Nhận diện hệ thống đổi mới trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp ( nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp sản xuất mũ bảo hiểm trên địa bàn TP hồ chí minh) - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------

MAI VĂN SỦNG

NHẬN DIỆN HỆ THỐNG ĐỔI MỚI
TRONG LĨNH VỰC SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
MŨ BẢO HIỂM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hà Nội, 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

MAI VĂN SỦNG

NHẬN DIỆN HỆ THỐNG ĐỔI MỚI
TRONG LĨNH VỰC SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
MŨ BẢO HIỂM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.04.12


1


MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ...................................................................... 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU ................................................................................... 5
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................... 6
1.

Lý do nghiên cứu ............................................................................................ 6

2.

Lịch sử nghiên cứu ......................................................................................... 8

3.

Mục tiêu nghiên cứu ..................................................................................... 11

4.

Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................... 11

5.


1.2.2. Thế hệ thứ hai ........................................................................................ 24
1.2.3. Thế hệ thứ ba ......................................................................................... 26
1.2.4. Thế hệ thứ tư .......................................................................................... 27
1.3. Giới thiệu chung về chính sách đổi mới. .......................................................... 30
1.4. Quá trình phát triển chính sách đổi mới .......................................................... 32
1.4.1. Quá trình hoạch định chính sách đổi mới................................................ 32
1.4.2. Môi trường cho đổi mới ......................................................................... 34
1.5. Doanh nghiệp sản xuất công nghiệp ................................................................ 36
2


1.5.1. Doanh nghiệp ......................................................................................... 36
1.5.2. Doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất công nghệ ................................... 37
1.6. Khái niệm công nghệ và quản lý công nghệ ..................................................... 37
1.6.1. Khái niệm công nghệ ............................................................................. 37
1.6.2. Quản lý công nghệ ở các doanh nghiệp .................................................. 40
Tiểu kết chương 1 ............................................................................................ 42
2.

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HỆ THỐNG ĐỔI MỚI TRONG CÁC

DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT MŨ BẢO HIỂM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH .................................................................................................................... 43
2.1. Thực trạng chính sách xây dựng và thúc đẩy hệ thống đổi mới ở Việt Nam...... 43
2.1.1. Tình hình chính sách đổi mới tại Việt Nam ............................................ 43
2.1.2. Nhận xét về chính sách đổi mới của Việt Nam ....................................... 47
2.2. Thực trạng hệ thống đổi mới của các doanh nghiệp công nghiệp..................... 48
2.2.1.Thực trạng hệ thống đổi mới của các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất
công nghiệp. .................................................................................................... 48
2.2.2. Đánh giá chung về hệ thống đổi mới của các doanh nghiệp trong lĩnh vực


Kinh tế - Xã hội

MBH

Mũ bảo hiểm

NC&TK

Nghiên cứu và triển khai

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

Tiếng Anh
NIS

National Innovation System
Hệ thống đổi mới quốc gia

OEDC

Organization for Economic Co-operation and Development
Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển

STI

Science, Technology and Innovation System
Hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới


5


PHẦN MỞ ĐẦU

1.

Lý do nghiên cứu
Lịch sử phát triển của nhân loại đã minh chứng vai trò của KH&CN trong sự phát

