Định hướng chiến lược phát triển xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP hồ chí minh đến năm 2020 - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

ĐẶNG NAM LIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2000


MỤC LỤC
CHƯƠNG I: TỔNG LUẬN CHUNG VỀ SỰ CẦN THIẾT ĐỊNH
HƯỚNGCHIẾN LƯC XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN TP.HỒ
CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2020
I.Những đặc điểm chung và khái niệm về doanh nghiệp
vừa và nhỏ trong lónh vực xuất khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh ........................... 1
I.1 Khái niệm và cách xác đònh doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới.............................. 1
I.2 Khái niệm và cách xác đònh của Việt Nam .................................................................... 2
I.3 Những đặc điểm chung của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam ......................... 3
I.4 Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh ............................................... 4
I.5 Các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lónh vực ................................................ 5
xuất khẩu trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh
II.Vò trí của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong .................................................................. 5
hệ thống các doanh nghiệp xuất khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh
III.Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với xuất khẩu,
đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế tại thành phố Hồ Chí Minh và Việt Nam .... 6
III.1 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với xuất khẩu ....................................... 6
III.2 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với tăng trưởng
và phát triển kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh và Việt Nam ................................. 7

II.Những khó khăn và các mặt tồn tại trong hoạt động xuất khẩu của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh............................ 33
II.1 Những khó khăn ............................................................................................................34
II.1.1 Thiếu vốn trầm trọng, đặc biệt trong giai đoạn khởi đầu
và vốn trung, dài hạn để đầu tư công nghệ ........................................................... 34
II.1.2 Khó khăn về thò trường tiêu thụ ngoài nước ......................................................... 34
II.1.3 Thiếu thông tin, máy móc thiết bò và năng lực công nghệ................................... 35
II.1.4 Lao động chưa đủ tay nghề, lao động dư thừa chưa sắp xếp được ...................... 35
II.1.5 Thiếu vật tư, nguyên liệu làm hàng xuất khẩu..................................................... 35
II.1.6 Cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật không đồng bộ,
đòi hỏi chi phí cao, thiếu mặt bằng sản xuất kinh doanh ..................................... 36
II.1.7 p lực từ các chính sách thuế, phí, lệ phí, lãi suất, tỷ giá hối đoái,
giấy phép, hạn ngạch,… của Nhà nước tương đối cao ........................................... 36
II.1.8 Các yêu cầu của các nước nhập khẩu về tiêu chuẩn chất lượng,
vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo môi trường,
nguồn gốc xuất xứ, tỷ lệ nội đòa hóa sản phẩm,…
quá khắt khe với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam................................... 37
II.2 Tồn tại ............................................................................................................................37
II.2.1 Hiệu quả sử dụng vốn thấp ................................................................................... 37
II.2.2 Năng lực nghiệm thu công nghệ kém ................................................................... 38
II.2.3 Phương pháp tổ chức sản xuất kinh doanh lạc hậu,
không đồng bộ, trình độ quản lý thấp ................................................................... 38
II.2.4 Hoạt động marketing hết sức yếu kém................................................................. 38
II.2.5 Sự hợp tác, liên kết sản xuất kinh doanh xuất khẩu giữa các
doanh nghiệp vừa và nhỏ với nhau, giữa các doanh nghiệp
với Nhà nước, chính quyền đòa phương còn rời rạc, thụ động .............................. 39
II.2.6 Chưa chú trọng đầu tư nghiên cứu khoa học,
hoạch đònh chiến lược sản phẩm, giá cả, thò trường.............................................. 40
II.2.7 Chưa chú trọng đến chiến lược con người ............................................................ 40
2

