Mục lục
Lời mở đầu 2
I.Tổng quan về hiện trạng sử dụng năng lượng tại Việt Nam 3
II.Tổng hợp về năng lượng tái tạo ở Việt Nam 5
1. Năng lượng sinh khối 6
1.1 Hiện trạng sử dụng năng lượng sinh khối 7
1.2 Tiềm năng năng lượng sinh khối 7
1.3 Các công nghệ năng lượng sinh khối 9
1.4 Khả năng ứng dụng thiết bị năng lượng sinh khối ở Việt Nam 12
2. Thủy điện nhỏ 14
3. Năng lượng địa nhiệt 15
4. Năng lượng mặt trời 17
5. Năng lượng gió 19
Kết luận 22
1
lêi më ®Çu
Năng lượng là một trong những nhu cầu cần thiết của con người và là một trong
những yếu tố đầu vào không thể thiếu được của hoạt động kinh tế.Khi mức sống của
người dân càng cao, trình độ sản xuất của nền kinh tế ngày càng hiện đại thì nhu cầu
về năng lượng cũng ngày càng lớn, và việc thoả mãn nhu cầu này là một thách thức
đối với hầu hết mọi quốc gia.
Trong khi đó, nguồn năng lượng truyền thống (hoá thạch,thuỷ năng ) vốn
được coi là nguồn năng lượng chủ yếu hiện tại, và có thể sử dụng trong khoảng 4-5
thập kỷ nữa giờ đây đang cạn dần và trở nên đắt đỏ.Các chuyên gia năng lượng đã
cảnh báo về việc thế giới sẽ lâm vào cuộc khủng hoảng năng lượng trong tương
lai,nếu chúng ta không tiết kiệm và sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng truyền
thống hiện có, và nếu không phát triển sử dụng các dạng năng lượng sạch tái
tạo.Chính vì lẽ đó mà vấn đề phát triển năng lượng mới và năng lượng tái tạo đang là
mối quan tâm của các quốc gia.
Ở Việt Nam, năng lượng tái tạo đã bắt đầu được nghiên cứu từ những năm đầu
của thập niên 60 của thế kỷ trước, nhưng phải đến tận những năm cuối của thập niên
Bảng I.2 Khai thác dầu thô năm 1990- 2008(triệu tấn)
Năm 1900 1995 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2008
Sản lượng 2,7 7,67 16,3 17,1 16,6 17,5 20,1 18,5 17,2 14,85
Khí đốt (nguồn khí tự nhiên và khí đồng hành) bắt đầu sử dụng cho phát điện từ
cuối năm 1995.Tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2001-2005 là
43,7%/năm.Năm 2008 đạt 7,9 tỷ m3, tăng gấp 5 lần
3
Bảng I.3 Khai thác khí giai đoạn 1995-2008( triệu m3)
Năm 1995 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Khai thác 183 1580 1720 2161 3720 6252 6890 7520 6860 7944
Khí cho
điện
182 1224 1229 1550 2983 4218 5054 4970 5050 5410
Nguồn thủy điện : thủy điện luôn chiếm một vị trí quan trọng trong toàn bộ cơ cấu
sản xuất điện ở Việt Nam .Trong giai đoạn 1990-2002 thủy điện luôn thay đổi theo
từng năm.Năm 2005 và 2006 phụ tải tăng cao,các nguồn phụ tải mới ít xuất hiện kèm
theo điều kiện thời tiết không thuận lợi (lượng mưa ít) nên tỷ trọng thủy điện trong cơ
cấu phát điện giảm dần, hiện còn khoảng 40%.
