BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU ĐIỆN TỬ, TIN HỌC, TỰ ĐỘNG HÓA
X W Y Z X W
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI CẤP BỘ NĂM 2011
“NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI
PHÁP, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP
ĐIỆN TỬ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2020”
Cơ quan chủ trì: Viện NC Điện tử, Tin học, Tự động hóa
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Trần Thanh Thủy
9172
Cơ quan chủ trì
VIỆN TRƯỞNG
Chủ nhiệm đề tài Ths. Trần Thanh Thủy
3
CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
KH&CN
Khoa học và công nghệ
SXKD
Sản xuất kinh doanh
NC&PT
Nghiên cứu và Phát triển
NCKH&PTCN PTCN : nghiên cứu khoa học và Phát triển công nghệ
DNV&N
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
CNĐT
Công nghiệp điện tử
CEPT
Common Effective Preferential Tariff
Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung
AFTA
ASEAN Free Trade Area
Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
CES
Consumer Electronics Show
Triển lãm điện tử tiêu dùng
DLNA
Digital Living Network Alliance
Giao thức cho phép các thiết bị đạt chuẩn này chuyển dữ liệu
cho nhau trong nội mạng
AMOLED
Active Matrix Organic Light Emitting Diode
Công nghệ màn hình diode phát quang hữu cơ ma trận động
OLED
Organic Light Emitting Diode
Công nghệ màn hình diode phát quang hữu cơ
4
CPLD
Complex Programmable Logic Device
Mạch Logic khả trình phức hợp
ASIC
Application Specific Integrated Circuit
Mạch tích hợp chuyên dụng
IC
Integrated Circuit
Dynamic Random Access Memory
Bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên động
GPS
Global Positioning System
Hệ thống định vị toàn cầu
SKD
Semi Knocked Down
Một đơn vị sản phẩm nhập khẩu hoàn chỉnh, tuy nhiên một số bộ
phận chính hoặc còn ở dạng rời phải được lắp ráp hoặc gia công
thêm hoặc không được giao kèm theo vì sẽ được thay thế bằng
linh kiện nội địa
CKD
Completely Knocked Down
Nhập tất cả linh kiện rời về lắp ráp
IKD
Incompletely Knocked Down
Nhập một phần linh kiện, bộ phận về lắp ráp
TVRO
Television Receiver Only
Truyền hình chỉ nhận
MMDS
Multichannel Multipoint Distribution Service
Dịch vụ phân phối đa kênh - đa điểm
HÀ NỘI - 2011
5
MỞ ĐẦU
1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước
1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
gành CNĐT là một trong những ngành công nghiệp có sớm trên
thế giới và được các nước quan tâm phát triển mạnh mẽ vào nửa
sau của thế kỷ XX, đặc biệt là các nước Hoa Kỳ, Nhật Bản, một số
nước thuộc Cộng đồng châu Âu và gần với Việt Nam hơn là các quốc
gia và vùng lãnh thổ khác trong khu vực châu Á và ASEAN. Nhờ có
hệ thống chính sách đồng bộ, tập trung mà các nước này đã thu
được những thành qủa lớn trong phát triể
n ngành, đó là:
- Chú trọng phát triển các tập đoàn SXKD điện tử trong nước và thông
qua các tập đoàn này kêu gọi đầu tư nước ngoài, nên đã sớm làm
6
chủ được công nghệ, có nền sản xuất vững mạnh và có năng lực
cạnh tranh cao;
- Tập trung đầu tư phát triển nguồn nhân lực trình độ cao và cơ sở hạ
tầng kỹ thuật đồng bộ để nâng cao tiềm lực KH&CN, đồng thời đẩy
mạnh nghiên cứu - phát triển (R&D) kể cả phát triển công nghệ chế
tạo linh kiện nhằm đảm bảo kỹ thuật cho việ
c sản xuất các sản
phẩm;
- Xây dựng lộ trình phát triển ngành CNĐT hợp lý.
