofte, Na Uy
Dự án nhà máy điện đặc biệt này được xây dựng bên bờ vịnh Oslo, cách thủ đô Oslo
của Na Uy khoảng 60km về phía nam và do Tập đoàn Statkraft, công ty năng lượng tái

tích quá trình phát triển năng lượng xanh Hàn Quốc trong những năm qua và triển vọng
trong những năm tới.
3.1. Chính sách, biện pháp thúc đẩy phát triển năng lượng xanh
Môi trường năng lượng toàn cầu đã thúc đẩy tăng trưởng xanh của Hàn Quốc,
sự tăng trưởng đạt được bằng cách phát triển công nghệ năng lượng thân thiện với môi
trường. Hàn Quốc cho rằng năng lượng mới và năng lượng tái tạo (từ nay viết tắt là NRENew & Renewable Energy) đều là năng lượng xanh. Thủ tướng Lee Myung-bak trong bài
diễn văn kỉ niệm ngày độc lập 15 tháng 8 năm 2008 đã tuyên bố “tăng trưởng xanh, ít các
bon” như là viễn cảnh phát triển quốc gia. Phát triển công nghệ năng lượng xanh được
xem là chìa khóa cho việc đạt mục tiêu cắt giảm khí nhà kính và tạo ra động lực tăng
trưởng cho tương lai.
Kế hoạch 5 năm cho tăng trưởng xanh và Chiến lược quốc gia cho tăng trưởng xanh
được đưa ra vào tháng 7 năm 2009. Cả 2 văn kiện này đều cho thấy quyết tâm của chính
phủ trong việc thực hiện mục tiêu xây dựng Hàn Quốc thành một trong bảy đất nước xanh
lớn nhất thế giới vào năm 2020. Để thực hiện mục tiêu này Hàn Quốc sẽ cố gắng tăng khả
năng tự cấp năng lượng, giảm phụ thuộc vào dầu lửa, tiến hành nghiên cứu và phát triển
công nghệ xanh, sử dụng kết quả nghiên cứu như là động lực cho tăng trưởng, nuôi dưỡng
các ngành công nghiệp xanh.
Để có thể đảm bảo mục tiêu nâng cao khả năng tự cấp năng lượng và phát triển
NRE, chính phủ đã có những biện pháp cụ thể về năng lượng như sau
3.1.1. Các biện pháp kiểm soát và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng
Như chúng ta đã biết, Hàn Quốc là nước tiêu thụ khá nhiều năng lượng, và nguồn năng
lượng đó chủ yếu nhập khẩu từ nước ngoài. Nhu cầu năng lượng của Hàn Quốc sẽ tiếp tục
tăng mạnh khi nền kinh tế vẫn đang tăng trưởng tốt. Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra nhiều
chính sách kiểm soát và sử dụng có hiệu quả năng lượng.
Chính sách kiểm soát và sử dụng có hiệu quả năng lượng được thực hiện thông qua
nhiều biện pháp như: Khuyến khích sản xuất và sử dụng máy móc, thiết bị có năng suất
cao; Kiểm soát trực tiếp thiết bị phụ tải; Đẩy mạnh chương trình khuyến khích và hỗ trợ
cho các sản phẩm có hiệu suất năng lượng cao; Khuyến khích phối hợp cung ứng năng
lượng; Điều phối cung ứng điện và nhiệt; Áp dụng rộng rãi hình thức hợp đồng thoả thuận tự
nguyện sử dụng năng lượng; Tiết kiệm năng lượng thông qua chương trình hợp tác chuyển