triển kinh tế xã hội gắn với nền văn minh hiện đại. Lịch sử cũng đã chứng kiến nhiều
nền văn minh cổ đại đã từng là những cái nôi phát minh của nhân loại như Trung Hoa,
Ai Cập, Ba Tư…nhưng do không duy trì được các thiết chế phù hợp cho sự phát triển
mà đã bị tàn lụi. Thay vào đó, các nền văn minh mới xuất hiện ở Châu Âu và Bắc Mỹ
trong lịch sử cận đại nhờ đã kiến tạo được những thiết chế thích hợp cho Khoa học kỹ
thuật phát triển.
Bài học thành công của một số nền công nghiệp phát triển tại Châu Á gần đây
như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc đều có chung một mẫu số là lấy
KH&CN làm quốc sách hàng đầu để phát triển. Chỉ trong vòng 50-70 năm gần đây với
“đôi đũa thần” KH&CN, các nước này không chỉ thoát khỏi nghèo đói, lạc hậu, không
chỉ đuổi kịp Châu Âu, Bắc Mỹ - nơi có lịch sử phát triển KH&CN vài trăm năm, mà
còn đang chiếm lĩnh vị trí tiên phong trên một số lĩnh vực về KH&CN.
Nhờ KH&CN một mà số nước kèm phát triển như trên, mặc dù không hề được
thiên nhiên ưu đãi đã trở, trong khi nhiều quốc gia ở châu Phi, Đông Âu – nơi được
thiên nhiên ban phát hào phóng nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhưng vẫn nghèo nàn và
lạc hậu với nhiều xung đột xã hội. Rõ ràng dù tài nguyên thiên nhiên giàu có đến đâu
cũng chỉ giúp các nước này đủ ăn và có thể làm giàu cho một số bộ phận nhỏ có quyền
lực, chứ tuyệt nhiên không thể làm tiền đề cho sự phát triển. Chỉ có trí tuệ và tài
nguyên con người mới là yếu tố có khả năng biến không thành có và hơn thế nữa là tạo

hệ thống đổi mới quốc gia và cung cấp luận cứ để ban hành các chính sách về đổi mới
và quản lý hệ thống đổi mới.
Về thực tiễn: Giúp cho doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp sản xuất mũ bảo
hiểm có thể xem xét, tham khảo để vận dụng kết quả của đề tài này (các vấn đề trong
hệ thống đổi mới) vào việc đánh giá năng lực đổi mới của doanh nghiệp mình, để biết
được thực trạng về năng lực đổi mới của mình mạnh, yếu thế nào? Cần phải ưu tiên
mặt nào? Có đảm bảo cho việc đổi mới công nghệ hay không? Để điều chỉnh, bổ sung
hoặc tìm ra giải pháp cho việc xây dựng kế hoạch và thực hiện việc đổi mới đem lại
hiệu quả cao.
Giúp cho việc: tham mưu, đề xuất việc ban hành các chính sách hỗ trợ doanh
nghiệp trong việc đổi mới và hiện đại hoá công nghệ sản xuất; nâng cao hiệu quả hoạt
động quản lý hệ thống đổi mới thông qua một số giải pháp rút ra từ kết quả nghiên cứu
của đề tài.
7


2.

Lịch sử nghiên cứu
Xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia, các chương trình và kế hoạch đổi mới công

nghệ quốc gia đã được nhiều nước phát triển và đang phát triển quan tâm.
Các nghiên cứu của C.Edquist (Trường ĐH Lingkoping, Thụy Điển) năm 1999,
2001 cũng đã đề cập đến chính sách đổi mới cũng như việc thiết kế và thực hiện chính
sách đổi mới trong khuôn khổ của cách tiếp cận hệ thống đổi mới.
Trong một nghiên cứu của Ủy ban châu Âu (2002) về đổi mới cho ngày mai:
chính sách đổi mới và khuôn khổ thể chế đã tổng hợp các cách tiếp cận mới đối với
chính sách đổi mới trong nền kinh tế dựa vào tri thức, xác định và tổng quan các liên
kết giữa chính sách đổi mới và các chính sách khác đặc biệt là các chính sách liên
quan đến khuôn khổ luật pháp và thể chế cho đổi mới.

