BỘ CÔNG THƯƠNG
VỤ NĂNG LƯỢNG
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI CẤP BỘ
(Mã số 225.08 RD/HĐ-KHCN)
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT CÁC CƠ CHẾ HỖ TRỢ
PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO
Ở VIỆT NAM
Chủ trì: TS. Phạm Hùng
7339
06/5/2009 Hà nội – tháng 4 năm 2009 1
BỘ CÔNG THƯƠNG
VỤ NĂNG LƯỢNG
I.2. Nội dung nghiên cứu của đề tài 7
CHƯƠNG II. NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG KHAI THÁC CÁC
NGUỒN NLTT CÓ TIỀM NĂNG Ở VIỆT NAM 8
II.1. Tóm tắt hiện trạng khai thác và sử dụng NLTT ở Việt Nam 8
II.2. Nghiên cứu và đánh giá khả năng khai thác các nguồn NLTT 9
II.2.1. Nguồn TĐN 9
II.2.2. Nguồn NLSK 11
II.2.3. Đánh giá tiềm năng và khả n
ăng khai thác nguồn NL KSH 15
II.2.4. Đánh giá tiềm năng và khả năng khai thác nguồn NLMT 16
II.2.5. Đánh giá tiềm năng và khả năng khai thác nguồn NL gió (NLG) 18
II.2.6. Đánh giá tiềm năng và khả năng khai thác nguồn NL Địa nhiệt 20
II.2.7. Đánh giá tiềm năng và khả năng khai thác NLSH 23
II.2.8. Đánh giá tiềm năng và khả năng khai thác điện thuỷ triều 24
II.2.9. Đánh giá tiềm năng và khả năng khai thác nguồn rác thải sinh hoạt (RTSH) cho sả
n
xuất NL 26
II.2.10. Tổng hợp tiềm năng & khả năng khai thác các nguồn NLTT ở Việt Nam 26
II.2.11. Các kết luận về tiềm năng và khả năng khai thác NLTT ở Việt Nam 27
CHƯƠNG III. NGHIÊN CỨU CƠ CHẾ HỖ TRỢ CỦA CÁC NƯỚC TRONG VIẸC
HỖ TRỢ THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN NLTT 29
III.1. Một số cơ chế hỗ trợ đã được các nước trên thế giới áp dụng 29
III.1.1. Về khuyến khích đầu tư 29
III.1.2. Về Khuyến khích sản xuất 31
III.1.3. Về hỗ trợ R&D 32
III.2. Chiến lược và chính sách phát triển NLTT ở các nước trong khu vực 32
III.2.1. Trung quốc 32
III.2.2. Thái Lan 34
III.2.3. Ấn Độ 34
III.2.4. Indonesia 35
ận thức và xây dựng nguồn nhân lực về NLTT 59
VI.4. Quản lý nhà nước về NLTT 59
VI.4.1. Mô hình quản lý 59
VI.4.2. Quản lý và tổ chức thực hiện 60
VI.4.3. Nghĩa vụ của các tổ chức cá nhân hoạt động trong lĩnh vực phát triển và sử dụng các
nguồn NLTT 61
VI.5. Kiểm tra và đánh giá 61
CHƯƠNG VII. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
VII.1. Các kết luận 63
VII.2. Các kiến nghị 66
Tài liệu tham khảo 69
4
CHƯƠNG I. MỞ ĐẦU
I.1. Tổng quan chung về Đề tài
Năng lượng tái tạo (NLTT) từ lâu đã đóng một vai trò quan trọng trong tổng
tiêu thụ năng lượng (NL) cuối cùng ở Việt Nam (VN). Hiện tại, khoảng gần 70% dân
số khu vực nông thôn vẫn còn phụ thuộc vào nguồn năng lượng sinh khối (NLSK) cho
đun nấu. Ngoài ra, nguồn NL này cũng được sử dụng nhiều tại các cơ sở ngành nghề
thủ công nông thôn như sản xuấ
t gạch ngói, sành sứ, chế biến nông sản, thực phẩm.
Phế thải nông nghiệp, đặc biệt là bã mía, đang được sử dụng rộng rãi trong sản xuất
đường với công nghệ đồng phát (nhiệt và điện). Còn ở các khu vực nông thôn vùng
sâu vùng xa, thuỷ điện nhỏ (TĐN), đặc biệt là loại cực nhỏ quy mô hộ gia đình cũng
như các dự án cấp cộng đồng với lưới đ
iện nhỏ đã cung cấp một lượng điện năng nhất
định cho người dân khu vực miền núi. Hơn thế nữa, NL khí sinh học (KSH) với công
sức khoẻ con người đã thực sự phát sinh các chi phí đối với nền kinh tế.
5
Để đáp ứng nhu cầu điện cho phát triển kinh tế, VN cần khai thác các nguồn
than nội địa cho sản xuất điện, nhưng VN cũng là một thành viên có trách nhiệm trong
việc bảo vệ môi trường toàn cầu do vậy, VN cũng sẽ có trách nhiệm phát triển các
nguồn NL sạch có sẵn của mình.