Ví dụ ở Nhật Bản, theo số liệu gần đây nhất của Hiệp hội Công
nghiệp Điện tử và Công nghệ Thông tin Nhật Bản (JEITA), năm 2008
tổng sản lượng của ngành điện tử Nhật Bản đạt 18,6 ngàn tỉ Yên,
chiếm khoảng 13% tổng sản lượng của ngành đi
ện tử thế giới [31,
33]. Ở Trung Quốc, theo số liệu thống kê của tổ chức nghiên cứu thị
7
Như vậy là trong một thời gian rất dài các doanh nghiệp ngành CNĐT
phải tự tìm đường đi cho mình và chịu thiệt thòi khi không có chính sách,
hoặc nếu có thì chính sách không nhất quán, mặc dù sự thay đổi cơ chế
quản lý kinh tế ở Việt Nam sau 25 năm đổi mới đã làm cho môi trường
hoạt động của các doanh nghiệp thay đổi và có nhiều thuận lợi. Ví dụ, khi
thị trường dịch vụ viễn thông ào vào, nhu cầu máy điện thoạ
i để bàn là rất
lớn, nhưng ngành CNĐT lại không sản xuất điện thoại để bàn, mà toàn đi
mua bên ngoài về cung cấp cho thị trường, trong khi thực tế việc chế tạo
máy điện thoại bàn hoàn toàn không khó khăn gì, hay khi thị trường điện
thoại di động, máy tính bùng nổ ở Việt Nam, ngành CNĐT cũng không
nắm bắt được cơ hội đó, dù chỉ để làm lắp ráp thôi mà cứ quay đ
i quay lại
với các thiết bị nghe nhìn như tivi, đầu đĩa,
Đã đến lúc Việt Nam phải thay đổi quan điểm và cách làm về vấn đề
phát triển ngành CNĐT. Nếu vẫn theo quan điểm và cách làm từ A đến Z
một sản phẩm điện tử như hiện nay thì ngành CNĐT không thể phát triển
được. Các quan điểm và cách làm đó vẫn phảng phất của tư duy cũ. Hiện
thế gi
ới đã hình thành chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, ví dụ để sản xuất một
chiếc máy tính, không một quốc gia nào làm từ A đến Z, mà mỗi quốc gia
tham gia làm một vài chi tiết để hình thành chiếc máy tính. Trong giai đoạn
đến 2020, ngành CNĐT Việt Nam cần định hướng phát triển để tham gia
vào chuỗi giá trị ấy với một vài khâu hoặc một số sản phẩm, không nên
định hướng làm từ A đến Z toàn bộ chuỗi
ấy, vì thực tế ngay cả nước có
ngành CNĐT rất phát triển như Nhật Bản cũng không làm như vậy. Hiện
tại các hãng lớn như Sony, Panasonic,…họ cũng chỉ tập trung vào nghiên
học, chuẩn bị cho việc xây dựng Chiến lược phát triển ngành CNĐT Việt
Nam phù hợp với Chương trình Quốc gia phát triển công nghệ cao đến
năm 2020 và Kế hoạch phát triển một số ngành công nghiệ
p công nghệ cao
đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số
2457/QĐ - TTg ngày 31/12/2010 và Quyết định số 842/QĐ - TTg ngày
01/6/2011.
Với các mục tiêu nêu trên, trong kế hoạch KH&CN năm 2011, Viện
Nghiên cứu Điện tử, Tin học, Tự động hoá đã đăng ký và đã được Bộ Công
Thương giao chủ trì thực hiện đề tài “Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề
xuấ
t các giải pháp, chính sách phát triển ngành công nghiệp điện tử Việt
Nam trong giai đoạn đến năm 2020”.
3. Nội dung nghiên cứu
Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đã xây dựng, nhóm nghiên cứu đề tài sẽ tiến
hành thực hiện các nội dung sau đây:
- Nghiên cứu tổng quan về ngành CNĐT Việt Nam;
- Phân tích, đánh giá thực trạng ngành CNĐT Việt Nam:
Về cơ chế chính sách.
Về k
ết quả sản xuất kinh doanh.
Về năng lực (số lượng doanh nghiệp, trình độ công nghệ, thiết bị và
nguồn nhân lực);
- Nghiên cứu tình hình và kinh nghiệm phát triển ngành CNĐT tại một
số nước trên thế giới và trong khu vực;
- Dự báo nhu cầu phát triển, những thuận lợi, khó khăn, thời cơ và thách
thức đối với phát triển ngành CNĐT trong giai đoạn đến năm 2020;
-
Đề xuất các giải pháp, chính sách phát triển ngành CNĐT Việt Nam
trong giai đoạn đến năm 2020.
trao đổi, thảo luận về các kết quả nghiên cứu của đề tài.
Trên cơ sở ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhóm nghiên cứu sẽ tiến
hành sửa đổi, điều chỉnh và hoàn thiện nhằm tăng tính khả thi củ
a các kết
quả nghiên cứu, tạo cơ sở cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định
chính sách tham khảo khi tiến hành xây dựng chiến lược phát triển ngành
CNĐT trong giai đoạn đến năm 2020 phù hợp với các mục tiêu đề ra.