Xuất –nhập khẩu năng lượng
BảngI.4 Xuất nhập khẩu giai đoạn 1990-2008(1000 tấn)
Năm 1990 1995 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2008
Nhập SP
dầu
2888 5004 8748 8998 9966 9840 9115 9636 10411 13660
Xuất
dầu thô
2617 7652 15423 16732 16876 17143 19501 17967 16419 13990
Xuất
điện cả nước (khoảng 12000 MW).Phát triển mạnh năng lượng tái tạo sẽ góp phần
đa dạng hóa nguồn điện, đảm bảo an ninh năng lượng trong tương lai.Ngay từ những
năm 80-90 của thế kỷ XX, Việt Nam cũng đã bắt đầu có những chương trình cấp
nhà nước về năng lượng tái tạo do một số đơn vị tham gia.Đến năm 1993 thông qua
các dự án như: Phát triển nông thôn, điện khí hóa, vệ sinh, nước sạch và bảo vệ môi
trường …đã làm cho các hoạt động nghiên cứu về NLTT phát triển và ngày càng
phát huy được vai trò của một nguồn cung cấp năng lượng sạch cho dân sinh, kinh tế
khu vực nông thôn và bảo vệ môi trường sinh thái.Các nguồn năng lượng tái tạo của
Việt Nam bao gồm:
-Thủy điện nhỏ
-Năng lượng Mặt Trời
-Năng lượng Gió
-Năng lượng sinh khối (biomass)
5
-Năng lượng địa nhiệt
1. Năng lượng sinh khối
Sinh khối chứa năng lượng hóa học, nguồn năng lượng từ mặt trời tích lũy
trong thực vật qua quá trình quang hợp.Sinh khối là các phế phẩm từ nông nghiệp,
phế phẩm lâm nghiệp, từ chăn nuôi.Ít nhất một nửa dân số thế giới dựa trên nguồn
năng lượng chính từ sinh khối.Con người đã sử dụng chúng để sưởi ấm và nấu ăn
cách đây hàng ngàn năm.
Năng lượng sinh khối là một nguồn năng lượng sạch, có thể tái sinh được, và
tận dụng được chất thải làm nhiên liệu giảm lượng rác thải.Lợi thế to lớn của sinh
khối so với các nguồn năng lượng tái tạo khác là có thể dự trữ và sử dụng khi cần,
đồng thời ổn định, tình hình cấp điện không bị thất thường.Chính vì vậy, năng lượng
sinh khối đang được các nước trên thế giới tập trung nghiên cứu và ứng dụng nhằm
thay thế các nguồn năng lượng truyền thống đang dần cạn kiệt, đảm bảo an ninh
năng lượng trong tương lai.
Việt Nam là một quốc gia nhiệt đới, có nhiều điều kiện để phát triển năng
lượng sinh khối.Mặt khác, hoạt động sản xuất nông nghiệp hay ngư nghiệp của Việt
- Sản xuất ethanol sinh học và dầu diesel sinh học vẫn đang trong quá trình
nghiên cứu và chuẩn bị.Ngày 15/9/2009, Hà Nội bắt đầu bán thí điểm xăng pha
ethanol dưới tên gọi Gasohol E5.Thế nhưng không đầy một tuần, chính phủ đã ra lệnh
tạm ngừng việc bán loại xăng này để thẩm định lại chất lượng.
-Công nghệ khí sinh vật (biogas) được đưa vào Việt Nam từ đầu những năm 1960.
Hiện nay, nước ta có khoảng hơn 100000 hầm biogas, đa số ở quy mô gia đình với thể
tích 1m
3
đến 20m
3
chủ yếu phục vụ đun nấu và thắp sáng gia đình.
1.2 Tiềm năng năng lượng sinh khối
1.2.1 Tiềm năng sản xuất điện từ sinh khối
Việt Nam có nhiều loại sinh khối có thể sử dụng một cách hiệu quả để cung cấp và
đáp ứng một phần nhiên liệu và điện của đất nước.Tiềm năng về năng lượng sinh khối
ở Việt Nam là rất lớn, riêng phụ phẩm nông nghiệp là trên 70 triệu tấn (khoảng 20
triệu tấn dầu tương đương).Hiện tại nước ta chỉ tập trung vào các nguồn sinh khối sẵn
có, tiềm năng lớn, mức tập trung nguồn cao, bao gồm:
Trấu: là nguồn có tiềm năng sản xuất điện lớn nhất. Khoảng 1,51triệu tấn trấu
có thể sử dụng hàng năm để sản xuất điện trong năm 2010.Tổng công suất phát
điện của chúng khoảng 197- 225MW
7
Bã mía: đang được sử dụng để cung cấp nhiệt và điện tại các nhà máy
đường.Lượng bã mía phát sinh ở các nhà máy đường khoảng 2,82triệu tấn.công
suất phát điện đạt 141-176 MW
Rác thải đô thị: đến năm 2010 lượng rác thu được ở tất cả các đô thị Việt Nam
khoảng 8,96 triệu tấn.Rác thải đô thị có thể đốt trực tiếp để sản xuất điện.Nếu
40% lượng rác phát sinh tại các đô thị Hà Nội, Hải Phòng, TP HCM được đốt
phát điện thì công suất đạt 120 MW.Ngoài ra, rác thải đô thị còn có thể sử
dụng để sản xuất khí sinh học.Lượng rác thải tại 5 đô thị lớn Việt Nam có thể
1.3 Các công nghệ năng lượng sinh khối
8
1.3.1 Đặc điểm kĩ thuật công nghệ sản xuất điện từ sinh khối
Có nhiều loại công nghệ chuyển hóa sinh khối thành điện năng và nhiệt điện
a. Công nghệ tuabin hơi nước: Một hệ thống phát điện sinh khối dựa trên tuabin hơi
nước bao gồm ba thành phần chính: lò hơi sinh khối, tuabin hơi và máy phát điện.Hệ
thống này hoạt động theo chu trình Rankine, hoặc dưới dạng chu trình cơ bản, hoặc
dưới dạng chu trình cải tiến có tái gia nhiệt hơi nước và gia nhiệt sơ bộ nước tuần
hoàn.