Nhiều dự án NLTT sẽ bán được các chứng chỉ giảm phát thải các bon cho cộng
đồng quốc tế, đây sẽ là các ngu
ồn thu bổ sung thêm để hỗ trợ và thúc đẩy cho các dự
án NLTT phát triển ở VN.
NLTT sẽ có vai trò thực sự trong giai đoạn tới, bởi lẽ : (i). Sự cần thiết đa dạng
hoá các nguồn NL là định hướng trong chiến lược phát triển NL của VN; và (ii). Tác
động do sự không ổn định của thị trường NL hoá thạch thế giới.
Các dự án thuỷ điện nhỏ hiếm khi có những vấn đề lớ
n như tái định cư các hộ
gia đình. Việc giữ nước để vận hành các nhà máy TĐN trong giờ cao điểm cần mặt
bằng và khối lượng tích trữ rất nhỏ vì vậy, ít tạo ra những vấn đề về môi trường.
Các dự án điện SK thường là sử dụng ngay các phế thải đáng nhẽ phải bỏ đi của
các cơ sở chế biến (như tr
ấu tại các cơ sở xay xát lúa, bã mía tại các nhà máy
đường…) tạo ngay ra nguồn NL (cho sản xuất điện và nhiệt) không những đủ đáp ứng
nhu cầu tại chỗ mà còn cung cấp lượng điện thừa đáng kể cho lưới điện địa phương
hoặc các hộ tiêu thụ lân cận. Điều này mang lại hiệu quả cao không những cho Quốc
gia mà còn trực tiếp cho các cơ sở sản xuất.
Sự phát triển dân sinh-kinh tế kéo theo sự tăng nhu cầu sử dụng nước nóng tại
các hộ gia đình, các khách sạn, toà nhà mà hiện nay phần lớn chúng đang được đáp
ứng bởi nguồn điện lưới, đó là một trong các nguyên nhân dẫn tới nhu cầu điện tăng,
đặc biệt vào giờ cao điểm, sử dụng các nguồn NLTT như mặt trời, KSH… sẽ góp phần
thay thế được mộ
nay, chưa có cơ quan nào được giao thu thập, cập nhật và thông kê như đã làm với các
dạng NL thương mại. Hiện tại, việc đánh giá thấu đáo tiềm năng NLTT có sự dao
động lớn là do thiếu cơ sở dữ liệu tin cậy. Do đó, cần phải xem xét và thực thi cho
công tác này.
Về trình độ áp dụng công nghệ: Hiện nay ở VN còn thiếu các doanh nghiệp
thươ
ng mại cung cấp các thiết bị NLTT và dịch vụ điện liên quan đến NLTT. Do vậy,
các công nghệ NLTT phần lớn chưa chế tạo được trong nước mà phải nhập khẩu. Các
dịch vụ sau lắp đặt chưa có, đặc biệt là ở vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa.
Về đối tượng và phạm áp dụng: Mặc dù chủ trương mua điện từ các dự án
NLTT để đấu nối vào lưới quốc gia đã thực hi
ện, nhưng trong thời gian qua còn có
nhiều khó khăn trong việc thương thảo giá - chưa có quy chế cụ thể về giá bán điện lên
lưới. Đối với sự nghiệp điện khí hoá nông thôn cũng cần sớm có cơ chế đầu tư và
hướng trợ cấp cho dân cư vùng ngoài lưới.
Mặc dù có nhưng trở ngại trên nhưng Chính phủ VN, các Bộ ngành đã nhìn
thấy tầm quan trọng của việc đảm b
ảo rằng các nguồn NLTT sẵn có của VN sẽ được
phát triển và rằng các rào cản về tổ chức, thể chế và tài chính sẽ dần được khắc phục
để NLTT sẽ có đóng góp tốt cho phát triển dân sinh, kinh tế, xã hội và môi trường của
VN trong giai đoạn tới.
I.1. Mục tiêu của Đề tài
1. Nghiên cứu đề xuất các cơ chế, chính sách hỗ trợ cho phát triển NLTT ở Việt
Mam
2. Nhằm t
ừng bước thúc đẩy mạnh mẽ việc phát triển NLTT ở VN trong thời
gian tới, phấn đấu góp phần đạt các mục tiêu của chiến lược phát triển NL trong giai
đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày
27/12/2007.
Giá mua điện hiện nay từ các dự án điện tái tạo khoảng 4Uscents/kWh là không
hấp dẫn các nhà đầu tư.
Khai thác các nguồn NLTT tại chỗ cung cấp điện cho khu vực nông thôn,
vùng sâu, vùng xa và hải đảo
Có hai h
ệ thống cung cấp điện từ NLTT cho các khu vực này đang được khai
thác là: (i). lưới điện độc lập quy mô nhỏ; và (ii). điện cho hộ gia đình riêng rẽ.