đã xây dựng lộ trình quốc gia cho ngành công nghiệp lưới điện thông minh, năm 2011
đưa ra bộ luật đặc biệt dành cho lưới điện thông minh cấp nhà nước. Đảo Jeju của Hàn
Quốc có lưới điện thông minh thử nghiệm với quy mô lớn nhất thế giới.
Tính đến tháng 7năm 2011, đã có hơn 2.000 ngôi nhà tại vùng Tây Bắc đảo Jeju
được trang bị hệ thống lưới điện thông minh. Dự án thử nghiệm trị giá 220 triệu USD này
được triển khai nhằm giảm chi phí sử dụng điện và mức độ tiêu thụ năng lượng của địa
phương thông qua việc sử dụng những thiết bị công nghệ thông minh hơn, giúp tăng hiệu
quả sử dụng điện và tạo ra nhiều nguồn năng lượng tái tạo hơn nữa. Ông Park Kyeongjong, quản lý cấp cao của nhóm dự án lưới điện thông minh đảo Jeju của SK Telecom ước
tính “ngay cả khi khách hàng chưa quen với việc sử dụng các thiết bị này thì cũng đã
giảm được ít nhất 5-10% chi phí hằng tháng”15.
Để phát triển lưới điện thông minh, Hàn Quốc đã tăng cường hỗ trợ cho các ngành
sản xuất các loại công tơ điện thông minh, các máy nạp điện cho xe chạy bằng điện, hệ
thống lưu điện. Công tơ điện thông minh (AMI) còn được gọi là “tủ điện kỹ thuật số” và
là một trong những hạt nhân của mạng lưới điện thông minh. Công tơ điện thông minh sẽ
kết nối khách hàng sử dụng điện với nhà cung cấp, tính giá điện theo những thời điểm
khác nhau. Người tiêu dùng sẽ hạn chế việc sử dụng điện trong thời gian giá điện cao, vừa
đạt được lợi ích về mặt kinh tế, lại vừa giảm được tải trọng của mạng lưới điện vào thời
gian cao điểm. Chính phủ Hàn Quốc đang đưa ra kế hoạch tăng cường cung cấp công tơ
15

Tạp chí “Nhịp cầu đầu tư” số 247 ngày 5/09/2011

17


điện thông minh từ 720.000 chiếc trong năm 2011 lên mức 10 triệu máy cho toàn bộ
người tiêu dùng.
Con số 500 máy xạc điện cho xe chạy bằng điện trong năm 2011 dự kiến sẽ tăng lên
150.000 máy năm 2016. Số lượng máy xạc điện tăng sẽ tạo cơ hội cho việc phát triển thị
trường xe ô tô chạy bằng năng lượng điện. Chính phủ đã đưa ra kế hoạch xây dựng cơ sở

LED tại khu vực công cộng như bãi đỗ xe tầng hầm tại các khu vực xây dựng mới, các cơ
quan, bệnh viện, siêu thị cũng được đưa vào diện khảo sát để áp dụng.
16

/>
18


Hàn Quốc cũng sẽ mở rộng nghiên cứu và phát triển (R&D) dài hạn ngành công
nghiệp LED, nâng cao năng lực kỹ thuật các doanh nghiệp, hỗ trợ cho “kỹ thuật chiếu
sáng bằng hệ thống LED”. Kỹ thuật chiếu sang bằng hệ thống LED là kỹ thuật chiếu sáng
thân thiện với con người sử dụng cảm biến thông minh hay bộ điều khiển thông minh.
Chính phủ cũng sẽ có kế hoạch tăng thị phần của các doanh nghiệp vừa và nhỏ từ 15%
hiện nay lên 40% trong lĩnh vực R&D bao gồm công nghệ của 8 loại phụ kiện trong chiếu
sáng LED như cấu kiện cảm biến, bộ điều khiển…
3.1.2. Chiến lược đối phó với biến đổi khí hậu toàn cầu
Chính phủ Hàn Quốc đã phát triển và thực hiện nhiều chính sách mới trong lĩnh vực
năng lượng và môi trường từ sau năm 2006. Nổi bật nhất là cam kết giảm 30% lượng phát
thải khí nhà kính (KNK) với điều kiện kinh doanh bình thường vào năm 2020. Hàn Quốc
đã lồng cam kết này vào trong Chiến lược tăng trưởng xanh và đã chuyển thành luật, đó là
Luật khung về tăng trưởng xanh.
Hàn Quốc đang trong quá trình thực hiện cơ chế quản lý mà những cơ sở phát thải
lớn đồng ý với tiêu chuẩn giảm phát thải. Năm 2012 chính phủ thông báo Chương trình
mua bán phát thải (ETS- Emission Trading Scheme) và sẽ được thực hiện vào năm 2015.
Cơ chế này có khả năng cung cấp những phương thức hiệu quả và kinh tế để giảm phát
thải. Chính phủ cũng đã áp dụng một loạt tiêu chí đã được OECD thông qua để đánh giá
những tiến bộ đối với tăng trưởng xanh và để đo lượng phát thải KNK. Chính sách sử
dụng năng lượng hiệu quả đã được phát triển để hỗ trợ cho mục tiêu giảm 30% phát thải
KNK. Hàn Quốc đã áp dụng một số tiêu chuẩn nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực giao thông
và xây dựng. Chẳng hạn như tiêu chuẩn đối với việc sử dụng năng lượng hiệu quả, tiêu