10
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ
VIỆT NAM VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
1.1. Tổng quan về ngành công nghiệp điện tử Việt Nam
1.1.1. Khái quát về ngành công nghiệp điện tử
Trong hai thập niên vừa qua, ngành CNĐT thế giới đã có những thay đổi cơ
bản mà điển hình nhất là việc hình thành mạng lưới sản xuất hàng điện tử mang
tính toàn cầ
u với năng lực sản xuất tiên tiến phục vụ cho các hãng điện tử lớn đã
có thương hiệu. Theo phương thức sản xuất kiểu mạng lưới này, quá trình sản
xuất được phân chia thành nhiều công đoạn, bố trí mỗi công đoạn ở các quốc
gia khác nhau tùy theo yêu cầu và điều kiện cụ thể của quốc gia đó và tạo thành
một chuỗi khép kín bao gồm các nhà lắp ráp s
ản phẩm tầm cỡ, các nhà cung cấp
linh kiện và dịch vụ sản xuất có uy tín đảm nhận việc vận hành các dây chuyền
lắp ráp, cung ứng linh kiện, vận chuyển và phân phối sản phẩm. Nhờ có mạng
lưới này mà các hãng, các tập đoàn điện tử lớn trên thế giới đã giảm được nhiều
chi phí sản xuất và chi phí vận chuyển. Hiện nay mạng lưới này đang được phát
- Giải sản phẩm phong phú. Thị trường sản phẩm điện tử gồm hàng chục
ngàn sản phẩm với quy trình xử lý và tính năng thiết kế mẫu khác
nhau, đặc biệt là các loại linh kiện bán dẫn;
-
Động lực gia tăng giá trị đang thay đổi, đang chuyển dịch dần sang
công đoạn thiết kế, xây dựng IP và các chương trình phần mềm;
- Yêu cầu sự hỗ trợ mạnh mẽ của CNHT nội địa.
Do có những đặc thù nêu trên mà ngành CNĐT đòi hỏi phải có công
nghệ, thiết bị hiện đại và các sản phẩm sản xuất ra có một số đặc điểm
riêng so với các sản phẩm của các ngành sản xuất khác, đó là:
- Các sản phẩm điện tử luôn luôn đòi hỏi phải đạt được mức độ cao hơn về
tính năng và thấp hơn về giá thành;
- Sản phẩm có tính toàn cầu hoá rất cao.
- Đời sống sản phẩm rất ngắn dù ứng dụng dự phòng ở tầm thời gian rất xa và
phạm vi rất rộng;
- Sả
n phẩm là kết quả tích hợp nhiều lĩnh vực công nghệ cao, đặc biệt là sự
hội tụ của công nghệ điện tử và công nghệ thông tin trong các sản phẩm
điện tử thông minh, đa dịch vụ, chứa đựng lớn hàm lượng R&D và do đó có
giái trị rất cao.
Với thế giới, ngành CNĐT là một ngành chủ lực bao gồm nhiều lĩnh vực
khác nhau để thay đổi bộ m
ặt văn minh của đời sống nhân loại, nhưng ở Việt
Nam, do phát triển muộn, do nhiều hạn chế về quản lý nhà nước, năng lực
chung của ngành, của chủ thể từng doanh nghiệp, của môi trường… nên trong
một thời gian dài, ngành CNĐT chỉ tập trung đầu tư cho các lĩnh vực:
- Sản xuất máy tính và các thiết bị ngoại vi (máy tính cá nhân, máy tính
xách tay, máy chủ, màn hình, máy in, máy quét, bàn phím, bo mạch
chủ, CPU, ổ cứ
lớn nhất của Việt Nam. Tất nhiên, trong chuỗi sản xuất toàn cầu của ngành
điện tử, ngành CNĐT Việt Nam (bao g
ồm cả các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài) vẫn đang dừng ở công đoạn lắp ráp và gia công sản phẩm
với giá trị gia tăng rất khiêm tốn.