một số chương trình về nghiên cứu và đổi mới công nghệ phạm vi vùng cũng được
một số quốc gia đưa ra. Điển hình là chương trình RIT của Bỉ đưa ra nhằm khuyến
khích các DNNVV vùng Wallonia tiến hành các hoạt động NC&TK và đổi mới công
nghệ thông qua tuyển dụng các nhà quản lý đổi mới đặc biệt. Chương trình “Baross
Gabor” của Hungary hỗ trợ đổi mới công nghệ trong vùng Del-Alfold nhằm tăng
cường chuyển giao tri thức giữa viện NC&TK và các doanh nghiệp để thúc đẩy
thương mại hoá các kết quả nghiên cứu thông qua các biện pháp hỗ trợ: phát triển sản
phẩm và công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ dựa trên công nghệ; tạo điều kiện thuận
lợi cho sự hợp tác giữa các doanh nghiệp và các tổ chức khác trong các hoạt động đổi
mới và trao đổi tri thức; tăng cường thương mại hoá các kết quả của hoạt động đổi mới
trong các doanh nghiệp.
Theo các nghiên cứu về NIS được Charles Edquist tập hợp trong cuốn sách
“Systems of Innovation-Technologies, Institutions and Organizations” (1994) đại diện
cho một nhóm các tiếp cận khác nhau về hệ thống đổi mới tham gia trong mạng lưới
này, thì sự khác biệt về kinh tế giữa các quốc gia chính là nhân tố giải thích cho sự
khác biệt trong hệ thống đổi mới, đồng thời là cách thúc đẩy đổi mới công nghệ tại các
quốc gia này diễn ra nhanh chóng và hiệu quả hơn.
Franco Malerba khi nghiên cứu về “Đổi mới hệ thống ngành ở Châu Âu” nhận
định rằng các tri thức, công nghệ; các tác nhân và mạng lưới; các thể chế là những yếu
tố gây ảnh hưởng chủ yếu đến đổi mới.
Nhìn chung, các nghiên cứu lý thuyết về đổi mới, chính sách đổi mới và NIS ở
nước ta đều mang tính tổng quan trên cơ sở nghiên cứu các công trình của các khoa
học nước ngoài nổi tiếng như đã dẫn trên đây. Có thể kể đến các công trình của
Nguyễn Mạnh Quân (2002), Hoàng Văn Tuyên (2006), Nguyễn Thị Minh Nga (2004),
Nguyễn Việt Hòa (2004). Sau khi nghiên cứu tổng quan, phân tích thực tế trong nước,
các nghiên cứu này đều có đưa ra một số khuyến nghị nhằm tăng cường giải pháp
9


chính sách hiện có hoặc đề xuất một số giải pháp mới. Tuy nhiên, cho đến nay hệ

năm) và về lâu dài. Có thể nói NIS là động lực phát triển thị trường KH&CN. Nếu
10


không có hệ thống này, hoặc có, nhưng hoạt động tồi thì thị trường KH&CN rất dễ bị
biến động, dẫn tới khủng hoảng.
Các nghiên cứu trên mới chỉ nghiên cứu đơn thuần và nghiên cứu dưới cái nhìn
tổng thể toàn hệ thống đổi mới của cả một quốc gia mà chưa có cái nhìn trực diện, cụ
thể về một lĩnh vực cụ thể. Căn cứ sự khác biệt trong các ngành mà các thành tố tham
gia và các hoạt động đổi mới sáng tạo là khác nhau. Chính vì vậy, hệ thống đổi mới
sáng tạo trong các lĩnh vực vẫn tồn tại những đặc chung của hệ thống đổi mới quốc
gia, tuy nhiên nó cũng có những đặc điểm khác biệt. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện
nay, động lực để các doanh nghiệp tăng cường tính cạnh tranh dựa vào STI là do sức
ép lớn về những vấn đề kinh tế đang đặt ra. Để đạt được điều này, doanh nghiệp phải
dựa vào các liên kết chặt chẽ trên nền KH&CN, tăng cường năng lực hấp thu công
nghệ nước ngoài, xây dựng năng lực STI nội sinh của mình. Chính vì vậy tác giả đã
lựa chọn vấn đề “Nhận diện hệ thống đổi mới trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp
(Nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp sản xuất mũ bảo hiểm trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh).
3.

Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung:
Nhận diện được hệ thống đổi mới trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận về hệ thống đổi mới của các doanh nghiệp sản xuất
công nghiệp;
+ Phân tích các thành tố và các mối liên hệ giữa các thành tố trong hệ thống đổi
mới tại các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.


mới sản phẩm với thành tố chính là các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tin lực)
với các đặc điểm: đầu tư cho hoạt động đổi mới còn thấp, đa số không có tổ chức
R&D, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao và công nghệ sản xuất lạc hậu khiến khả
năng cạnh tranh kém.
8.

Phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận: Tiếp cận hệ thống: xem xét, nghiên cứu các yếu tố, các mặt có

liên quan đến công nghệ, đổi mới công nghệ, đến đánh giá năng lực công nghệ và năng
lực đổi mới công nghệ, đến vai trò của năng lực công nghệ đối với đổi mới công nghệ,
đến tính tất yếu của đổi mới công nghệ.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu cơ sở lý luận từ các lý thuyết có
liên quan trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, thu thập, tổng hợp và
phân tích các thông tin, cơ sở lý luận về công nghệ, đổi mới, sáng tạo, hệ thống đổi
mới, hệ thống đổi mới quốc gia, hệ thống đổi mới của doanh nghiệp.
Phương pháp quan sát: Quan sát từ thực tiễn hoạt động sản xuất và hoạt động
đổi mới trong các doanh nghiệp sản xuất mũ bảo hiểm trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh.
Phương pháp chuyên gia: xin ý kiến, nhận định của các nhà khoa học về thực
trạng, nhận xét khái quát về hệ thống đổi mới của các doanh nghiệp hiện nay, về nội
dung bảng hỏi cho điều tra, phỏng vấn, về phương pháp đánh giá năng lực đổi mới, về
các khuyến nghị, đề xuất chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng và phát triển hệ
thống đổi mới.

12


Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Thiết kế các phiếu điều tra theo hình thức
bảng hỏi (Phụ lục 2) để thu thập các thông tin định lượng phục vụ cho nội dung nghiên

1.1. Hệ thống đổi mới
1.1.1. Đổi mới
Đổi mới có tầm quan trọng đang gia tăng và thay đổi như một nguồn lực của lợi
thế cạnh tranh với tầm ảnh hưởng rộng lớn đến chính sách. Tuy nhiên, việc đưa ra một
định nghĩa thống nhất không phải là đơn giản và đã có nhiều tranh luận về vấn đề này.
Thuật ngữ đổi mới đã xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX khi nhà kinh tế học
Schumpeter (1911) đã phân biệt giữa việc hình thành một ý tưởng cho sản phẩm hoặc
qui trình (sáng chế) và việc ứng dụng ý tưởng đó đến quá trình kinh tế (đổi mới).
Khung 1. Phân biệt giữa sáng chế, đổi mới và truyền bá
Sáng chế: Sự nhận thức và hiểu rõ một thiết kế cho một sản phẩm hay quy trình
hoặc một sự cải tiến một sản phẩm hay qui trình.
Đổi mới: Việc áp dụng sáng chế đến hoạt động kinh tế hoặc nói cách khác sự hữu
dụng về mặt kinh tế của một sáng chế.
Truyền bá: Việc phổ biến rộng rãi một sáng chế trong nền kinh tế, việc phổ biến
qui trình đổi mới có ý nghĩa kinh tế. Sự truyền bá liên tục có thể dẫn đến sự thay đổi
để rồi lại hình thành một sáng chế mới.

Đến năm 1939 Schumpeter mở rộng khái niệm đổi mới như là tập hợp các chức
năng mới trong sản xuất, bao gồm cả tạo ra hàng hoá mới, hình thái tổ chức mới (như
sáp nhập), mở ra những thị trường mới, sự kết hợp các nhân tố theo một cách mới hoặc
tiến hành một sự kết hợp mới. Lundvall (1992), Elam (1992) cũng có những quan
điểm tương tự.
Nelson và Rosenberg (1993), Carlsson và Stankiewicz (1995) xác định đổi mới
theo một khái niệm rộng bao gồm các qui trình mà các doanh nghiệp làm chủ và đưa
vào thiết kế những sản phẩm và qui trình chế tạo mới đối với các doanh nghiệp, bất