hỗ trợ các nguồn năng lượng gió, năng lượng thủy triều và năng lượng sinh học. Ngoài
các chính sách trên, để cắt giảm phát thải khí nhà kính Hàn Quốc đã thực hiện kế hoạch
khuyến khích các công dân điều chính lối sống sinh hoạt hàng ngày của mình. Sự tham
gia rộng rãi của người dân là yếu tố quan trọng cho chiến dịch toàn quốc nhằm đối phó
với biến đổi khí hậu.
Chính phủ Hàn Quốc cũng đưa ra Chiến lược phát triển ngành công nghiệp năng
lượng mới và năng lượng tái tạo vào tháng 10 năm 2010, với mục tiêu xây dựng đất nước
thành nước sản xuất năng lượng tái tạo lớn thứ 5 trên thế giới. Theo chiến lược này đến
năm 2022, các công ty phải sử dụng ít nhất 10% các nguồn năng lượng mới và tái tạo.
Tuy nhiên do tỉ lệ năng lượng tái tạo được sử dụng còn thấp nên năng lượng nguyên
tử vẫn được coi như là một biện pháp góp phần quan trọng vào việc cung cấp điện và cắt
giảm khí nhà kính của Hàn Quốc. Hiện nay Hàn Quốc có 23 lò phản ứng nguyên tử, cung
cấp khoảng 1/3 nhu cầu nhiên liệu cho nước này. Theo dự kiến tới năm 2024, Hàn Quốc
sẽ có thêm 11 lò phản ứng nguyên tử nữa. Theo kế hoạch cơ bản về năng lượng quốc gia
lần 1, Hàn Quốc đặt chỉ tiêu xuất khẩu 80 lò phản ứng nguyên tử trị giá 300 tỷ USD vào
năm 2030. Tuy nhiên, ngày 11 tháng 10 năm 2013, nhóm tư vấn chính phủ về Kế hoạch
năng lượng cơ bản với sự tham gia phối hợp giữa các chuyên gia và quan chức chính phủ
đã đưa ra bản dự thảo Kế hoạch cơ bản về năng lượng quốc gia lần thứ hai trong giai đoạn
2015-2035. Theo đó, nhóm tư vấn chính phủ đã đề nghị cắt giảm tỷ lệ nhà máy điện
nguyên tử từ 41% năm 2035 xuống còn khoảng 22% đến 29%. Tính theo nguồn nhiên
liệu dùng cho phát điện năm 2013 thì nhà máy điện nguyên tử chiếm 26,4%, nhà máy
nhiệt điện đốt than chiếm 31% và nhà máy nhiệt điện sử dụng khí gas thiên nhiên hóa
lỏng chiếm 28%. Như vậy, nếu theo dự thảo đề xuất của nhóm tư vấn chính phủ thì đến
năm 2035 cần giữ nguyên tỷ lệ theo tiêu chuẩn hiện tại. Bên cạnh đó, nhóm tư vấn cũng
khuyến cáo Chính phủ nên điều chỉnh giá năng lượng như tăng giá điện, giảm giá các chi
phí khác như dầu và khí gas thiên nhiên hóa lỏng nhằm giảm độ phụ thuộc vào điện.
Ngoài ra, nhóm còn đề xuất giảm trên 15% nhu cầu điện thông qua việc tích cực quản lý
tiêu thụ điện và đảm bảo 15% tổng lượng điện bằng nguồn điện khác từ các thiết bị phát
điện cá nhân.
Nếu dự thảo lần này được thực hiện thì cũng đồng nghĩa với việc Chính phủ sẽ sửa