1.1.2. Sự hình thành và phát triển ngành công nghiệp điện tử Việt Nam qua
các giai đoạn
Đối với Việt Nam ngành CNĐT là ngành tuy đã có hơn 30 năm hoạt
động, nhưng theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế ngành công nghiệp
này vẫn chỉ là m
ột cậu bé chập chững những bước đi đầu tiên. Trong khi ở
các nước có nền kinh tế phát triển, ngành CNĐT đã trở thành một ngành
chủ đạo, thường chiếm một tỷ trọng đáng kể (từ 30% ÷ 50%) trong tổng
KNXK, thì ở Việt Nam, mặc dù luôn được coi là một ngành công nghiệp
mũi nhọn, nhưng trong thực tế đa số các doanh nghiệp nội địa trong ngành
CNĐT Việt Nam vẫn là các DNV&N, công suất l
ắp ráp vài ngàn sản
phẩm/năm, với số lượng nhân công không quá 500 người/doanh nghiệp và
cũng không xác định sản phẩm chủ lực nên… cái gì cũng làm nhưng không
làm ra cái gì xứng đáng để rốt cuộc không cái gì ra cái gì, không có sản
phẩm “Made in Vietnam” đúng nghĩa. Không những thế, việc đầu tư của
Nhà nước cho ngành CNĐT lại rất nhỏ và manh mún
(tổng vốn đầu tư FDI
vào lĩnh vực công nghiệp phần cứng, điện tử tính đến cuối năm 2007 đạt
chưa đầy 10 tỉ USD) [27], cộng thêm với việc chưa có định hướng chiến
lược nào được thông qua (mãi đến ngày 28/5/2007 Thủ tướng Chính phủ
mới có Quyết định số 75/2007/QĐ - TTg phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát
triển CNĐT Việt Nam đến năm 2010 và tầ
m nhìn đến năm 2020) dẫn đến
hoạt động chính của ngành CNĐT Việt Nam chỉ là lắp ráp sản phẩm tiêu
ệp điện tử lâm vào tình cảnh cực kỳ khó
khăn. Có thể nói giai đoạn 1991 - 1995 là giai đoạn khó khăn nhất của
ngành CNĐT Việt Nam khi một số xí nghiệp lắp ráp phải tạm ngừng hoạt
động hoặc chỉ hoạt động cầm chừng hoặc phải chuyển sang sản xuất các
mặt hàng khác để tồn tại.
Giai đoạn 1996 - 2000:
Từ đầu những nă
m 90, với chủ trương đổi mới và hội nhập, nền kinh tế
Việt Nam bắt đầu chuyển động mạnh mẽ theo hướng kinh tế thị trường.
Chính phủ đã có những chính sách đầu tư thông thoáng, đẩy mạnh việc
xây dựng cơ sở hạ tầng và các khu chế xuất, khu công nghiệp nên đã thu
hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam, tác động mạnh mẽ tới sự
phát triển của nền kinh tế quốc dân. Cơ chế và môi trường hoạt động mới
đã tạo động lực cho ngành CNĐT Việt Nam hồi phục, bắt đầu khởi sắc và
phát triển từ năm 1994 khi Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận. Nhiều hãng điện
tử nổi tiếng của các nước có ngành điện tử phát triển đã vào Việt Nam liên
doanh với các doanh nghiệp trong nướ
c hoặc đầu tư 100% vốn xây dựng
cơ sở sản xuất. Các doanh nghiệp quốc doanh tích cực đổi mới phương
14
thức hoạt động, đẩy mạnh liên doanh liên kết với các hãng nước ngoài.
Nhiều doanh nghiệp tư nhân được thành lập, hoạt động SXKD rất năng
động và hiệu quả.
Có thể nói giai đoạn 1996 - 2000 là thời kỳ hoàng kim của ngành CNĐT
Việt Nam. Nhu cầu tiêu dùng lớn cộng với chính sách bảo hộ của nhà nước
đã tạo nên mảnh đất màu mỡ, khiến cho các doanh nghiệp điện tử mọc lên
như n
ấm sau mưa. Ở Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh là những trung
tâm kinh tế lớn, phát triển công nghiệp điện tử thì không có gì đáng nói,
và tác động của chính sách nội địa hoá của Chính ph
ủ, số lượng các cơ sở
lắp ráp hàng điện tử tiêu dùng giảm đi nhanh chóng. Từ hơn 100 doanh
nghiệp lắp ráp sản phẩm điện tử tiêu dùng vào cuối những năm 90 chỉ còn
lại 12 doanh nghiệp vào năm 2005 là các hãng điện tử hàng đầu của Nhật
Bản và Hàn Quốc như Sony, JVC, Toshiba, Panasonic, Samsung, LG,
15
Deawoo, hãng TCL của Trung Quốc và một số doanh nghiệp Việt Nam có
tên tuổi như VTB, Hanel, Belco, Tiến Đạt.