14


luận mới ở quy mô quốc tế hoặc quốc gia. Ở đây khái niệm đổi mới không chỉ là việc

nghiên cứu ứng dụng, triển khai thực nghiệm và đưa sản phẩm/dịch vụ ra thị
trường,…), một số học giả đã vận dụng cách tiếp cận mới: cách tiếp cận hệ thống.
Cách tiếp cận hệ thống nhấn mạnh tầm quan trọng của những hợp phần khác nhau và
sự tương tác giữa các hợp phần này trong toàn bộ hệ thống mà qui trình đổi mới phát
triển. Ở đây, thuật ngữ “đổi mới” không được đánh đồng với thuật ngữ “nghiên cứu”
hoặc “tiến trình công nghệ”. Đổi mới vượt ra ngoài phạm vi NC&TK và bao gồm một
tập hợp các hoạt động. Do đó đổi mới có thể được định nghĩa như sau: đổi mới là sự
15


làm mới và mở rộng phạm vi sản phẩm, dịch vụ và thị trường; sự hình thành những
phương pháp sản xuất mới, cung cấp và phân bổ; đưa ra những thay đổi trong quản lý,
tổ chức công việc, những điều kiện làm việc và kỹ năng của người lao động (EC,
2002).
Một định nghĩa khác: Đổi mới là một qui trình mà doanh nghiệp làm chủ và thực
hiện công việc thiết kế, sản xuất hàng hoá và dịch vụ mà là mới đối với doanh nghiệp
đó, bất luận chúng có mới hay không đối với các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài
nước (EC, 2002).
Trong nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Quân (2006), sau khi phân tích một số đặc
điểm của đổi mới (tính tổng thể, tính định hướng thị trường, tính đa dạng, tính không
tuần tự, tính hệ thống, khả năng tự tiến hoá và tự tổ chức và doanh nghiệp là chủ thể
của hoạt động đổi mới) tác giả đã nhấn mạnh đổi mới là hoạt động tìm kiếm và theo
đuổi lợi nhuận của các doanh nghiệp và doanh nhân trên thị trường thông qua quá trình
tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới được thị trường chấp nhận. Đó là một tổng thế
bao gồm nhiều loại hoạt động xã hội rất phức tạp, có liên quan chặt chẽ với nhau như
nghiên cứu, triển khai công nghệ, thiết kế chế tạo, tiếp thị và thương mại hoá, giáo
dục, đào tạo được tiến hành bởi hàng loạt tổ chức, tác nhân liên quan như viện nghiên
cứu triển khai, doanh nghiệp, trường đại học, cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội nghề
nghiệp,v.v… Hệ thống các tác nhân và quan hệ diễn ra trong hoạt động đổi mới có cấu
trúc phức tạp, diễn tiến không tuần tự nhưng có khả năng tự tổ chức, tự liên kết, tự tiến

- Trang bị máy móc và xây dựng công nghiệp: các thay đổi trong thủ tục,
phương pháp và tiêu chuẩn về sản xuất và kiểm soát chất lượng và các phần mềm cần
thiết để tạo ra sản phẩm mới hoặc cải tiến về công nghệ, hoặc để sử dụng qui trình mới
hoặc cải tiến về công nghệ;
- Thiết kế công nghiệp: các sơ đồ và bản vẽ nhằm xác định các thủ tục, tính
năng kỹ thuật và đặc điểm vận hành cần thiết cho việc sản xuất các sản phẩm mới về
công nghệ và thực hiện các qui trình mới;
- Tiếp nhận các tư liệu sản xuất khác: tiếp nhận nhà xưởng, máy móc, công cụ,
thiết bị tuy không có cải tiến về tính năng công nghệ nhưng cần thiết cho việc thực
hiện các sản phẩm hoặc qui trình mới hoặc cải tiến về công nghệ;
- Khởi động sản xuất: điều chỉnh sản phẩm hoặc qui trình, đào tạo lại nhân viên
về kỹ thuật mới hoặc cách sử dụng máy móc mới và bất kỳ sản xuất thử nào chưa được
tính vào NC&TK.
(iii) Tiếp thị các sản phẩm mới hoặc các sản phẩm được cải tiến: các hoạt động liên
quan đến việc chuẩn bị tung ra một sản phẩm mới hoặc cải tiến về công nghệ như
nghiên cứu sơ bộ thị trường, thử nghiệm thị trường, quảng cáo giới thiệu sản phẩm
song không bao gồm việc xây dựng các mạng lưới phân phối để tiếp thị đổi mới.