Đối với lưới điện độc lập quy mô nhỏ, các công nghệ đang được áp dụng, gồm:
(i) TĐN (<100KW); (ii). Hệ thống lai ghép gió-mặt trời; Gió-diezel, và mặt trời–TĐN.
Còn đối với quy mô hộ gia đình sử dụng các tấm pin mặt tr
ời công suất trung bình
70W/hộ và thuỷ điện cực nhỏ công suất từ 200- 500W/hộ.
Theo kết quả điều tra, hiện có khoảng 49 nghìn hộ đang sử dụng điện từ các
nguồn trên. Khu vực miền núi thường khai thác nguồn TĐN và thuỷ điện cực nhỏ vì
đây là khu vực có có tiềm năng. Các khu vực khác kể cả miền núi nhưng không có sẵn
nguồn nước thì áp dụng công nghệ
điện mặt trời và gió. Một số nơi đã ứng dụng công
nghệ KSH cho phát điện nhưng không nhiều.
Hiện nay, có khoảng 1,25MW điện mặt trời, 1,2MW điện gió và hơn 50MW
TĐN và cực nhỏ đã được lắp đặt và vận hành cung cấp điện cho khu vực ngoài lưới.
Về tiêu thụ điện ở khu vực này như sau: Các hộ sử dụng nguồn T
ĐN có mức tiêu thụ
từ 25-35kWh/tháng. Còn đối với điện mặt trời và gió thì ít hơn, chỉ từ 10-15
kWh/tháng. Hầu hết các dự án điện NLTT ngoài lưới đều được tài trợ bởi nguồn vốn
từ ngân sách hoặc các tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều vấn đề bất cập
trong việc thiết kế, lắp đặt, quản lý, vận hành và bảo dưỡng các công trình này nên
hiệu qu
ả khai thác chưa cao. Thậm chí ngừng vận hành do thiếu kinh phí cho bảo trì và
thay thế thiết bị.
Khai thác và sử dụng NLTT đáp ứng nhu cầu nhiệt & nhiện liệu
ký Quyết định 177/2007/QĐ-TTg về việc phê duyệt "Đề án phát triển nhiên liệu sinh
h
ọc (NLSH)". Hiện nay, trong nước đang hình thành 6 dự án sản xuất cồn nhiên liệu
(ethanol), trung bình mỗi dự án có công suất khoảng 100 triệu lít/năm. Một số dự án
dự kiến sẽ đi vào sản xuất trong năm 2009–2010 sẽ cung cấp một lượng ethanol khá
lớn cho thị trường trong nước. Tuy nhiên, để sử dụng chúng một cách an toàn và bền
vững vẫn cần có các tiêu chuẩn về chất lượng.
II.2. Nghiên cứu và đánh giá kh
ả năng khai thác các nguồn NLTT
II.2.1.
Nguồn TĐN
Hệ thống sông ngòi của VN dày đặc được phân bố trên nhiều vùng lãnh thổ
khác nhau, nếu tính đến các sông suối có chiều dài trên 10km với dòng chảy thì có tới
2.360 con sông. Trong đó có đến 90% là các sông suối nhỏ, đây là cơ sở thuận lợi cho
phát triển TĐN.
Hiện tại, Thuỷ điện ở VN được “phân chia” thành bốn loại chính, đó là:
Các hệ thống thuỷ điện cực nhỏ, sở hữu bởi các hộ gia
đình ở các khu vực nông
thôn miền núi, có công suất trong khoảng 200 - <1000W, loại này chỉ đủ cho thắp sáng
vào thời vụ có sẵn nguồn nước.
10
Các hệ thống thuỷ điện không nối lưới chỉ cung cấp điện cho các hệ thống lưới
mini độc lập, có công suất đặc trưng từ 1kW đến 1MW.
Các hệ thống thuỷ điện nối lưới có dải công suất từ 1MW đến 30MW, và
Thuỷ điện lớn, có công suất trên 30MW.
Việc ước tính tiềm năng các nguồn TĐN hiện có sự bất định cao bởi thi
ếu các số
liệu về chi phí của dự án nên số liệu ước tính “tiềm năng vật lý” chỉ có tính tham khảo.