Công nghệ tuabin hơi được sử dụng cho các nhà máy điện hoặc các nhà máy
đồng phát điện –nhiệt đốt sinh khối dạng rắn.Công suất đạt được từ 500Kw đến hàng
chục MW.Các hệ thống tuabin hơi có độ tin cậy cao và tuổi thọ lớn (25-35 năm)
b. Công nghệ động cơ khí: công nghệ này phù hợp với các nhà máy có quy mô
nhỏ (<5MW), sử dụng nhiên liệu dạng lỏng và khí như khí ethanol sinh học, dầu
diesel sinh học, khí bãi rác, và khí tổng hợp tạo ra từ quá trình khí hóa nhiên liệu sinh
khối.
c. Công nghệ tuabin khí: Các thành phần chính của một chu trình gồm: máy
nén, buồng đốt, và tuabin khí.Không khí được hút vào máy nén, tại đây áp suất của
không khí sẽ được nâng lên.Sau đó không khí được đưa vào buồng đốt và được đốt
cháy cùng nhiên liệu.Khói thải ra khỏi buồng đốt có nhiệt độ cao sẽ dãn nở trong
tuabin khí, làm xoay máy phát điện và máy nén.Công suất phát điện dao động từ 100
kW đến 50MW.Công nghệ này được sử dụng trong các nhà máy sử dụng nhiên liệu
sinh học dạng lỏng hoặc khí.
1.3.2 Đặc điểm kỹ thuật công nghệ sản xuất nhiên liệu sinh khối
a. Công nghệ sản xuất biogas
i) Hầm phân hủy dạng mẻ được sử dụng rộng rãi ở quy mô hộ gia đình hoặc
trang trại.Ưu điểm chính của cá loại hầm phân hủy này là tải trọng chất rắn cao.Tuy
nhiên loại hầm này tương đối không ổn định và khó kiểm soát do sự thay đổi số lượng
vi khuẩn trong quá trình phân hủy.
ii) Bể phản ứng khuấy trộn liên tục: thiết kế giống như hầm phân hủy truyền
điểm sôi thấp.
+ Khử nước: có 3 quá trình cơ bản khử nước để tách nước ra khỏi hỗn hợp.Quá
trình đầu tiên sử dụng trong nhiều nhà máy sản xuất ethanol trước đây được
gọi là khử nước đẳng phí bằng cách thêm benzen hoặc cyclohexane vào hỗn
10
hợp nước-ethanol.Khi cho benzene vào, hỗn hợp nước- ethanol sẽ có trạng
thái hơi-lỏng-lỏng và khi chưng cất sẽ thu được ethanol dạng khan dưới đáy
tháp chưng cấp.Một phương pháp khác gọi là chưng cất trích ly, thêm vào
một thành phần tam nguyên làm tăng độ bay hơi của ethanol.Khi hỗn hợp
tam nguyên được chưng cất sẽ tạo ra ethanol khan trên đỉnh của tháp chưng
cất.Hiện nay phương pháp được áp dụng phần lớn tại các nhà máy sản xuất
ethanol hiện đại đó là sử dụng các rây lọc phân tử để khử nước khỏi hỗn hợp.