17


1.1.2. Hệ thống đổi mới quốc gia (NIS)
Vào những năm cuối của thế kỷ XX, nhiều học thuyết đã được nêu ra để giải
thích nguyên nhân một số quốc gia lại tụt hậu, trong khi có những quốc gia khác lại
vươn lên những vị trí hàng đầu trong lĩnh vực đổi mới. Cách tiếp cận NIS đã đưa ra
những luận cứ để chứng minh rằng sở dĩ có sự khác biệt nêu trên ở các quốc gia tựu
trung lại là ở cơ cấu tổ chức của quốc gia đó, thí dụ công trình của Freeman 1987,
Lundvall 1992, Nelson 1993...
Theo cách tiếp cận NIS, đổi mới công nghệ là một quá trình, trong đó có các yếu
tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp liên kết với nhau. Do vậy, cách tiếp cận này đã

Khái niệm NIS lần đầu tiên được Nelson, Freeman và Lundvall đưa ra để tạo cơ
sở cho Chính phủ hoạch định và thực hiện các chính sách nhằm tăng cường đổi mới
công nghệ.
Mặc dù những định nghĩa này dùng làm cơ sở để Chính phủ hoạch định chính
sách, nhưng những tương tác phức tạp của các nhân tố trong đó buộc phải có một cách
tiếp cận mang tính hệ thống để hiệu chỉnh về số lượng và chất lượng những nhân tố
này. Việc hiệu chỉnh này cho phép các nhà hoạch định chính sách vạch rõ những tác
động của những công cụ chính sách đề ra đối với những nhân tố công nghệ và môi
trường khác.
Có thể thấy, điểm xuất phát của cách tiếp cận mới là nằm trong sự phân biệt giữa
đổi mới (Innovation) và sáng chế (Invention). Nếu như sáng chế là kết quả của các
hoạt động NC&TK, là việc đưa ra và thực hiện một ý tưởng mới, phát hiện ra cái có
thể về mặt kỹ thuật, hoặc khoa học thì đổi mới lại là cả một quá trình: "Chuyển ý
tưởng thành sản phẩm mới/hoàn thiện để đưa ra thị trường, thành một quy trình được
đưa vào hoạt động hoặc được hoàn thiện trong công nghiệp và thương mại, hoặc đưa
ra một cách tiếp cận mới trong các dịch vụ xã hội". Nói theo Arthur J. Carty: "Đổi mới
là một quá trình năng động, bao gồm trong đó các hoạt động sáng chế khoa học,
nghiên cứu ứng dụng, triển khai, đào tạo, đầu tư, tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm". Và
như tác giả Smail-Ait-El-Hadj đã viết: "Đổi mới là chỗ gặp nhau giữa cái có thể về
mặt kỹ thuật với cái có thể về mặt kinh tế - xã hội".
Như vậy, đổi mới là một quá trình tổng hợp của nhiều mối liên hệ phức tạp giữa
nhiều thành tố, bao gồm nhiều khâu, đòi hỏi một loại năng lực tổng hợp để chuyển
những sáng chế, sáng chế còn chứa đựng rất nhiều rủi ro thành những sản phẩm và
dịch vụ mới trên thị trường, tạo ra thu nhập và nâng cao năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp. Chủ thể chính của quá trình đổi mới không phải là các cơ quan NC&TK
mà là các doanh nghiệp.
Cách tiếp cận này dẫn tới hệ quả là các chính sách phát triển đã chuyển từ chỗ
quan tâm đến hệ thống KH&CN, hệ thống NC&TK trong hệ thống kinh tế sang NIS;
19