Quảng Ninh Bắc 2 23 95 0.47 1079
Thanh Hóa Bắc 8 17 74 0.51 1717
Nghệ An Bắc 18 151 646 0.49 1206
Hà Tĩnh Bắc 8 102 447 0.50 1269
Tổng
194 1685 7734 0.52 1317
Quảng Bình Trung 2 5 22 0.51 1593
Quảng Trị Trung 3 10 45 0.52 1385
TThiên Huế Trung 6 49 228 0.54 1193
Đà Nẵng Trung 3 10 43 0.50 1453
Quảng Nam Trung 27 130 637 0.56 1361
Quảng Ngãi Trung 10 72 315 0.50 1221
Bình Định Trung 11 60 245 0.47 1220
Khánh Hòa Trung 5 62 295 0.54 1062
Đắc Nông Trung 15 90 384 0.48 1181
Đắc Lắc Trung 12 53 231 0.50 1337
Gia Lai Trung 27 161 734 0.52 1197
Kon Tum Trung 27 141 657 0.53 1257
Lâm Đồng Trung 45 284 1248 0.50 1228
Tổng
194 1132 5109 0.52 1237
Ninh Thuận Nam 5 14 68 0.55 1429
Bình Thuận Nam 5 56 273 0.56 1093
Bình Phước Nam 10 38 170 0.51 1391
Tổng
20 108 511 0.54 1242
Toàn quốc 408 2925 13355 0.52 1283
miền núi với gam công suất dưới 0,1MW rất thích hợp cho phát triển quy mô lưới mini
hoặc cụm/hộ gia đình. Những khe suối với cột nước tự nhiên hoặc nhân tạo khoảng 0,7÷
0,8m đều có khả năng phát điện ở dạng này.
II.2.2.
Nguồn NLSK
VN có nhiều loại SK có thể sử dụng một cách hiệu quả để cung cấp và đáp ứng
một phần nhu cầu nhiên liệu và điện của đất nước. Các loại SK chính ở VN, gồm: (i).
Củi gỗ; (ii). Phế thải từ cây nông nghiệp.
Thuật ngữ “củi gỗ” là chất đốt có nguồn gốc từ gỗ. Nó chủ yếu bao gồm củi (vỏ
cây, cành và lá cây, cây bụi, v.v thu được từ
việc cắt tỉa cây) và phế thải gỗ thải ra từ
các nhà máy chế biến gỗ (nhà máy xẻ gỗ và nhà máy gỗ dán). Củi thường được khai
thác từ rừng tự nhiên và rừng trồng, từ các khu đất trống đồi trọc
1
, từ việc cắt tỉa cây
công nghiệp lâu năm (chè, cà phê, cao su, điều, v.v ), cây ăn trái (cam, nhãn, v.v ) và
cây trồng phân tán. Sản lượng củi khai thác bền vững được tính theo công thức sau:
EF = A × CSE
Với: EF – Sản lượng củi khai thác (tấn/năm); A – Diện tích đất rừng hoặc đất
trồng cây (ha); CSE – Hệ số khai thác củi bền vững (tấn/ha/năm).
1
Đất trống đồi trọc bao gồm đất chưa sử dụng và rừng đã khai thác. Các khu đất này thông thường được bao phủ
bởi thảm thực vật gồm các dạng thảo mộc, cây bụi và các loại cây nhỏ mọc phân tán.
12
Rừng tự nhiên và rừng trồng: Năm 2005, tổng diện tích rừng của VN khoảng
12,61 triệu ha, trong đó 10,28 triệu ha là rừng tự nhiên và 2,33 triệu ha là rừng trồng
2
Cây trồng phân tán: Năm 2005, có khoảng 3,45 tỷ cây trồng phân tán, tương
đương 3,45 triệu ha với mật độ 1.000 cây/ha. Cây trồng phân tán sản xuất 6,04 triệu
tấn củi (2005). Giai đoạn 2006-2020, số lượng cây trồng phân tán sẽ đạt 200 triệu
cây/năm. Do đó, sản lượng củi khai thác sẽ vào khoảng 7,79 triệu tấn vào n
ăm 2010.
Sản lượng củi gỗ khai thác từ các nguồn được trình bày trong bảng II.3.
Bảng II.3: Sản lượng củi khai thác (triệu tấn)
Nguồn cung cấp củi 2005 2010
Rừng tự nhiên 7,20 7,31
Rừng trồng 4,89 7,62
Đất trống đồi trọc 3,21 2,47
2
Quyết định số 1970/QĐ-BNN-KL-LN, ngày 6 tháng 7 năm 2006.
3
Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg, ngày 5 tháng 2 năm 2007.
4
Niên giám thống kê các năm. 13
Cây công nghiệp lâu năm 1,95 2,00
Cây ăn trái 0,38 0,41
Cây trồng phân tán 6,04 7,79
Tổng cộng 23,67 27,60
Nguồn: Báo cáo Chiến lược, Quy hoạch NLTT, VNL, 2008
Phế thải gỗ tại các nhà máy xẻ gỗ bao gồm các mảnh gỗ thừa (các đầu gỗ thừa,
các bìa bắp), vỏ và mùn cưa. Khối lượng phế thải gỗ có thể được tính toán dựa trên
khối lượng gỗ xẻ hàng năm.
Năm 2005, khoảng 8,08 triệu m
sinh trong năm 2005 vào khoảng 35,83 triệu tấn. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn (MARD)
5
, sản lượng lúa sẽ đạt 37,57 triệu tấn vào năm 2010. Áp dụng
cùng tỷ lệ trung bình giữa rơm và sản lượng lúa là 1:1 thì sản lượng rơm tạo ra vào
năm 2010 sẽ là 37,57 triệu tấn.