Trong quy trình này, hơi ethanol có áp đi qua một lớp hạt rây phân tử.Độ
rỗng của lớp hạt sẽ hấp thu nước nhưng loại trừ ethanol.Sau mỗi chu kỳ, lớp
hạt sẽ được tái sinh dưới điều kiện chân không để tách nước đã hấp thu
ra.Hai lớp hạt sẽ được sử dụng để trong khi một lớp hấp thu nước thì lớp hạt
còn lại sẽ được tái sinh.Công nghệ khử nước này có thể tiết kiệm năng lượng
so với phương pháp chưng cất đẳng phí trước đây.
d. Công nghệ sản xuất dầu diesel sinh học: nguyên liệu sử dụng chủ yếu là dầu thực
vật, mỡ động vật và mỡ tái sinh.Có 3 phương pháp cơ bản để sản xuất dầu diesel sinh
học từ dầu thực vật và mỡ động vật:
+ Chuyển hóa dầu với mỡ thành este với chất xúc tác bazơ và cồn.
+ Este hóa trực tiếp với chất xúc tác axít và cồn.
+ Chuyển hóa dầu thành axít béo, và sau đó thành estemethyl với chất xúc tác
axít.
Hiện nay, phương pháp chuyển hóa thành este với chất xúc tác bazơ được sử
dụng nhiều nhất để sản xuất dầu diesel sinh học.Quá trình này là kinh tế nhất do nó
xảy ra dưới điều kiện áp suất và nhiệt độ thấp.
11
1.4 Khả năng ứng dụng thiết bị năng lượng sinh khối ở Việt Nam
khí sinh vật.Đa số hầm biogas đã xây dựng có quy mô hộ gia đình (thể tích hầm 4-10
m
3
).Vài trăm hầm khí sinh học có thể tích hầm 50-100 m
3
hoặc lớn hơn đã được xây
dựng, chủ yếu ở Đồng Nai, Bắc Ninh, Thái Bình và Hải Phòng.
1.4.3 Ứng dụng công nghệ ép bánh viên nhiên liệu
Mặc dù ép bánh nhiên liệu các phế thải sinh khối như trấu, mùn cưa, v.v có thể giúp
giải quyết các vấn đề khó khăn liên quan đến sử dụng năng lượng, đặc biệt vấn đề tỷ
trọng thấp của nhiên liệu sinh khối, cho đến nay công nghệ này vẫn chưa lôi cuốn đủ
sự chú ý. Ở Việt Nam, người dân đã tham gia ép bánh nhiên liệu, nhưng chỉ dùng cho
các mục đích giới hạn.Các bánh nhiên liệu thường được sử dụng cho mục đích sản
xuất nhiệt/nấu ăn, và chỉ giới hạn trong phạm vi gia đình.Hiện mới chỉ có Viện Năng
Lượng nghiên cứu và phát triển.
1.4.4 Ứng dụng công nghệ sản xuất ethanol và dầu diesel sinh học
Các công nghệ sản xuất ethanol và dầu diesel sinh học đang được nghiên cứu và phát
triển bởi nhiều cơ sở ở Việt Nam.Tuy nhiên, hầu hết các công nghệ còn đang ở quy
mô phòng thí nghiệm.
Năm 2004, Công ty Cổ phần Xuất Nhập khẩu thủy sản An Giang (Agifish) đã bắt đầu
nghiên cứu sản xuất dầu diesel sinh học từ mỡ các da trơn.Kết quả nghiên cứu thành
công đã được công bố vào cuối năm 2005.Năm 2006, một hệ thống thí điểm đã được
xây dựng sản xuất 1,6tấn dầu diesel sinh học mỗi ngày từ 2 tấn mỡ cá được sử dụng.
Năm 2006, Trung tâm Nghiên cứu Hóa dầu và Công nghệ lọc dầu đã sản xuất thành
công dầu diesel sinh học từ dầu ăn đã sử dụng.Sau đó, Công ty TNHH một thành viên
Dầu khí thành phố Hồ Chí Minh (Saigon Petro) đã công bố một dự án đầu tư khoảng
9,69tỷ VNĐ vào một dự án thí điểm có khả năng sản xuất 2 tấn dầu diesel sinh học
mỗi ngày.
Việc nghiên cứu sản xuất dầu diesel sinh học từ dầu thực vật như hạt cao su, cây dầu
mè, v.v đang được tiến hành.Viện Khoa học Vật liệu Ứng dụng ở TP. Hồ Chí Minh
kỹ thuật thủy điện nhỏ ở Việt Nam với gam công suất 0,1MW đến 30MW/ trạm có
khoảng 1050 nhà máy, chiếm 10%- 12% tổng trữ năng nguồn thủy điện cả nước
14
Bảng II.1 Tiềm năng kỹ thuật thủy điện nhỏ theo gam công suất
Dải công suất ( MW) Tổng công suất (MW)
0,1-1
1-5
5-10
10-15
15-20
20-25
25-30
Tổng (<= 30MW)
126,8
1030,2
1048,3
648,0
562,8
309,0
290,0
4015,1
Ngoài công suất trên còn có một lượng thủy điện nhỏ ở khắp nơi trên khu vực miền
núi với gam công suất là 0,1MW phù hợp cho phát triển TĐN với quy mô trạm lưới
mini hay hộ gia đình. Những khe suối với cột nước tự nhiên có độ cao từ 0,7- 0,8 m
đều có khả năng phát điện ở dạng này.
