Luận văn tốt nghiệp
Nghiên cứu và đề xuất các công nghệ tái chế khả thi chất
thải rắn plastic trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh
Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường SVTH : Hoàng Anh Trang 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
I. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA
ĐỀ TÀI.
Tp.HCM đang trong xu thế phát triển kinh tế – xã hội, đô thị hóa, công nghiệp
Tại Tp.HCM, thị trường tái chế phế liệu đã được thực hiện và phát triển từ hơn
30 năm qua với nhiều loại nguyên liệu được thu mua, tái chế như giấy, thủy tinh,
nylon, kim loại Theo thống kê hiện nay có khoảng hơn 400 cơ sở tái chế vừa và
nhỏ, tập trung nhiều ở các khu vực như Bình Tân, Bình Chánh, Hóc Môn, Quận 11,
Quận 9 với khối lượng chất thải được tái chế hàng ngày ước khoảng 2.000 - 3.000
tấn tương ứng khoảng 600 - 800 triệu đồng lợi nhuận mỗi ngày.
Riêng ngành tái chế plastic là ngành có nguồn phế liệu dồi dào do đời sống ngắn
của một số vật dụng plastic. Bên cạnh đó, các sản phẩm plastic mang lại sự tiện ích
rất lớn cho người tiêu dùng do đó nhu cầu sử dụng ngày càng tăng đòi hỏi số lượng
sản xuất ngày càng cao, phế phẩm plastic thải ra càng nhiều, gây ra những vấn đề
nan giải về môi trường: các phế phẩm plastic khi được chôn lấp rất khó phân huỷ, mà
sức chứa của các bãi chôn lấp thường bị quá tải. Trong khi đó, các phế thải plastic có
khả năng thu hồi rất cao. Hiện nay một số cơ sở sản xuất các sản phẩm plastic đã có
các biện pháp thu hồi và tái sử dụng các phế thải của chính mình tạo ra. Tuy nhiên
công tác này chưa được khai thác triệt để, còn rất manh múng, cá nhân - cá thể, tuỳ
thuộc vào nhu cầu của từng doanh nghiệp và phục vụ cho các lợi ích và tính toán
kinh tế của riêng họ. Thực tế cũng cho thấy ngày nay với yêu cầu về chất lượng sản
phẩm ngày càng nâng cao để đáp ứng với xu thế cạnh tranh trên thị trường thì việc sử
dụng các nguyên liệu tái chế đang đứng trước nguy cơ ngày càng hạn chế.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp kỹ thuật nhằm tái
chế, tái sử dụng và tuần hoàn chất thải rắn cho Tp.HCM là một nhu cầu bức thiết
nhằm giảm bớt các sức ép đối với bãi rác và cũng để nhằm góp phần ngăn chặn các
thảm họa ô nhiễm môi trường do chất thải rắn gây ra. Việc lựa chọn công nghệ xử lý
nào cho thích hợp và có hiệu quả đối với những nét đặc thù của chất thải rắn tại
Tp.HCM, qui mô và hình thức đầu tư nào là phù hợp, địa điểm lựa chọn ở đâu để xây
dựng nhà máy xử lý cùng với việc xem xét đánh giá các tác động môi trường kèm
theo, điều kiện cung cấp thiết bị và hàng loạt các vấn đề khác có liên quan là những
công việc bức thiết hiện nay của Tp.HCM nói riêng và cả nước nói chung.
Xuất phát từ những lý do trên, em cho rằng việc tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu và đề xuất các công nghệ tái chế khả thi chất thải rắn plastic trên địa
tra, phỏng vấn trực tiếp
Điều tra cụ thể số lượng, hiện trạng của các cơ sở đang thực hiện công tác
tái chế plastic tại quận 6 và quận11.
Sưu tầm, kế thừa, chọn lọc các kinh nghiệm, các nghiên cứu điển hình trong
và ngoài nước.
Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường SVTH : Hoàng Anh Trang 4 Kế thừa các số liệu tính toán về lượng phát thải chất thải đã có sẵn.