Trong giai đoạn này do có nhiều chính sách ưu đãi cho phát triển công
nghệ thông tin và truyền thông, nhiều cơ sở sản xuất và lắp ráp máy tính
và thiết bị truyền thông đã được thành lập và hiện đã có một số doanh
nghiệp Việt Nam thiết kế và tiến hành lắp ráp thành công máy tính và thiết
bị điện tử viễn thông mang thương hi
ệu Việt Nam mặc dù phải nhập khẩu
hầu như toàn bộ linh kiện từ A đến Z như CMS, SingPC, Mekong Green,
VINACom, T&H, Robo, FPT Elead, công ty điện tử TQT (Nha Trang),
v.v
Giai đoạn 2006 đến nay:
Từ ngày 01/01/2006 theo lộ trình AFTA, Việt Nam phải giảm thuế nhập
khẩu hàng điện tử và điện máy nguyên chiếc từ các nước ASEAN từ 30 -
40% xuống còn 0 - 5% và từ ngày 01/01/2007, sau khi Việt Nam chính thức
trở thành thành viên của WTO, ngoài việc thuế nhập khẩu hàng nguyên
chiếc và nhiều phụ tùng linh kiện giảm đi, một số ưu đãi và hỗ trợ của Nhà
nước dành cho ngành CNĐT cũng bị bãi bỏ theo các cam kết của Việt Nam
khi gia nhập WTO nên đã có một số doanh nghiệp FDI phá sản, ngừng sản
xuất hoặc chuyển đổi hoạt động sản xuất sang thương mại dịch vụ. Tuy
nhiên, cũng từ khi Việt Nam gia nhập WTO, một làn sóng đầu tư n
ước
Thủ tướng Chính phủ;
3. Nghị định số 149/2005/NĐ - CP ngày 08/12/2005 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Giai đoạn 2006 - 2011:
1. Quyết định số 55/2007/QĐ - TTg ngày 23/04/2007 của Thủ tướng chính
phủ phê duyệt Danh mục các ngành công nghiệp ưu tiên, ngành công
nghiệp mũi nhọn giai đoạn 2007 - 2010, tầm nhìn đến năm 2020 và một số
chính sách khuy
ến khích phát triển;
2. Quyết định số 75/2007/QĐ - TTg ngày 28/05/2007 của Thủ tướng chính
phủ phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển công nghiệp điện tử Việt Nam
đến 2010;
3. Quyết định số 34/2007/QĐ - BCN ngày 31/7/2007 của Bộ trưởng Bộ Công
nghiệp (nay là Bộ Công Thương) về việc phê duyệt “Quy hoạch tổng thể
phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn
đến năm
2020”;
4. Nghị định số 71/2007/NĐ - CP quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện
một số điều của Luật CNTT về Công nghiệp CNTT;
5. Thông tư số 216/2009/TT - BTC ngày 12/11/2009 của Bộ Tài chính Quy
định mức thuế suất của Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi
theo danh mục mặt hàng chịu thuế;
6. Các Nghị đị
nh: số 108/2006/NĐ - CP hướng dẫn thi hành Luật đầu tư; số
124/2008/NĐ - CP về thuế thu nhập doanh nghiệp; số 100/2008/NĐ - CP về
thuế thu nhập cá nhân; số 26/2009/NĐ - CP về thuế tiêu thụ đặc biệt quy
định một số chính sách ưu đãi cho công nghiệp điện tử;
7. Quyết định số 49/2010/QĐ - TTg ngày 19/7/2010 của Thủ tướng Chính
xuất linh kiện, phụ tùng. Đây là nguyên nhân quan trọng đầu tiên gây nên sự hụt
hẫng của ngành CNĐT Việt Nam trong giai đoạn hiện tại. Hơn nữa, việc sản
xu
ất phụ tùng, linh kiện theo các bộ linh kiện IKD, CKD còn thiếu các tiêu
chuẩn hợp lý thích ứng với sự đổi mới thường xuyên của công nghệ điện tử trên
thế giới. Trong thực tế, ở phần lớn các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp hàng điện
tử của Việt Nam, các trang thiết bị sản xuất được đầu tư bổ sung dần dần, trừ
một số dây chuyề
n mới nhập đồng bộ, hầu hết là thiếu đồng bộ, không đồng
đều, có công nghệ tiên tiến xen lẫn công nghệ lạc hậu, thiết kế mới xen kẽ vào
thiết kế cũ của nhiều hãng, nhiều thế hệ khác nhau. Vì vậy, mặc dù các sản
phẩm của các doanh nghiệp điện tử trong nước như Viettronic Tân Bình,
Viettronic Đống Đa, Viettronic Biên Hoà, Hanel đã đạt tiêu chuẩn chất lượng
cao nh
ưng vẫn không được thị trường trong nước ưa chuộng bằng hàng ngoại
nhập. Mức tiêu thụ giảm đã kéo theo mức sản xuất giảm, công nhân không có
việc làm.