Phế thải sau thu hoạch mía: Phế thải sau thu hoạch mía bao gồm gốc, rễ, lá và
ngọn mía. Các loại phế thải này thường được thu gom để sử dụng như một nguồn chất
đốt đun nấu và cho các mụ
c đích sử dụng phi nhiên liệu khác. Với tỷ lệ trung bình giữa
5
Website:
14
phế thải và sản lượng mía là 1:10 thì tổng lượng phế thải vào năm 2005 là 1,5 triệu tấn.
Theo quy hoạch phát triển ngành mía đường đến năm 2010 và định hướng đến 2020
6
,
sản lượng mía sẽ tăng lên đến 24,0 triệu tấn vào năm 2010. Tổng lượng phế thải sẽ đạt
2,4 triệu tấn.
Phế thải sau thu hoạch ngô: Ngô được thu hoạch bằng cách hái, bóc lá bao
bắp ngô và tỉa hạt. Phế thải sau thu hoạch là thân cây, lá và lõi ngô (gọi chung là phế
thải sau thu hoạch ngô), thường được thu gom để sử dụng như một nguồn nhiên liệu
đun nấu hoặc để làm thức ăn ch
ăn nuôi (trâu và bò). Với tỷ lệ trung bình giữa phế thải
sau thu hoạch ngô và sản lượng ngô là 10:4 thì tổng phế thải sau thu hoạch ngô vào
năm 2005 là 9,47 triệu tấn. Theo MARD
7
, sản lượng ngô sẽ tăng lên đến 6,0 triệu tấn
Bảng II.4: Phế thải từ cây nông nghiệp (triệu tấn)
Nguồn phế thải 2005 2010
Phế thải nông nghiệp: 48,82 57,25
Rơm 35,83 37,57
Phế thải sau thu hoạch mía 1,50 2,40
Phế thải sau thu hoạch ngô 9,47 15,00
Thân cây sắn 2,02 2,28
Phế thải công-nông nghiệp: 12,00 15,12
Trấu 7,17 7,52
Bã mía 4,48 7,20
Vỏ lạc 0,15 0,18
Vỏ cà phê 0,20 0,22
Tổng cộng 60,82 72,37
Nguồn: Báo cáo Chiến lược, Quy hoạch NLTT, VNL, 2008
II.2.3.
Đánh giá tiềm năng và khả năng khai thác nguồn NL KSH
Nguyên liệu để sản xuất khí sinh học
Nguồn nguyên liệu để sản xuất KSH ở VN rất đa dạng đặc biệt các phụ phẩm từ
chăn nuôi và sản xuất nông nghiệp. Chăn nuôi VN đang trên đà phát triển để hội nhập,
đóng góp của chăn nuôi tăng từ 17,9% năm 1990 lên 22% năm 2004.
Chất thải chăn nuôi (phân gia súc) có thể được sử dụng để sản xuất KSH. Gia
súc chiếm s
ố lượng lớn ở VN là gà/vịt, lợn, bò và trâu. Các loại gia súc khác (ngựa, dê,
cừu, v.v ) chiếm số lượng nhỏ so với các loại gia súc nêu trên.
Năm 2005, số lượng các loại gia súc chính vào khoảng 27,44 triệu con lợn, 5,54
triệu con bò và 2,92 triệu con trâu. Tốc độ tăng bình quân trong giai đoạn 2001-2005
là 5,9% đối với lợn, 9,2% đối với bò và 1,0% đối với trâu. Theo MARD, số lượng gia
súc sẽ tăng lên đến 28 triệu con lợn, 7,2 triệu con bò và 3,2 triệu con trâu vào năm
2
/ngày. Mức 3: Khu vực
có bức xạ trung bình năm từ 3,2 ÷ 3,7 kWh/m
2
/ngày. Mức 4: Khu vực có bức xạ trung
bình năm từ 3,2 kWh/m
2
/ngày trở xuống. Với các khu vực ở mức 1 thì khai thác và sử
dụng NLMT đạt hiệu quả cao, mức 2 đạt hiệu quả, mức 3 bình thường, mức 4 thì
không có hiệu quả.
Việc đo đạc và đánh giá dữ liệu cường độ bức xạ mặt trời thường xuyên ở các
vị trí có thể mới chỉ là điều kiện cần thiết ban đầu để triển khai ứng dụng NLMT. Vì
thế, cần thiết phải biết rõ các giá trị bức xạ mặt trời trong cả năm tại vị trí cụ thể, nơi
mà hệ thống thiết bị sử dụng NLMT sẽ được thiết kế và xác định công suất. Ngoài ra,
thông số về số giờ nắng cũng là một chỉ tiêu để đánh giá tiềm năng khả thực.
Theo số liệu thông kê của Ngành Khí tượng Thuỷ vă
n về số giờ nắng (số liệu
bình quân 20 năm) ở nước ta, thì có thể chia thành 3 khu vực như sau:
* Khu vực 1: Các tỉnh vùng Tây Bắc (Sơn La, Lai châu): Số giờ nắng tương đối
cao từ 1897 ÷ 2102 giờ /năm.