hiện đầu tư ít nhất 2% tổng sản phẩm quốc nội cho quá trình nghiên cứu và phát triển các
nguồn năng lượng mới và năng lượng tái tạo (NRE).
Kế hoạch năng lượng lần đầu cũng chú ý tăng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển
cho điện gió, điện mặt trời và tế bào quang điện. Để đạt được những mục tiêu đó, chính
phủ dự kiến sẽ đầu tư khoảng 93,3 tỉ USD cho tới năm 2030. Một tỉ lệ lớn của số tiền này
sẽ dành cho nghiên cứu và phát triển cơ bản, bao gồm sự phát triển các công nghệ cụ thể
như SiPV (Silicon Based Photovoltaic: quang điện dùng silicon), quang điện CIGS dùng
hỗn hợp Copper (đồng) Indium –Gallium –Selenide vào năm 2015, và quang điện hữu cơ
vào năm 2020. Bên cạnh đó việc thử nghiệm và phát triển lưới điện thông minh cũng đã
được triển khai ở Jeju và một số địa phương. Kế hoạch năng lượng tổng thể lần thứ hai sẽ
tăng cường các mục tiêu nhằm cắt giảm khí nhà kính và xây dựng công nghệ xanh thành
động lực cho tăng trưởng trong tương lai. Ngoài các biện pháp về công nghệ, Hàn Quốc
chú ý đến các biện pháp về tuyên truyền cộng đồng, giáo dục - đào tạo, v.v...để toàn thể
cộng đồng hưởng ứng và hành động đúng trong phát triển, bảo vệ và sử dụng các nguồn
năng lượng có hiệu quả. Tiến hành cuộc cách mạng thay đổi về lối sống gồm cả thói quen
tiêu dùng, có chính sách văn hoá xanh, cải tổ hệ thống thuế quan thân thiện môi trường
sinh thái. Hiện nay đã nhiều gia đình Hàn Quốc sử dụng bình đun nước nóng dùng năng
lượng mặt trời hoặc lắp đặt thiết bị sản xuất điện phục vụ cho gia đình. Đến năm 2012 đã
có trên 50% hộ gia đình lắp đặt các thiết bị đun nước nóng và các tấm pin mặt trời,
110.000 ngôi nhà xanh với việc sử dụng điện hoàn toàn bằng năng lượng tái tạo.
3.2. Thực trạng phát triển năng lượng xanh của Hàn Quốc
21


Chúng ta có thể thấy rõ sự tăng trưởng đều đặn về năng lượng xanh của Hàn Quốc
qua hình 4. Nếu như năm 1990 năng lượng mới và năng lượng tái tạo (viết tắt là NRE)
mới chỉ chiếm 0,4% tổng năng lượng sơ cấp của Hàn Quốc thì đến năm 2004 đã tăng lên
2,04%. Từ năm 2005 đến năm 2010, năng lượng mới và năng lượng tái tạo đã tăng 88%.
Và tính đến cuối năm 2011, NRE đã tạo được 7.583.000 toe chiếm 2,75% tổng tiêu thụ
năng lượng sơ cấp của Hàn Quốc là 275.688 nghìn toe. Trong tổng NRE thì rác chiếm tỉ