Theo đa số ý kiến của các doanh nghiệp thì sự yếu kém hiện nay của
ngành CNĐT Việt Nam là do thiếu hẳn một chiến lược đầu tư đúng đắn.
Trong khi vừa cho phép các doanh nghiệp trong nước đầu tư mua dây
chuyền công nghệ để
tiến hành lắp ráp IKD nhằm tạo dựng môi trường
thương mại cho các sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam thì xuất phát từ
sự bùng nổ của nhu cầu hàng điện tử vào cuối những năm 80, đầu những
năm 90, Nhà nước lại ồ ạt cấp giấy phép cho các doanh nghiệp nước ngoài
liên doanh đầu tư vào lĩnh vực này, mà thực tế về bản chất, hoạt động của
các xí nghiệp liên doanh không khác gì so với hoạt động trước đây của các
18
doanh nghiệp Việt Nam, vẫn là lắp ráp và sản phẩm tiêu thụ trong nước là
Vietnam” của ngành CNĐT vẫn là bài toán chưa có l
ời giải.
b) Chính sách thuế
Thuế là một công cụ hết sức quan trọng của Nhà nước để điều tiết các
hoạt động sản xuất cũng như kinh doanh. Đối với ngành CNĐT, thuế càng
có ý nghĩa quan trọng. Những sắc thuế được ban hành luôn có tác động
mạnh mẽ tới thị trường sản xuất trong nước và lẽ dĩ nhiên, từ thuế, túi tiền
của người tiêu dùng sản phẩm Việt cũng bị ảnh hưởng ít nhiều. Vì vậy,
điều mong mỏi nhất từ phía doanh nghiệp đó là làm sao Nhà nước có
những chính sách thuế hợp lý, đúng thời điểm, giải quyết hài hoà được lợi
ích của ba bên: Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Tuy nhiên,
cho đến thời điểm này, do việc sản xuất các loại phụ tùng, linh kiện trong
nước chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp
hàng điện tử, nên để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp buộc phải
19
nhập khẩu nước ngoài và kết quả là các doanh nghiệp luôn gặp khó khăn
và chịu sức ép trong cạnh tranh với các sản phẩm nguyên chiếc nhập từ
Trung Quốc và các nước ASEAN.
Đầu những năm 2000, sau khi Việt Nam cam kết thực hiện lộ trình
giảm thuế CEPT/AFTA, Nhà nước đã có những điều chỉnh trong chính
sách thuế đối với ngành CNĐT. Tuy nhiên, việc điều chỉnh này vẫn chưa
giải quyết được những bất hợp lý. Theo ý kiến của các doanh nghiệp, các
mã hàng cơ bản trong một sản phẩm hoàn chỉnh phải nhập khẩu từ các
nướ
c ngoài ASEAN chiếm tỷ lệ tới 70% nhưng lại chịu mức thuế MFN từ
5% - 30%, trong khi những mặt hàng chịu mức thuế CEPT/AFTA chỉ
chiếm tỷ lệ khoảng 30% trong một sản phẩm hoàn chỉnh lại chịu mức thuế
CEPT/AFTA thấp hơn: từ 5 - 10%. Mức thuế cụ thể lần lượt theo MFN và
theo CEPT/AFTA đối với một số sản phẩm điện tử được trình bày trong
20
Thứ hai, các doanh nghiệp liên doanh và các doanh nghiệp FDI sẽ sớm
chuyển thành doanh nghiệp sở hữu 100% vốn, thu hẹp hoặc chấm dứt sản
xuất, chuyển sang kinh doanh thành phẩm nhập khẩu theo lộ trình Việt
Nam mở cửa hội nhập WTO và thực tế sự ra đi của các liên doanh Sony,
Orion - Hanel là một ví dụ.