Học hỏi kiến thức, tham khảo ý kiến từ các thầy cô giáo, các chuyên gia
môi trường về quản lý và xử lý chất thải.
Tìm hiểu và nghiên cứu các công nghệ tái chế chất thải trên thế giới có thể
áp dụng vào điều kiện Tp.HCM.
III. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về các giải pháp công nghệ tái chế plastic cho
khu vực Tp.HCM dựa trên quá trình khảo sát ở hai quận điển hình là Quận 6 và Quận
11.
IV. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
1. Tính khoa học
Đề tài được thực hiện thông qua các phương pháp nghiên cứu có cơ sở khoa
học cao phù hợp với mục tiêu và nội dung nghiên cứu và đươc xây dựng trên
nền tảng tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu uy tín trong và ngoài nước như: sách
giáo khoa chuyên ngành, các báo cáo hội thảo, sách báo, truyền hình, các công
trình nghiên cứu khoa học, tài liệu internet mang tính khoa học cao.
Tham khảo những công nghệ đã và đang được các nước có nền công nghiệp
phát triển ứng dụng.
Bên cạnh đó, đề tài còn thể hiện tính mới:
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÁI CHẾ CHẤT
THẢI RẮN
5.1 ĐỊNH NGHĨA TÁI CHẾ
Tái chế là hoạt động thu hồi lại từ chất thải các thành phần có thể sử dụng để chế
biến thành những sản phẩm mới sử dụng lại cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất.
[1, 92]
Tái chế bao gồm:
Tái chế vật liệu: bao gồm các hoạt động thu gom vật liệu có thể tái chế từ
dòng rác, xử lý trung gian và sử dụng vật liệu này để sản xuất các sản phẩm mới
hoặc sản phẩm khác.
Thu hồi nhiệt: bao gồm các hoạt động khôi phục năng lượng từ rác thải.
Hoặc :
Tái chế là hoạt động tái sử dụng phế liệu, chất thải trở thành nguyên liệu thô
hoặc sản phẩm. [2]
Ngoài ra :
Theo CIWMB – California Intergrated Waste Management Board: “Tái chế” là
cả một quá trình bao gồm phân loại, thu gom những chất thải phù hợp với mục đích
tái chế và bắt đầu một qui trình sản xuất mới sản phẩm.
Theo UNEP – United Nations Environment Programmes: quá trình tái chế còn
bao gồm cả các hoạt động tiếp thị, tạo thị trường cho các sản phẩm sau khi tái chế
lại.
Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường SVTH : Hoàng Anh Trang 7 Hình 1: “Vòng lặp kín”: Tái chế làm giảm tiêu thụ nguồn tài nguyên
Sản xuất Tái chế
Tiêu dùng
Nguồn tài
nguyên
thiên nhiên
Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường SVTH : Hoàng Anh Trang 8 phẩm cuối cùng, khuyến khích sử dụng các công cụ kinh tế có liên quan đến việc
ngăn ngừa chất thải phát sinh, phát huy việc áp dụng các phương pháp kiểm toán môi
trường và cấp nhãn môi trường.