IV.3 Đònh hướng cơ bản về mặt hàng xuất khẩu chủ lực .................................................. 55
IV.4 Đònh hướng cơ bản về thò trường xuất khẩu ............................................................... 56
V. Hệ thống giải pháp thực hiện chiến lược phát triển xuất khẩu của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 .......... 56
V.1 Giải pháp vó mô ..............................................................................................................56
V.1.1 Nâng cao tính đònh hướng và ổn đònh lâu dài của Nhà nước về
hỗ trợ xuất khẩu đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ........................................ 56
V.1.2 Nhanh chóng quy hoạch và công bố những ngành hàng ưu tiên
xuất khẩu, chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ..................... 57
V.1.3 Sớm hình thành và đưa vào hoạt động các quỹ hỗ trợ và
3


khuyến khích xuất khẩu đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ............................ 59
V.1.4 Triển khai đồng bộ và toàn diện hệ thống quản lý chất lượng
sản phẩm và tổ chức sản xuất, kinh doanh của mọi doanh nghiệp
trên đòa bàn thành phố theo tiêu chuẩn ISO 9000 và ISO 14000.......................... 59
V.1.5 Nhanh chóng triển khai các chương trình xúc tiến thương mại,
tạo điều kiện mở rộng thò trường xuất khẩu cho các doanh nghiệp
vừa và nhỏ thông qua các hội chợ thương mại quốc tế và khu vực ...................... 60
V.1.6 Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác thương vụ ở nước ngoài .... 61
V.2 Giải pháp vi mô ..............................................................................................................61
V.2.1 Từng bước nâng cao năng lực và hiệu quả công tác marketing xuất khẩu ......... 61
V.2.2 Sớm ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ trong và ngoài nước
vào sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ........ 63
V.2.3 Tận dụng ưu đãi và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn .......................... 64
V.2.4 Hình thành các liên kết giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ
với các ngân hàng, tiến tới thiết lập các liên kết
kinh tế – tài chính vững mạnh trong từng ngành hàng xuất khẩu......................... 64
V.2.5 Áp dụng có hiệu quả các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động xuất khẩu .. 66

6 tháng đầu năm 2000, con số này là 37,7%. [Nguyễn Hồng, Kinh tế TP.HCM 6 tháng đầu
năm, tăng trưởng chưa vững, Đầu tư, 55(654), ngày 6/7/2000, tr.12.] Đây là mức tăng kỷ
lục kể từ sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ trong khu vực.
Tuy nhiên, với gần 90% là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên đòa bàn, tình hình này
như một “cơn sóng thần” có thể nhận chìm và cũng có thể thúc đẩy xuất khẩu như động
lực của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Mấu chốt vấn đề là làm thế nào để nâng
cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam nói chung và trên đòa
bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng trong điều kiện các yếu tố kinh tế thò trường ở Việt
Nam chưa được xác lập đồng bộ và đầy đủ.
Hơn nữa, cùng với Quyết đònh số 55/QĐ-TTg ngày 3/3/1998 của Thủ tướng Chính
phủ và Nghò đònh 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ cho phép các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều có quyền tham gia xuất khẩu trực tiếp, số lượng
các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên đòa bàn tham gia vào hoạt động xuất khẩu ngày càng
nhiều và thực sự đã tác động tích cực đến sự tăng trưởng mạnh của kim ngạch xuất khẩu
thành phố trong năm 1999 và 6 tháng đầu năm 2000. Chắc chắn rằng trong giai đoạn mới,
số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ tăng lên (Kể từ khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực,
đến nay đã có 2.085 doanh nghiệp đăng ký thành lập trên đòa bàn) nhanh chóng và trong
số đó tham gia vào hoạt động xuất khẩu sẽ chiếm tỷ trọng đáng kể do chủ trương khuyến
khích xuất khẩu của Đảng và Nhà nước. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trước đây là các
đơn vò làm hàng xuất khẩu nay cũng tiến hành xuất khẩu trực tiếp, điều này một mặt làm
cho hoạt động xuất khẩu trên đòa bàn trở nên sôi động nhưng mặt khác các doanh nghiệp
này lại phải cạnh tranh nhau về nguồn nguyên liệu xuất khẩu, thò trường xuất khẩu,… trong
khi các tiềm lực của doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa thật sự đủ mạnh.
Do đó, trong giai đoạn mới 2000 – 2020, việc hoạch đònh chiến lược phát triển xuất
khẩu cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên đòa bàn thành phố là vấn đề hết sức cấp bách
và có ý nghóa thiết thực nhằm phát huy tối ưu vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
trong việc đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao uy tín hàng hóa và hình ảnh của các doanh
nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời tránh được những tổn thất đáng kể cho
nền kinh tế.
5

tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và từ đó góp phần tích cực
vào tiến trình đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ngoài ra, nếu các đònh
hướng và giải pháp đề cập trong đề tài này được triển khai trong thực tiễn và được
kiểm nghiệm tính đúng đắn trong thực tế thì đó sẽ là những đóng góp bổ sung
về mặt lý luận của vấn đề vận dụng lý thuyết phát huy lợi thế năng động, linh hoạt,
dễ thích ứng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc vươn ra thò trường thế
giới, hội nhập khu vực và quốc tế.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Về mặt phương pháp luận, logic giải quyết vấn đề của chúng tôi trong luận văn này
là dựa theo lý luận của các học thuyết về thương mại quốc tế, các mô hình chiến lược phát
triển kinh tế đối ngoại, kinh nghiệm phát triển ngoại thương, đẩy mạnh xuất khẩu của một
số nước, vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình thực hiện chiến lược
công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, và lý thuyết “cực tăng trưởng” đối với sự tăng
trưởng và phát triển của một quốc gia để phân tích, đánh giá hoạt động xuất khẩu trên đòa

6


bàn thành phố và vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong sự phát triển đó, làm cơ
sở cho việc đònh hướng chiến lược và đề ra các giải pháp đồng bộ.
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng gồm có: quan sát thực tế, so
sánh,tổng hợp, phân tích thống kê, phỏng vấn chuyên gia, nghiên cứu kinh nghiệm điển
hình,… Trong đề tài này, chúng tôi đặc biệt coi trọng kinh nghiệm phát triển doanh nghiệp
vừa và nhỏ và kinh nghiệm hỗ trợ xuất khẩu đối với các doanh nghiệp này của một số
nước Đông Á mà cụ thể là hai nhóm: NICs châu Á (được đánh giá là điển hình cho sự
phát triển nhanh trong hai thập niên vừa qua) và ASEAN (là các quốc gia có các điều kiện
tự nhiên – xã hội gần giống Việt Nam và đã đạt tốc độ phát triển tốt từ thập niên 80 trở
lại đây). Thực tiễn của hai nhóm trên cho thấy, để các doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện
tốt chiến lược xuất khẩu, trong giai đoạn đầu cần có sự hỗ trợ về cơ chế, chính sách và tài
chính từ Chính phủ. Sự thành công vượt bậc của những nước này, và sự lớn mạnh của các

VỪA VÀ NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN TP.HỒ CHÍ MINH
ĐẾN NĂM 2020
I. Những đặc điểm chung và khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ trong
lónh vực xuất khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh
I.1 Khái niệm và cách xác đònh doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới
Ngày nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả ở các nước phát triển đều nhận
thấy rõ vai trò và vò trí của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tiến trình phát triển kinh tế
– xã hội của mình. Song, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm chung nhất nào, được
các nước thống nhất để xác đònh doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do vậy một doanh nghiệp
được xem là vừa và nhỏ ở một quốc gia này lại có thể được xem là doanh nghiệp lớn ở
quốc gia khác hoặc quá nhỏ ở quốc gia khác, thậm chí ngay trong cùng một quốc gia tùy
từng mục đích khác nhau mà người ta cũng có thể sử dụng các tiêu chí khác nhau để phân
loại doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều này đã và đang gây khó khăn trong việc hoạch đònh
và triển khai các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, chiến lược khuyến khích và hỗ trợ
xuất khẩu của quốc gia. Và cũng chính điều ấy rất có thể sẽ làm cho doanh nghiệp bò thiệt
thòi khi mà các tổ chức tài chính – tín dụng trong và ngoài nước ngày càng quan tâm và
chú trọng hơn trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp loại này. Bởi lẽ, trước xu thế cạnh tranh
ngày càng gay gắt và khốc liệt trên thò trường thế giới thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ tỏ
ra khá năng động và linh hoạt.
Trong bối cảnh đó, các quốc gia đề ra cho mình những khái niệm làm cơ sở để xác
đònh doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhật Bản, quốc gia có nền kinh tế phát triển đònh nghóa
doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau: Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có từ 300 công
nhân trở xuống và vốn dưới 100 triệu Yên đối với ngành chế biến khoáng sản, công
nghiệp xây dựng, giao thông, chế tạo; có từ 100 công nhân trở xuống và vốn dưới 30 triệu
Yên đối với ngành kinh doanh bán buôn; và có từ 50 công nhân trở xuống và vốn dưới 10
triệu Yên đối với ngành kinh doanh bán lẻ. Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có từ 20
công nhân trở xuống đối với ngành chế biến và từ 5 công nhân trở xuống đối với ngành
dòch vụ thương mại. Đài Loan, đại diện cho nhóm nước NICs đònh nghóa doanh nghiệp vừa
và nhỏ là doanh nghiệp có doanh thu dưới 40 triệu Đài tệ và tổng giá trò tài sản dưới 120
triệu Đài tệ. Trong khi đó, Thái Lan, đại diện cho nhóm các nước NIEs Châu Á lại đònh