Trong năm 2006 và đầu năm 2007, Bộ Tài chính đã ban hành một số
Quyết định như Quyết định số 08/2006/QĐ
- BTC ngày 08/02/2006 về việc
điều chỉnh thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng linh kiện, phụ
tùng điện tử và Quyết định số 02/2007/QĐ - BTC ngày 05/01/2007 về việc
giảm thuế nhập khẩu cho một số mặt hàng điện tử, điện lạnh, và gần đây
nhất là Thông tư số 216/2009/TT - BTC ngày 12/11/2009 của Bộ Tài chính
Quy định mức thu
ế suất của Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu
đãi theo danh mục mặt hàng chịu thuế. Theo đó các thuế suất nhập khẩu
ưu đãi của hầu hết các linh kiện, phụ tùng điện tử quan trọng mà trong
nước chưa sản xuất được đã được điều chỉnh. Tuy nhiên, theo các doanh
nghiệp điện tử, khi làm thủ tục thông quan cho linh kiệ
n nhập khẩu, các
doanh nghiệp vẫn gặp rất nhiều khó khăn bởi chính sách thuế, thủ tục hải
quan dẫn đến việc đã yếu lại càng yếu. Ví dụ, tivi nhập khẩu nguyên
chiếc, nếu nhập từ ASEAN thì thuế suất chỉ có 5%, nhưng nhiều linh kiện
để lắp ráp tivi thuế suất vẫn rất cao như cuộn biến áp (28%); cầu chì
(29%); phím nguồn, phím điều khiển (18%), các chi tiết nh
ựa (18%)…,
mặc dù các linh kiện, chi tiết này trong nước không thể sản xuất được hoặc
sản xuất được nhưng không đáp ứng được những yêu cầu về thông số kỹ
thuật cũng như độ chính xác. Tương tự, thuế nhập khẩu của màn hình máy
kiện điện tử, máy tính 3%), một số nhà đầu tư nước ngoài trong ngành
CNĐT và CNTT ở Việt Nam đã chuyển từ hình thức liên doanh sang 100%
vốn sở hữu, chuyển từ
sản xuất sang nhập khẩu và phân phối sản phẩm để
khai thác lợi thế này.
Tuy nhiên, đề nghị này cũng đang vấp phải những phản hồi trái chiều
từ phía các doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử, bán dẫn, vì nếu được
chấp nhận, các doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử, bán dẫn sẽ bị “chết
yểu” ngay khi vừa mới đượ
c hình thành. Trên thực tế, hàng rào bảo hộ
thuế quan đối với các linh kiện nhập khẩu trong những năm qua - vốn để
thúc đẩy ngành sản xuất điện tử trong nước đã thất bại. Với việc cắt giảm
thuế theo quy định của WTO đã dẫn đến sự ra đi của các liên doanh như
Sony, Orion - Hanel, vốn chỉ thâm nhập vào thị trường để hưởng các ưu
đãi về thu
ế và nhân công giá rẻ. Trong khi sự chi phối của các hãng điện tử
nước ngoài so với năng lực yếu kém của các doanh nghiệp Việt Nam hiện
đang là một trong những nguyên nhân dẫn đến cơ cấu sản phẩm của ngành
điện tử Việt Nam mất cân đối khá nghiêm trọng, thì trong tình thế hiện
nay, càng không được cho phép chúng ta bảo hộ ngành sản xuất này bằng
các biện pháp thuế quan cũng như phi thuế quan mà chúng ta đã áp dụng
từ những năm trước.
c) Chính sách về R&D, đổi mới công nghệ, hiện đại hóa trang thiết bị
Công nghệ lạc hậu sẽ dẫn đến năng suất lao động thấp, tiêu hao nguyên vật
liệu và năng lượng cao, gây ô nhiễm môi trường và cuối cùng là sản xuất ra sản
phẩm không thoả mãn nhu cầu của thị trường về giá cả và chất lượng. Bất kỳ
doanh nghiệp nào cũng nhậ
n thức được điều đó, nhưng thực tế việc tiến hành
các hoạt động R&D và đổi mới công nghệ, hiện đại hóa trang thiết bị sản xuất
gặp không ít khó khăn, cần khắc phục. Một mặt do các nhà quản lý chưa thực sự
lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu hiện đại hoá của toàn ngành. Đặc
biệt, các doanh nghiệp điện tử Việt Nam đã thiếu đầu tư đúng mức vào việc
nhập khẩu các thiết bị đo kiể
m (thường chiếm tới 50% tổng giá trị thiết bị
đầu tư), nên khả năng để lắp ráp, sản xuất các sản phẩm điện tử cao cấp
phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu là rất hạn chế.
d) Chính sách phát triển nguồn nhân lực
Đối với ngành CNĐT, một trong những vấn đề được quan tâm hàng
đầu là nhanh chóng đào tạo được nguồn nhân lực trình độ cao, kỹ n
ăng
giỏi, tạo tiền đề cho việc thu hút đầu tư từ các đối tác chiến lược như Nhật
Bản, Mỹ, EU để trên cơ sở đó có thể phát triển ngành CNĐT theo định
hướng xuất khẩu. Tuy nhiên các chính sách ưu đãi và hỗ trợ đào tạo để có
được nguồn nhân lực này cho đến nay vẫn chỉ nằm trong các văn bản, khả
năng để hiện thực hóa còn hạ
n chế. Theo Tổng cục thống kê, tính đến
31/12/2008, tổng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp SXKD điện
tử là 90.746 người [21], trong đó tỷ lệ cán bộ khoa học chỉ chiếm khoảng
10% [28] và chủ yếu tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Tp. Hồ
Chí Minh (khoảng 90% số lượng cán bộ khoa học).