hoạch hành động, để đồng thời nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung, của
các sản phẩm chủ yếu nói riêng. Các kế hoạch hành động này có sự phối hợp ngang,
dọc và được sự hỗ trợ của Chính phủ bằng tài chính, ngoại giao, bằng các hiệp định
20


kinh tế, bằng vận động trong các tổ chức kinh tế quốc tế... nhằm đổi mới công nghệ
đạt hiệu quả cao nhất.
Hệ thống đổi mới và quản lý hệ thống đổi mới đang là vấn đề rất được quan tâm
hiện nay. Trong quản lý đổi mới, trọng tâm của chính sách được chuyển từ cải thiện
các chỉ số đầu vào (chi phí cho NC&TK, số lượng cán bộ NC&TK) và đầu ra (số
patent) của hoạt động KH&CN sáng tạo môi trường chính sách thúc đẩy đổi mới sản
phẩm, dịch vụ, đổi mới công nghệ, đổi mới tổ chức… để gắn hoạt động NC&TK với
hoạt động kinh tế - xã hội. Bài viết trao đổi về vấn đề này, đồng thời đề cập đến các
chức năng chủ yếu của quản lý nhà nước về KH&CN theo cách tiếp cận hệ thống đổi
mới.
Theo C. Freeman, thuật ngữ “hệ thống đổi mới” được sử dụng đầu tiên bởi
B.A. Lundvall dưới dạng tên gọi một chương sách của ông trong Dosi et.al (1988).
Tuy nhiên, lần đầu tiên thuật ngữ này được trình bày như một cách tiếp cận là trong
cuốn sách của C. Freeman về chính sách công nghệ và nền kinh tế Nhật Bản
(C. Freeman, 1987). Vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, hai công trình về hệ thống
đổi mới (Lundvall, 1992 và R. Nelson, 1993) đã được xuất bản. Kể từ đó, trong giới
nghiên cứu, cách tiếp cận này đã được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhanh chóng một
cách đáng kinh ngạc (C. Edquist, 1997). Cách tiếp cận cũng thu hút sự chú ý của các
nhà làm chính sách, những người muốn đi tìm những khuôn khổ tốt hơn để giải thích
và phân tích những khác biệt giữa các nền kinh tế và tìm cách thúc đẩy đổi mới công
nghệ nhanh chóng, hiệu quả hơn.
1.1.3. Hệ thống đổi mới trong doanh nghiệp
Doanh nghiệp được coi là đối tượng đóng một vai trò trung tâm trong quá trình đổi
mới, chịu trách nhiệm cho việc đưa vào những cái mới lạ, thực hiện và sáng tạo ra các

mới, hình thức kinh doanh khác, và liên kết thay vì hất cẳng đối thủ. Chiến lược đổi
mới là sự kết hợp của 4 thành phần: sản phẩm, thị trường, quá trình và đổi mới công
nghệ.
Chiến lược đổi mới tập trung vào việc giải quyết 3 câu hỏi chính (Moeller, et al,
2008) như:
-

What? - Sản phẩm và dịch vụ gì có thể thỏa mãn khách hàng?

-

Who? - Đối tượng khách hàng nào muốn mua sản phẩm và dịch vụ của
doanh nghiệp bạn?

-

How? - Doanh nghiệp thỏa mãn khách hàng như thế nào?

Doanh nghiệp cần thúc đẩy sự phát triển của mình bằng việc dự đoán trước được
nhu cầu và tạo ra nhu cầu cho khách hàng (Palmer, and Kaplan, 2007). Điều này sẽ
dẫn đến việc hình thành được một thị trường mới với nhiều triển vọng và thách thức
22


cho doanh nghiệp. Liên quan đến sự phát triển của doanh nghiệp, đổi mới là một cách
thật sự để doanh nghiệp dành được vị trí của mình trên thị trường.
Tuy nhiên, đổi mới không chỉ mang lại giá trị cao mà còn là sự mở đường cho xây
dựng cơ sở vật chất để tham gia vào cạnh tranh và chiến thắng, đổi mới được coi là
động cơ mà mỗi doanh nghiệp cần có để đưa doanh nghiệp mình đến tương lai
(Hammer, 2006).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status