* Khu vực 2: Các tỉnh còn lại của miền Bắc và một số tỉnh từ Thanh Hóa đến
Quảng Bình. Số giờ nắng trung bình năm từ 1400 ÷ 1700 giờ /năm.
* Khu vực 3: Các t
ỉnh từ Huế trở vào: Số giờ nắng cao nhất cả nước từ 1900 ÷
2900 giờ /năm.
Theo đánh giá, những vùng có số giờ nắng từ 1800giờ/năm trở lên thì được coi
là có tiềm năng khả thực để khai thác sử dụng. Đối với VN, thì tiêu chí này phù hợp
với nhiều vùng, nhất là các tỉnh phía Nam. Ở VN, NLMT được coi là nguồn NL phong
phú bởi nơi nào cũng có, và có những đặc điểm nổi b
ật sau đây :
Giá trị tổng xạ trung bình ngày cao nhất vào các tháng 2,3,4,5 và tháng 9 khoảng 5,2
kWh/m
2
.ngày. Còn các tháng khác trong năm giá trị tổng xạ trung bình 3,5
kWh/m
2
.ngày.
Vùng Đông bắc: Nắng thịnh hành từ tháng 5 đến tháng 11. Tổng xạ mạnh nhất
từ tháng 5 đến tháng 10, trong các tháng 1, 2, 3 thì sụt xuống thấp. Số giờ nắng trung
bình thấp nhất trong các tháng 2, 3 (dưới 2 giờ/ngày), cao nhất vào các tháng 5 (6 ÷ 7
giờ/ngày), giảm vào tháng 6, sau đó lại duy trì ở mức cao vào tháng 7 ÷ 10. Tổng xạ
trung bình cũng diễn biến tương tự và lớn hơn 3,5 kWh/m
2
.ngày vào các tháng 5 ÷ 10.
Một số nơi có dãy núi cao, chế độ bức xạ mặt trời có khác biệt với vùng đồng bằng.
Mây và sương mù thường che khuất mặt trời nên tổng xạ trung bình hàng ngày không
vượt quá 3,5 kWh/m
2
.ngày.
Bắc trung bộ: Càng đi về phía nam thời gian nắng càng dịch lên sớm hơn, từ
tháng 4 ÷ 9. Tổng xạ mạnh nhất từ tháng 4 ÷10, trong các tháng 1, 2, 3 thì sụt xuống
thấp. Số giờ nắng trung bình thấp nhất trong các tháng 2, 3 (dưới 3 giờ/ngày), cao nhất
vào các tháng 5 (7÷ 8 giờ/ngày), giảm vào tháng 6, sau đó lại duy trì ở mức cao vào
tháng 7÷10. Tổng xạ trung bình lớn hơn 3,5 kWh/m
2
.ngày vào các tháng 5 ÷10. Các
tháng 5 ÷ 7 tổng xạ trung bình có thể vượt quá 5,8 kWh/m
2
.ngày.
Vùng Nam trung bộ: Càng về phía nam, thời kỳ thịnh hành nắng càng sớm và
Đánh giá tiềm năng và khả năng khai thác nguồn NL gió (NLG)
Với hơn 3000 km bờ biển và thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, VN
được đánh giá là quốc gia có tiềm năng NL gió khá tốt. Tuy nhiên, như nhiều quốc gia
đang phát triển khác, tiềm năng NL gió của VN vẫn chưa được lượng hoá ở mức độ
phù hợp. Cho đến nay nguồn dữ liệu về gió chủ yếu vẫn là từ các trạm khí tượng thuỷ
văn. Tốc độ gió trung bình năm thu thập được t
ừ các trạm này tương đối thấp, khoảng
2-3 m/s ở khu vực đất liền. Khu vực ven biển, tốc độ gió khá hơn từ 3 đến 5 m/s. Ở
khu vực các đảo, tốc độ gió trung bình có thể đạt 5 đến 8 m/s.
Tuy nhiên, số liệu từ các trạm khí tượng thuỷ văn nhìn chung không có độ
chính xác cao và ít tính đại diện cho khu vực do vị trí đo thường ở trong thành phố và
thị trấn và độ cao đo thấp, khoảng 10m với t
ần suất đo 4 lần/ngày.
Trước vấn đề này, năm 2001, WB đã khởi xướng đề án xây dựng bản đồ NL gió
cho bốn quốc gia gồm Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam
i
. Nghiên cứu này dựa
vào số liệu từ các trạm khí tượng thuỷ văn cùng với mô hình mô phỏng để đánh giá
tiềm năng NL gió tại độ cao 65 m và 30 m, tương ứng với độ cao của tua bin gió nối
lưới và tua bin gió lưới độc lập. Nguồn dữ liệu thuỷ văn do Viện Khí tượng Thuỷ văn
Quốc gia (VNIHM) và Cơ quan Thông tin Khí quyển và Đại dương của Mỹ (NOOA)
cung cấp. Từ năm 2004, NOOA đã có kế
t nối với 24 trạm khí tượng thuỷ văn ở VN để
thu thập dữ liệu.