3. Năng lượng địa nhiệt
Năng lượng địa nhiệt hay nhiệt đất là một dạng năng lượng được tích tụ dưới dạng
nhiệt lượng nằm ngay dưới lòng đất của vỏ Trái đất. Theo các nhà khoa học năng
lượng địa nhiệt là một nguồn năng lượng sạch, thân thiện và gần như vô tận có thể
đáp ứng cao hơn gấp 250000 lần nhu cầu hàng năm của thế giới ,và tác động gần
Vừa Nhỏ
Tây bắc 79 103-200 10 25 44
Đông bắc 11 95-146 2 6 3
ĐBSH 17 100-150 5 3 9
Bắc Trung Bộ 42 120-210 4 10 28
Nam Trung Bộ 67 110-200 14 18 35
Nam Bộ &
ĐBSMK
53 150 22 31
Tổng cộng 269 35 84 150
Tuy tiềm năng về năng lượng địa nhiệt ở Việt Nam là lớn, nhưng hiện nay năng
lượng địa nhiệt mới chỉ dùng phổ biến trong ngành du lịch, phục vụ dưỡng bệnh.Đến
nay, một số tổ chức mới chỉ dừng lại ở việc tiến hành điều tra, nghiên cứu, lập các dự
án tiền khả thi cho khu vực miền Trung. Năm 2007, Tổng công ty điện lực Dầu khí
Việt Nam đã lập dự án đầu tư xây dựng nhà máy điện địa nhiệt sạch đầu tiên ở nước
ta có công suất 18,6MW tại làng Thanh Trù, xã Đức Lân, huyện Mộ Đức, Quảng
Ngãi.
16
4. Năng lượng Mặt Trời
Năng lượng Mặt Trời thu được trên Trái Đất là năng lượng của dòng bức xạ điện từ
xuất phát từ Mặt Trời đến Trái Đất. Năng lượng này có thể thu được dưới dạng sóng
bức xạ điện từ truyền đến Trái Đất. Năng lượng Mặt Trời có ưu điểm như: sạch, chi
phí nhiên liệu và bảo dưỡng thấp, an toàn cho người sử dụng … và quan trọng nhất là
nguồn năng lượng này gần như vô tận và thân thiện với môi trường.
4.1 Hiện trạng
Việt Nam là nước nằm gần xích đạo có nguồn năng lượng Mặt Trời khá dồi dào,
thích hợp cho việc ứng dụng các thiết bị năng lượng Mặt Trời.Việt Nam hiện có trên
100 trạm quan trắc toàn quốc để theo dõi dữ liệu về năng lượng Mặt Trời. Cường độ
bức xạ bình quân một năm từ 2,8kwh/m
9kW, trong đó pin mặt trời là 7kW.Dự án được lắp đặt tại làng Kongu, huyện
Đak Hà, tỉnh Kom Tum, do Viện Năng lượng thực hiện.Công trình được đưa
vào sử dụng từ tháng 11/2000, cung cấp điện cho một bản người dân tộc thiểu
số với 42 hộ gia đình.
Khu vực phía Bắc, việc ứng dụng các dàn PMT phát triển nhanh, phục vụ các
hộ gia đình ở vùng núi cao, hải đảo và các trạm biên phòng.
Đặc biệt trạm pin mặt trời 154kWp tại Trung tâm hội nghị Quốc gia là công trình
điện mặt trời lớn nhất ở Việt Nam.
=> Tổng công suất PMT lắp đặt: khoảng 1,45MWp.
-Dàn đun nước nóng: đang được sử dụng chủ yếu ở đô thị.Năm 2005 cả nước mới
lắp đặt 4000m
2
, nhưng đến năm 2007 cả nước đã lắp đặt 48000m
2
.Hiện có khoảng 40
thiết bị đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời hệ tập thể, và 7300 hộ gia đình được
lắp đặt và ứng dụng trong toàn quốc.Đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời với
mục đích tiết kiệm điện, nếu trong giá điện tăng cao thì nhu cầu lắp đặt thiết bị này sẽ
tăng
-Thiết bị sấy bằng năng lượng mặt trời: Hiện nay năng lượng mặt trời được ứng
dụng khá phổ biến trong lĩnh vực nông nghiệp để sấy các sản phẩm như ngũ cốc, thực
phẩm,… nhằm giảm tỷ lệ hao hụt và chất lượng sản phẩm.