Thêm vào đó Liên Hiệp Châu Âu đề nghị gia tăng sự hợp tác giữa các nước
thành viên nhằm giảm thiểu xuất nhập khẩu bất hợp lý và các hoạt động phát sinh
chất thải nguy hại. Điều này được xem như một phần của công tác quản lý chất thải,
những nhà sản xuất ở những nước này luôn phải tính đến khả năng tái sinh phế phẩm
của mình như một mục tiêu được đặt ra đầu tiên trong kế hoạch thiết kế sản xuất, sản
xuất và mua bán
Hệ thống quản lý này được nhiều quốc gia trên thế giới hưởng ứng và áp dụng
cho việc quản lý chất thải rắn như: Pháp, Mỹ, Hà Lan, Đức
Hồng Kông:
Kinh nghiệm thu hồi và tái sinh chất thải ở đây là một tiêu biểu hợp lý cho các
nước phát triển chậm nhưng lại mở rộng nhanh chóng ở nền kinh tế. Trong những
năm 1990, sự chuyển đổi tái sinh từ chất thải công nghiệp và chất thải đô thị trở
thành một hoạt động sản xuất khá phổ biến, nó cung cấp một lượng lớn nguyên liệu
thô cho cả ngành công nghiệp tái sinh trong và ngoài nước. Mặc dù còn nhiều khó
khăn nhưng Hồng Kông đã xuất khẩu 1,6 triệu tấn vật liệu tái sinh vào năm 1995,
nền công nghiệp tái sinh nội địa đã tăng lên 600.000 tấn chủ yếu là phế liệu giấy, kim
chính sách và luật pháp của Đức về quản lý chất thải. Năm 1996, Đức đã ban hành
luật “ quản lý và khép kín vòng tuần hoàn chất thải” qui định rõ các nghĩa vụ quản
lý, tái chế chất thải an toàn và chất lượng cao. Năm 2001, ngành công nghiệp giấy tái
sử dụng tới 80%, bao bì có thể tái sử dụng 61%. Năm 2002, Đức ban hành luật qui
định các hãng sản xuất ôtô thu hồi xe cũ trong cả nước. Theo ước tính, 85% xe cũ
tính theo trọng lượng sẽ được thu hồi vào năm 2006 và tỷ lệ tái chế, tái sử dụng các
vật liệu của các xe cũ đạt 80%. Đức đặt mục tiêu tái chế và tái sử dụng vật liệu của
xe cũ là 95% vào năm 2015.
Bảng 1: Thống kê tỷ lệ thu hồi và tái chế chất thải rắn
của một số quốc gia trên thế giới
Tên nước % Chôn lấp % Đốt % Ủ sinh học % Thu hồi tái chế
Nhật 22.5 72.8 2.6 3.2
Mỹ 67 16 2 15
Đức 68.9 15.5 3.1 12.5
Pháp 40 40 10 10
Anh 73 13 14 0
Hà Lan 52 27 8 13
Đan Mạch 16 68 0 16
(Nguồn: International Congress And Exhibition- Proceeding 1,1996)
Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường SVTH : Hoàng Anh Trang 10 1.2.2. Việt Nam
Thực hiện chiến lược phát triển bền vững, chiến lược Quản lý môi trường đến
năm 2010, chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia giai đoạn 2015, tầm nhìn 2020 đã
xác định các đô thị trong đó có Tp.HCM, phải tăng cường công tác tái sử dụng, tái
chế và áp dụng công nghệ xử lý mới nhằm mục tiêu đến năm 2010 giảm 30 - 50%
Công sở, trường học;
Chất thải từ các cơ sở sản xuất, nhà máy xí nghiệp;
Bệnh viện, các cơ sở y tế;
Ngoài ra, do các hoạt động liên quan đến phế liệu tại Tp.HCM rất sôi động nên
luôn thu hút cả những nguồn phế liệu từ các tỉnh khác.
1.3.2. Phân loại phế liệu
Chủng loại phế liệu rất đa dạng, được phân thành một số loại sau:
Nhôm: gồm:
Nhôm dẻo: gồm những vật dụng có thành phần nhôm tinh khiết cao
(xoong, nồi, thau, ấm nước )
Nhôm cứng: gồm những vật dụng bằng nhôm nhưng chất lượng nhôm
có pha tạp chất tùy theo muc đích sử dụng (niềng xe, bộ lọc máy,
piston )
Lon nhôm: lon bia, lon nước ngọt
Nhôm tạp: gồm những vật dụng bằng nhôm có kích thước nhỏ, vụn,
không thuần nhất.
Nhựa: là phế liệu có tính phổ thông do việc sử dụng rộng rãi vật liệu nhựa
trong đời sống hàng ngày. Do đó, chúng rất đa dạng về chủng loại, bao gồm
một số loại chính sau:
Nhựa dẻo trong (PE dẻo): gồm những vật dụng bằng nhựa PE nguyên
chất mới qua một lần sản xuất.