Theo nghiên cứu này, VN là nước có tiềm năng NL gió tốt nhất trong 4 nước.
Hơn 39% lãnh thổ của VN có tốc độ gió lớn hơn 6m/s tại độ cao 65m, tương đương
với 513 GW. Đặc biệt, hơn 8% lãnh thổ, tương đương 112 GW được đánh giá là có
tiềm năng NL gió tốt (Bảng II.6).
19
với tần suất đo đạc thấp, 4 lần một ngày. Đây có lẽ chính là lý do cho đề nghị của WB
tiến hành đo đạc khoảng 25 điểm để khẳ
ng định tiềm năng gió.
Bảng II.7: Tốc độ gió theo nghiên cứu của WB và tốc độ đo thực tế
Tốc độ gió trung bình năm tại độ cao 65
m so với mặt đất (m/s)
TT Vị trí
EVN WB
1.1 Móng Cai, Quảng Ninh 5,80 7,35
1.2 Văn Lý, Nam Đinh 6,88 6,39
1.3 Sầm Sơn, Thanh Hoá 5,82 6,61
1.4 Kỳ Anh, Hà Tĩnh 6,48 7,02
2.1 Quảng Ninh, Quảng Bình 6,73 7,03
2.2 Gio Linh, Quảng Trị 6,53 6,52
2.3 Phương Mai, Bình Định 7,30 6,56
2.4 Tu Bông, Khánh Hoà 5,14 6,81
3.1 Phước Minh, Ninh Thuận 7,22 8,03
3.2 Đà Lạt, Lâm Đồng 6,88 7,57
3.3 Tuy Phong, Bình Thuận 6,89 7,79
3.4 Duyên Hải, Trà Vinh 6,47 7,24
Nguồn: VNL, và các báo cáo khác
20
Đề án “Qui hoạch tiềm năng NL gió để phát điện” của Tập Đoàn Điện Lực Việt
Nam (EVN) là đề án đầu tiên của VN đánh giá về tiềm năng NL gió cho khu vực
duyên hải. Đề án này sử dụng cách tiếp cận từ dưới lên. Theo đó, số liệu gió được đo
đạc cho một số điểm lựa chọn, sau đó được ngoại suy thành dữ liệu gió mang tính đại
diệ
n khu vực bằng cách lược bỏ tác động của độ nhám bề mặt, sự che khuất do các vật
Đánh giá tiềm năng và khả năng khai thác nguồn NL Địa nhiệt
Theo khảo sát sơ bộ ban đầu thì tổng công suất những nhà máy địa nhiệt nếu
được xây dựng ở VN có thể lên tới khoảng trên 400 MW.
Những vùng có tiềm năng địa nhiệt lớn là Tây Bắc, Đông Bắc, và đặc biệt là
khu vực miền Trung như Lệ Thủy (Quảng Bình), Mộ Đức, Nghĩa Thắng (Quảng
Ngãi), Hội Vân (Bình Định), Tu-bông, Đảnh Thạnh (Khánh Hòa) Đây là những địa
điểm có tính khả thi cao khi xem xét xây dự
ng các dự án điện địa nhiệt.
Theo kết quả nghiên cứu của Đề án "Đánh giá tài nguyên địa nhiệt làm cơ sở
thiết kế và khai thác sử dụng thử nghiệm vào mục đích NL ở một số vùng triển vọng”
21
do Tổng cục Địa chất thực hiện năm 1983, đã tổng hợp được tài liệu của các nguồn
nước nóng trong toàn quốc, đã đánh giá tiềm năng địa nhiệt và phân vùng triển vọng
ứng dụng nguồn NL này. Theo số liệu tổng kê đến năm 2000, ở VN đã phát hiện 269
nguồn nước nóng trong đó có 140 nguồn nước ấm, 84 nguồn nước nóng vừa, 41 nguồn
nước rất nóng và 4 nguồn nướ
c quá nóng. Các nguồn địa nhiệt được phân bố có mật
độ khác nhau theo vùng địa lý.