tâm theo đuổi tăng trưởng xanh ít các bon. Năm 2010, công suất lắp đặt là 350 MW. Theo
mạng the wind power website, công suất năng lượng gió là 407 MW vào cuối năm 2011,
tăng 7,4% so với năm 2010, và Hàn Quốc hiện có 32 trang trại gió đang vận hành. Điện
gió chiếm 3% tổng công suất điện của Hàn Quốc vào năm 2012.
Điện gió sẽ chiếm ưu thế về dài hạn ở Hàn Quốc. Chính phủ hy vọng trong giai
đoạn 2012-2022 năng lượng gió sẽ tăng thêm khoảng 10,2 GW, trong đó 7,7 GW sẽ được
sản xuất từ các trang trại gió ven biển, còn 2,5 GW - tương đương với công suất của hai
nhà máy điện nguyên tử sẽ sản xuất từ các trang trại ở ngoài khơi. Chính phủ đã công bố
Kế hoạch tổng thể về năng lượng gió vào cuối năm 2011và cho biết sẽ cần một khoản đầu
tư 8,2 tỉ USD cho các trang trại gió ngoài khơi. Chính phủ đã qui hoạch những khu vực
đặc biệt cho việc phát triển điện gió ngoài khơi như dự định xây dựng những trang trại gió
20-40 MW ở Yeongheung và Saemangeum và một chuỗi máy phát công suất 5 MW dọc
theo bờ biển phía nam và phía tây.
Hàn Quốc có 27 cơ sở sản xuất thủy điện với tổng công suất là 540 MW. Trạm phát
điện bằng năng lượng thủy triều lớn nhất trên thế giới là trạm phát điện trên hồ Sihwa với
tổng công suất là 254 MW và đã đưa vào hoạt động năm 2011.
3.2.3. Năng lượng Hydro:
Hàn Quốc đang đặt những bước đầu tiên trong việc sản xuất hydrogen. Chính phủ
nước này đã kí một văn bản ghi nhớ với 2 nhà cung cấp dầu mỏ SK Energy and SK
Engineering & Construction để xây dựng một trạm hydrogen từ rác đầu tiên trên thế giới.
Cả 2 công ty trên đều là công ty con của tập đoàn SK, Hàn Quốc. Nhà máy sẽ thu
hydrogen từ khí methan thoát ra từ các bãi rác. Trạm hydrogen đầu tiên sẽ được xây dựng
trên đảo Nanjido. Nanjido trước đây là một bãi rác tập trung khoảng 91triệu m3 rác trước
khi các nhà chức trách cho ngừng hoạt động vào năm 1993.
Về mặt lí thuyết, quá trình sản xuất là sau khi tách 2 thành phần của hợp chất
methan là hydrogen và cacbon, hydrogen sẽ được nén lại cho đến khi đạt 99,9% độ tinh
khiết. Loại hydrogen này sẽ cung cấp năng lượng cho 2 ô tô và 2 xe buýt chạy bằng nhiên
liệu hydrogen. Nhà máy cũng sẽ tạo ra khoảng 320KW điện để cung cấp điện và nước
nóng đến Nanji Art Studio trên đảo Nanjido. Công ty Huyndai Motor sẽ cung cấp miễn
phí bốn chiếc xe chạy thử, trị giá khoảng 4 triệu đôla.

ngành này đang gặp khó khăn vào năm 2012 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính ở
châu Âu.
Trước hết chính phủ sẽ tăng nguồn cung cấp năng lượng mới và tái tạo trong việc
sản xuất điện và tạo ra một thị trường rộng lớn với việc thực hiện Tiêu chuẩn vốn đầu tư
năng lượng tái tạo (viết tắt là RPS- Renewwable Portfolio Standard). Mới chỉ sau một
năm thực hiện RPS mà công suất lắp đặt thiết bị mới của các cơ sở đã tăng thêm 620
MW, tương đương với một nửa công suất lắp đặt của mười năm qua dưới chế độ ưu đãi
về thuế (viết tắt là FIT- Feed in Tariffs). Ngoài ra để tạo thị trường mới trong khu vực
cung cấp nhiệt và giao thông, chính phủ đang xem lại biện pháp, chính sách như Tiêu
chuẩn chính sách năng lượng tái tạo, nghĩa vụ sử dụng nhiệt bằng năng lượng tái tạo
(RHO- Renewable Heat Obligation). Chính phủ sẽ mở rộng việc thực hiện “Hệ thống lắp
đặt bắt buộc cho việc sử dụng năng lượng tái tạo”, để thúc đẩy đầu tư tư nhân bằng cách
tạo ra nhu cầu đối với năng lượng tái tạo trong khu vực công cộng. Chính phủ giúp các
công ty Hàn Quốc tăng sức cạnh tranh bằng cách hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, vận
hành những cơ sở thử nghiệm lớn và giúp địa phương hóa các thành phần và linh kiện để

19

Renewables 2012, « global status and reports », />
24


các công ty có thể xuất khẩu công nghệ và sản phẩm trong tương lai. Trong đó dự án “một
triệu ngôi nhà xanh” đang nhận được sự quan tâm của mọi tầng lớp nhân dân.
“Một triệu ngôi nhà xanh” là dự án lớn về năng lượng tái tạo do Chính phủ Hàn
Quốc khởi xướng từ năm 2009. Đây là dự án khuyến khích sử dụng nguồn năng lượng từ
mặt trời, gió, địa nhiệt…trong các ngôi nhà, để thay thế năng lượng hóa thạch, cũng như
giảm phát thải khí nhà kính. Chính phủ Hàn Quốc đặt ra mục tiêu đến năm 2020, sẽ có
hàng triệu hộ gia đình và các khu chung cư sử dụng năng lượng “xanh”.
Ước tính, tổng số tiền đầu tư cho dự án đến năm 2020 là hơn 137 tỷ won (khoảng


20

/>
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status