Mủ thau (nhựa PP): thau, rổ, ca
Nhựa cứng (PVC, PS): ống nước cứng, những vật dụng nhựa cứng.
Túi xốp, bao nylon.
Sắt: bao gồm cả những khối sắt lớn và những mẩu sắt vụn.
Giấy phế liệu:
Giấy có thể tái sử dụng: thùng carton, sách báo cũ chưa bị rách, bẩn
Giấy vụn, tạp.
Nhớt cặn: từ các xe máy, xe ôtô, động cơ
Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường Thu mua ve chai dạo
Thu nhặt dọc đường
Thu nhặt tại các bãi rác
Người môi giới
Thu nh
ặt tại các b
ãi rác +
Phân
loại kỹ (chủ yếu là nhựa)
Phân
loại
sơ
Phân
loại
kỹ
Nguồn thuần
khiết, ổn định
: cửa hàng
lớn, xí
nghi
ệp, các
Vựa thu
mua nhỏ
Vựa thu mua
trung bình
(Nguồn : Sở Tài Nguyên Và Môi Trường)
Từ qui trình thu gom trên ta thấy:
Những người nhặt rác và người thu mua ve chai từ các hộ gia đình là cấp thấp
nhất trong hệ thống này (chủ yếu gồm phụ nữ và trẻ em thất học xuất thân từ những
gia đình lao động nghèo), họ còn thu nhặt rác dọc đường phố, tại các bãi rác để thu
lượm những phế liệu còn giá trị.
Ngoài ra còn có lực lượng công nhân vệ sinh thu gom rác từ các hộ dân và dọc
đường phố. Họ treo những bao tải bên cạnh những chiếc xe thu gom rác của mình và
lựa lại các phế liệu có thể bán được để cho vào bao tải này.
Phế liệu từ đây được tập trung về các vựa ve chai qui mô nhỏ nằm xen kẽ trong
khu dân cư. Các vựa này thu mua tất cả các loại phế liệu, tại đây phế liệu sẽ được
phân loại thành các thành phần riêng và bán lại cho các vựa thu mua phế liệu qui mô
trung bình và lớn hoặc bán trực tiếp cho các cơ sở tái chế.
Các vựa thu mua qui mô trung bình và lớn chỉ tập trung thu mua một hoặc hai
loại phế liệu nhất định đã được phân loại và qua xử lý sơ bộ như: làm sạch, ép nhỏ
từ các vựa nhỏ. Bên cạnh đó, với những nơi có nguồn hàng dồi dào, thuần khiết và
ổn định từ các cửa hàng lớn, kho, xí nghiệp, các tỉnh thông qua mạng lưới mối lái
trung gian - những người chuyên đi tìm kiếm nguồn hàng và giới thiệu nơi tiêu thụ
để hưởng huê hồng; lượng phế liệu thu gom sẽ được cung cấp cho những người
chuyên phân loại. Hình thức này rất phổ biến với mặt hàng nhựa vì nó đa dạng và đòi
hỏi chất lượng cao trước khi bán cho các cơ sở tái chế. Sau khi phân loại và làm
sạch, phế liệu được cung cấp cho các cơ sở tái chế trong Thành phố.
Do đó, hoạt động thu mua phế liệu của các vựa ve chai giữ vai trò trung gian, nó
điều phối lượng “nguyên liệu” cho các cơ sở tái chế.
Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường SVTH : Hoàng Anh Trang 14
Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường SVTH : Hoàng Anh Trang 15 Bao bì nylon, nhựa phế liệu được các cơ sở tái chế thu gom để sản xuất
các sản phẩm thứ cấp.