Trong những năm đổi mới, mạng lưới đào tạo, dạy nghề của nước ta
đã
có sự phát triển mạnh về quy mô và chất lượng đào tạo. Các cải cách về
giáo dục, đào tạo đã có tác động đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,
23
mở rộng tri thức, khả năng sáng tạo, phát minh, óc tưởng tượng và các kỹ
năng thực hành nghề nghiệp của người lao động. Một bộ phận người lao
động Việt Nam đã làm chủ được KH&CN mới, hiện đại chuyển giao từ
t”, sau nhiều năm bàn thảo, ngày 31/7/2007 bản “Quy
hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm
nhìn đến năm 2020” đã được Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công
Thương) phê duyệt tại Quyết định số 34/2007/QĐ - BCN. Tuy nhiên, sau
gần 5 năm phê duyệt và ban hành, các cơ quan hữu quan vẫn chưa có
Thông tư hướng dẫn thực hiện và do vậy vẫn chưa có kế hoạ
ch hành động
cụ thể chỉ ra “Ai làm cái gì, làm khi nào và làm như thế nào?” và hậu quả là
tác động của bản Quy hoạch đến sự phát triển của các ngành CNHT ở Việt
Nam còn rất hạn chế. 24
Xác định CNHT là một khâu đột phá của nền kinh tế, ngày 24/02/2011,
Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 12/2011/QĐ - TTg về chính sách
phát triển một số ngành CNHT. Theo Quyết định này, 5 nhóm chính sách
ưu đãi phát triển CNHT đã được đề cập là ưu đãi đầu tư, phát triển thị
trường; ưu đãi về hạ tầng cơ sở; ưu đãi về KH&CN, đào tạo nguồn nhân lực;
ư
u đãi về cung cấp thông tin và ưu đãi về tài chính. Tiếp theo, ngày
26/8/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1483/QĐ - TTg ban
hành danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển. Các Quyết định này có
thể coi là những cú hích mới cho ngành CNHT Việt Nam - yếu tố quan
trọng trong phát triển kinh tế, gia tăng giá trị sản xuất và thúc đẩy các
ngành công nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
1.2.2. Thực trạng về hệ thố
ng các doanh nghiệp điện tử Việt Nam
Trên cơ sở các số liệu thu được từ các phiếu điều tra, khảo sát, các số liệu
của các tổ chức nước ngoài cũng như các số liệu của Tổng cục Thống kê, có thể
mô tả toàn cảnh hệ thống các doanh nghiệp ngành CNĐT Việt Nam như sau:
436 doanh nghiệp với ba loại hình sở hữu khác nhau, đó là các doanh
25
nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó số lượng các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài chiếm khoảng 1/3. Trên bảng 1.2 là số lượng các doanh
nghiệp hoạt động SXKD trong ngành CNĐT tại thời điểm ngày 31/12 hàng
năm trong các năm từ 2005 đến 2008. Đa phần các doanh nghiệp SXKD
trong ngành CNĐT là các DNV&N, quy mô lao động cũng như quy mô
nguồn vốn là hạn chế. Trên các bảng 1.3 và 1.4 là số l
ượng các doanh
nghiệp hoạt động SXKD trong ngành CNĐT tại thời điểm ngày 31/12 hàng
năm trong các năm từ 2005 đến 2008 phân theo quy mô lao động và quy
mô nguồn vốn [21].
Bảng 1.2. Số lượng các doanh nghiệp hoạt động SXKD trong ngành
CNĐT tại thời điểm ngày 31/12 hàng năm
TTT Theo
ngành SXKD
2005 2006 2007 2008
11 Sản xuất
thiết bị văn
phòng và máy
tính
26 30 39 62
22 Sản xuất
radio, TV và
thiết bị truyền
thông
212 226 282 374
ời
Từ
300÷
99
ngườ
i
Từ
500÷
99
ngườ
i
Từ
1000
÷
999
ngườ
i
Từ
5000
ngườ
i trở
lên
1
Sản xuất thiết
bị văn phòng