-Hệ thống chưng cất nước bằng năng lượng mặt trời: Ở Việt Nam đã có đề tài
nghiên cứu triển khai ứng dụng thiết bị chưng cất nước NLMT, dùng để chưng cất
nước ngọt từ biển và cung cấp nước sạch dùng cho sinh hoạt ở nhũng vùng có nguồn
nước ô nhiễm, hải đảo.Có khoảng 8 hệ thống chưng cất loại cố định và 50 thiết bị
chưng cất nước dạng khay đã được lắp đặt và ứng dụng.Hiện chỉ còn khoảng 30% các
thiết bị đang hoạt động.
18
4.2 Đánh giá tiềm năng và khả năng khai thác năng lượng mặt trời
các tuabin gió hiện đại.
19
Năng lượng gió được đánh giá là thân thiện nhất với môi trường và ít gây ảnh hưởng
xấu về mặt xã hội.Ngoài ra với đặc trưng phân tán và nằm sát với khu dân cư, năng
lượng gió giúp tiết kiệm chi phí truyền tải
5.1 Hiện trạng
Ở Việt Nam, các khu vực có thể phát triển năng lượng gió không trải đều trên
toàn bộ lãnh thổ.Với ảnh hưởng gió mùa thì chế độ gió cũng khác nhau.Số vùng có
tiềm năng gió tốt để có thể lắp đặt các động cơ gió không nhiều.Thực tế, Việt Nam
mới chỉ lắp đặt được khoảng hơn 1300 động cơ gió phát điện chủ yếu là cỡ nhỏ có
công suất <200W, và được lắp đặt chủ yếu ở các vùng ven biển từ Đà Nẵng trở
vào.Những động cơ gió phát điện có công suất lớn hơn 500W mới chỉ được chế tạo
thử theo mẫu của nước ngoài.
-Một nhà máy phát điện gió có công suất 2KW đã được lắp đặt vào cuối năm
2000 tại huyện Đắc Hà, tỉnh Kom Tum (do Nhật Bản tài trợ), và đến nay đã hoạt động
tốt.
-Dự án phát điện tại đảo Bạch Long Vĩ là dự án có công suất lớn nhất
(800KW).Đây là hệ thống hỗn hợp giữa tuabin gió và máy phát điện diesel.Công trình
đã lắp đặt hoàn thiện từ tháng 6/2004, hiện đang vận hành tốt.
-Ngoài ra còn có một số dự án phát điện gió tại đảo Phú Quốc (Bình Thuận),
đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), 2 và dự án phát điện gió tại Quy Nhơn công suất dự kiến là
51MW và 84MW.
5.2 Đánh giá tiềm năng và khả năng khai thác năng lượng gió
Với hơn 3000km bờ biển và thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam được
đánh giá là quốc gia có tiềm năng về năng lượng gió lớn.Tuy nhiên như nhiều quốc
gia đang phát triển khác, tiềm năng năng lượng gió ở Việt Nam vẫn chưa được lượng
hóa ở mức độ phù hợp.
Trong chương trình đánh giá về năng lượng Châu Á, Ngân hàng Thế giới đã
khởi xướng xây dựng bản đồ năng lượng gió cho 4 quốc gia: Campuchia, Lào, Việt
Nam và Thái Lan.Theo nghiên cứu này thì Việt Nam là nước có tiềm năng gió lớn
ngại trong việc phát triển NLTT.Trong những năm gần đây, Chính phủ đã quan tâm
và định hướng để phát triển năng lượng tái tạo, mà mới nhất là Quyết định số
130/2007/QĐ –TTg quy định một số cơ chế chính sách tài chính đối với dự án đầu tư
theo cơ chế phát triển sạch (CDM), nhằm thu hút các nhà đầu tư trong việc cải tiến
công nghệ, để tiến tới có thể cạnh tranh về giá so với năng lượng truyền thống.Mục
tiêu phấn đấu từ nay tới 2010, NLTT chiếm 3% tổng công suất điện thương mại và đạt
5% vào năm 2020.
22