Bảng II.9: Tổng kê các nguồn nước nóng theo nhiệt độ và vùng
Các vùng
Cấp nhiệt
độ
TB ĐB ĐBSH BTB NTB ĐBSCL
Theo cấp
Nhiệt độ
% so với
toàn
quốc
Ấm
khoan sâu thăm dò dầu khí ở vùng Thái Bình,
Nam Định đã phát hiện được nước "quá nóng" (từ 100
o
C đến 150
o
C) tại độ sâu 3-4
nghìn mét. Theo sự phát triển của công tác điều tra địa chất và tìm kiếm dầu khí, chắc
chắn số lỗ khoan gặp nước nóng sẽ ngày càng gia tăng ở phần thềm lục địa theo tài
liệu của ngành dầu khí, tại bể sông Hồng có 57 giếng khoan tìm kiếm sâu từ 300 đến
4300m, nhiệt độ cao nhất đo được ở đáy giếng là 179,8
o
C. Ở bể Cửu Long có 40 giếng
khoan sâu từ 400 đến 4500m, nhiệt độ cao nhất đạt 145
o
C
22
Vùng Đông Bắc (ĐB): Có tổng cộng 11 nguồn trong đó có 5 mạch lộ và 6 lỗ
khoan. Ở Vùng này có nguồn địa nhiệt Bó Đớt thuộc xã Thượng Sơn, huyện Bắc
Quang - Hà Giang. Nước có nhiệt độ 71,5
o
C, thành phần hoá học HCO3-SO4-Na,
M=0,18g/l. Nguồn Mỹ Lâm - Tuyên Quang có nhiệt độ 64
o
C, thành phần HCO3-Na,
M= 0,28g/l. Dọc ven biển Quảng Ninh qua công tác tìm kiếm nước dưới đất và nước
khoáng đã phát hiện được nước khoáng Quang Hanh và Tam Hợp. Ngoài ra còn gặp ở
một vài lỗ khoan riêng lẻ ở Nà Rụa, Cao Bằng và La Hiên, Thái Nguyên.
Vùng Bắc Trung Bộ (BTB): Các nguồn địa nhiệt phân bố tập trung ở Quảng
Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Quảng Nam . Trong đó có 11/42 nguồn có nhiệt
o
C.
- Nguồn gốc của dung dịch địa nhiệt qua kết quả phân tích mẫu đồng vị cho
thấy đều là nguồn gốc khí tượng
Do không có nghiên cứu sâu và tài liệu đo nhiệt trong các lỗ khoan nên chưa
xác định được chính xác chiều sâu phân bố các nguồn địa nhiệt. Để giải quyết vấn đề
này cần phải có công trình khoan thăm dò và kiểm tra đối sánh với kết quả đánh giá.
23
Bảng II.10: Tổng hợp tiềm năng địa nhiệt theo các vùng
Số nguồn địa nhiệt có triển vọng
khai thác theo quy mô khác nhau
Vùng địa nhiệt
Tổng số
nguồn
Nhiệt độ dưới
sâu (
0
C)
Công nghiệp Vừa Nhỏ
Tây bắc 79 103-200 10 25 44
Đông bắc 11 95-146 2 6 3
ĐBSH 17 100-150 5 3 9
Bắc Trung Bộ 42 120-210 4 10 28
Nam Trung Bộ 67 110-200 14 18 35
Nam Bộ & ĐBSMK 53 150 22 31
Tổng cộng 269 35 84 150
Nguồn: Viện nghiên cứu địa chất & khoáng sản (2005)
Trong các nguồn kể trên có 6 nguồn triển vọng nhất là ở NTB (Bang, Tu Bông,
Hội Vân, Đảnh Thạch, Mộ Đức, Nghĩa Thắng) đã được Công ty ORMAT lựa chọn
9
. Theo kế hoạch của
nhà nước, VN dự kiến sẽ sản xuất 0,660 triệu tấn dầu thực vật vào năm 2010
10
.
9
Niên giám Thống kê Việt Nam 2006.
10
Global Agriculture Information Network, 2005. Vietnam oilseeds and products.
24
Mỡ cá da trơn có thể được sử dụng để sản xuất dầu diesel sinh học. Lượng mỡ
này được thu gom từ các nhà máy chế biến cá da trơn (“cá tra” và “cá basa”), chủ yếu
tập trung ở các tỉnh ĐBSCL. Năm 2005, VN sản xuất khoảng 0,5 triệu tấn cá da trơn.
Lượng cá da trơn được chế biến dự kiến đạt 1,0 triệu tấn vào năm 2010. Với tỷ lệ giữa
mỡ cá và lượ
ng cá được chế biến là 0.12 tấn/tấn
11
, lượng mỡ cá da trơn phát sinh ở
Việt Nam sẽ là 0,06 triệu tấn vào năm 2005 và 0,12 triệu tấn vào năm 2010.
Bảng II.11: Một số chất thải hữu cơ khác phát sinh (triệu tấn)
Loại chất thải 2005 2010
Mật rỉ đường 0,376 0,588
Dầu ăn đã sử dụng 0,397 0,660
Mỡ cá da trơn 0,060 0,120
Tổng cộng 0,833 1,368
Nguồn: Báo cáo Chiến lược, Quy hoạch NLTT, VNL, 2008
II.2.8.
and little impact on environment. This system has name of TidE1, using floating tidal turbines, anchored to sea
bottom by chains. These “mills” are drifting together with tide. Therefore, they can turn to the best direction for
getting energy from rotating blades. This power system is simple. SMD Hydrovision tested model of TidE1 with
dimensions of 1/10 of actual system and put it in the huge water tank in Northumberland Center of Renewable
Energy. The result is that the big turbines can produce about 1 MW. The inventors intend to make one large system
with 15 m-long blades in European Center for Ocean Energy in Orkney in the next year