Bảng 2: Các loại hình chất thải có khả năng tái chế hoặc tái sử dụng 1.3.5. Sự phân bố các cơ sở thu mua và tái chế phế liệu ở Tp.HCM
Bảng 3: Số lượng các vựa ve chai trong khu
vực nội thành Tp.HCM
Quận Số lượng vựa (cơ sở) ve chai
Quận 1 3
Quận 3 19
Quận 4 13
Quận 5 27
Quận 6 47
Quận 8 26
Quận 10 11
Quận 11 39
Ngành Số cơ sở % trên tổng số
Nhựa 535 49.3
Gang 177 16.3
Giấy 158 14.5
Sắt, đồng, kẽm 141 13.0
Thủy tinh 41 3.8
Nhôm 34 3.1
(Nguồn : ENDA – Việt Nam)
Chúng ta có thể hình dung được lý do các vựa ve chai tập trung ở các quận này
nhiều hơn ở các quận khác là do:
Ở các quận này tập trung các hoạt động tái chế phế liệu cao.
Các quận này có vị trí địa lý nằm liền kề nhau, phân bố cơ sở sản xuất
cạnh nhau tạo thành cụm tiểu thủ công nghiệp sản xuất phế liệu.
Các vựa ve chai và các cơ sở tái chế phế liệu này đã hình thành từ lâu và
có mối quan hệ mật thiết với nhau như một nghề truyền thống.
Đây là những khu vực tập trung đông dân lao động, đa phần là dân nhập
cư, trình độ học vấn thấp, chuyên sống bằng nghề phế liệu.
5.4 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TÁI CHẾ CHO CÁC NGÀNH SẢN XUẤT
Chỉ có chất thải của một số ngành công nghiệp là có thể tái chế, tái sử dụng
được; phần chất thải không có giá trị tái chế được đưa đi chôn lấp đối với chất thải
không nguy hại hoặc thiêu đốt đối với chất thải nguy hại.
Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường SVTH : Hoàng Anh Trang 17 Bảng 5: Đánh giá tỷ lệ % khả năng tái chế chất thải của các ngành sản xuất.
STT Ngành công nghiệp % Khả năng tái chế % Tái chế thực tế
1 Chế biến thực phẩm 60 – 80 % 40 %
SVTH : Hoàng Anh Trang 18 những loại hình tái chế khác. Sự phân bố các loại hình tái sinh tái chế của các cơ sở
như sau:
Bảng 6: Số lượng cơ sở tái chế phân bố trên các quận/huyện
Loại hình
tái chế
Tái chế
cao su
Tái chế
plastic
Tái chế
kim loại
Tái chế
giấy
Tái chế
thủy tinh
Tổng
cộng
Quận 1 6
6
Quận 2 11
11
Quận 3 6
6
Quận 4 3
3
H.Bình Chánh 8 2
10
H.Củ Chi 3 3
H.Hóc Môn 3 1 2
6
Tổng cộng 202 67 9 7 15 302
Tỷ lệ % 66,9 22,2 3,0 2,3 5,0 100
(Nguồn : Sở Tài Nguyên và Môi Trường)
Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường SVTH : Hồng Anh Trang 19 Hình 3: Sự phân bố các loại hình thu mua - tái chế tại Tp.HCM
Tỷ lệ phân bố các loại hình TS-TC
trên đòa bàn Tp.HCM
0.7
2.3
3
5
22.2
66.9
0
10
20
30
40
50
60
Sản phẩm từ
plastic phế liệu
(%)
Nhà máy, hợp tác xã,
cơ sở sản xuất.
38.4 29.6 26.0
Thị trường tự do
(chợ và các mối lái)
39.4 22.3 40.7
Không xác định
22.2 48.1 33.3
Tổng cộng
100 100 100
(Nguồn : Viện Kỹ Thuật Nhiệt Đới và Bảo Vệ Môi Trường)
5.6 LỢI ÍCH CỦA HOẠT ĐỘNG TÁI CHẾ CHẤT THẢI RẮN.
Trong tình hình xử lý rác thải khó phân huỷ còn bỏ ngỏ như hiện nay, hoạt
động thu gom phế liệu trên địa bàn Tp.HCM đã góp phần rất lớn trong việc giải
quyết vấn đề nan giải này.
1.6.1. Về mặt kinh tế
Tái sản xuất ra một lượng sản phẩm từ phế liệu ngoài tác dụng nâng cao
tổng sản phẩm nội địa còn góp phần tiết kiệm một lượng ngoại tệ vốn eo
hẹp trong việc nhập nguyên liệu cho sản xuất nhất là nguyên liệu plastic và
nhôm có sẵn trong nước.
Chủ cơ sở có thể thu được một khoản tiền không nhỏ từ việc bán phế liệu
va tiết kiệm được một khoản tiền lớn cho chi phí đổ rác theo dịch vụ công
ích của Công Ty Môi Trường Đô Thị Tp.HCM.
Sử dụng những vật liệu thứ cấp sẽ giảm được năng lượng trong quá trình
sản xuất so với việc sử dụng những vật liệu thô.
Bảng 9: Lợi ích kinh tế và môi trường do áp dụng sản xuất sạch hơn
tại các cơ sở công nghiệp
Các lợi ích Mức tiết kiệm/giảm thiểu
chất ô nhiễm (%)
Tiết kiệm nước sản xuất 40 – 70
Tiết kiệm năng lượng 20 – 50
Chất thải nguy hại 50 – 100
Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) 40 – 60
Kim loại nặng trong dòng thải 20 – 50
(Nguồn : Hội nghị bàn tròn quốc gia về sản xuất sạch hơn, 2004)
Song song với những lợi ích nêu trên, hoạt động tái chế phế liệu cũng thể
hiện một số khuyết điểm cần được khắc phục như:
Hầu hết các cơ sở sản xuất có liên quan đến phế liệu đều là loại hình tư nhân,
cá thể do đó không nhiều thì ít đều gây ô nhiễm môi trường không khí và nước thải.
Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường SVTH : Hoàng Anh Trang 22 Tuy vậy, vấn đề này có thể giải quyết bằng biện pháp hỗ trợ vốn, chính sách miễn
giảm thuế nhằm khuyến khích các cơ sở cải tiến thiết bị hiện đại và trang bị các hệ
thống xử lý. Bên cạnh việc gây ô nhiễm môi trường, hoạt động tái chế phế liệu rất có
thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe công nhân trong dây chuyền tái
chế.
Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường SVTH : Hoàng Anh Trang 23
(Nguồn: Nijenhuiste – 1988, [4])
Đặc tính của nhựa có thể bị thay đổi khi thêm vào một số chất phụ gia như:
Chất chống oxi hóa: thường được thêm vào Polyethylene và Polypropylene, nhằm
làm giảm tác động của oxi đối với nhựa tại nhiệt độ cao.
Chất ổn định: có thể làm giảm tỷ lệ tan rã của Polyvinyl Chloride (PVC).
Chất làm mềm: được sử dụng để giúp cho các loại nhựa dẻo và dễ uốn hơn.
Chất làm thông: được sử dụng để tạo ra các lỗ hổng trong cấu trúc của nhựa.
Chất làm chậm cháy: được thêm vào để làm giảm tính dễ cháy của nhựa.
Màu: được sử dụng để tạo màu cho nguyên liệu nhựa.
Hiệu quả của các chất phụ gia đối với đặc tính của nhựa là một điển hình về sự đa
dạng các sản phẩm làm từ nhựa PVC, từ ống dẫn nước, vật dụng trong nhà, đĩa hát,
tã em bé đến các hoạt động thể thao.
Một số định nghĩa:
Chất thải nhựa là các loại chất thải ở dạng rắn có nguồn gốc từ dầu mỏ.
Nhựa phế liệu là sản phẩm, vật liệu nhựa bị loại ra trong sản xuất hoặc tiêu
dùng nhưng đáp ứng được yêu cầu làm nguyên liệu sản xuất cho chính bản
thân ngành nhựa (sau khi sơ chế) hoặc cho các ngành sản xuất khác.
Nguyên liệu nhựa tái chế (còn được gọi là nguyên liệu tái chế): sản phẩm đã
qua sử dụng hoặc phế phẩm (chất thải) nhựa mà còn có thể sử dụng lại hoặc
được tái chế thành nguyên liệu thô.