Mỹ

< 500 trong CN và DV
< 500 trong CN và DV

Dưới 50

Thương mại, dòch vụ
DNVVN
DN nhỏ
Dưới 2 tỷ Dưới 1 tỷ
Dưới 200
Dưới 30

Nguồn: Học viện chính trò quốc gia và Viện Friedrich Ebert CHLB Đức, Kỷ yếu khoa học: “Dự án
chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam” – Kết quả nghiên cứu giai đoạn I (tháng
8 đến tháng 12/1996), Hà Nội, tháng 12/1996.
Tuy nhiên, theo mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu, hoạch đònh
chính sách hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngày 20/06/1998, Thủ tướng
9


Chính Phủ đã ban hành Qui đònh tạm thời số 681/CP – KTN về doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Theo Qui đònh này, tạm thời thống nhất tiêu chí doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay là doanh nghiệp có:
-Vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng Việt Nam
-Lao động trung bình hằng năm dưới 200 người.
Như vậy, doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam được hiểu bao gồm các chủ thể sản
xuất kinh doanh được thành lập và đăng ký hoạt động theo các qui đònh của pháp luật, có
qui mô vốn và/hoặc số lao động phù hợp với qui đònh của Chính phủ. Theo đó, khu vực
doanh nghiệp vừa và nhỏ được hình thành bởi:
- Các doanh nghiệp Nhà nước có qui mô vừa và nhỏ được thành lập và đăng ký theo
qui đònh của Luật doanh nghiệp nhà nước.
- Các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, các doanh nghiệp tư nhân có
qui mô vừa và nhỏ được thành lập và đăng ký hoạt động theo Luật công ty, Luật


- Sử dụng nhiều lao động trên một lượng vốn đầu tư ban đầu ít. Xu hướng này giúp
cho doanh nghiệp tiết kiệm một khoản tài sản cố đònh khá lớn về nhà xưởng kho
tàng, đất đai. Đa số, nhà ở của chủ doanh nghiệp cũng được tận dụng làm công
xưởng, kho chứa. Hoạt động sản xuất kinh doanh có thể diễn ra trên một diện tích
chật hẹp, cơ sở hạ tầng kém, điều kiện sản xuất khó khăn, máy móc được mua lại
của những doanh nghiệp nhà nước giải thể hoặc thuê mướn, chỉ khi thật cần thiết
thì các doanh nghiệp này mới gia công những bộ phận sản phẩm hay những công
đoạn trong quá trình sản xuất mà yêu cầu công nghệ vượt quá khả năng của họ.
- Năng lực tài chính còn yếu, vốn đầu tư ít nên dễ chuyển đổi ngành nghề kinh
doanh và ít bò tổn thất khi thò trường biến động mạnh. Tuy nhiên, các doanh nghiệp
vừa và nhỏ luôn ở trong tình trạng thiếu vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh, từ đó
khó có thể thực hiện những đơn đặt hàng với số lượng lớn và những đòi hỏi ngặt
nghèo về chất lượng.
- Thiếu sự hỗ trợ tích cực về chính sách tài chính – tín dụng từ các tổ chức Ngân
hàng, Chính phủ,… nên khó có điều kiện đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất
lao động. Do đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đa số chỉ dừng lại ở việc cải tiến
các công nghệ đang sử dụng hoặc cải tiến mẫu mã cho phù hợp với thò hiếu người
tiêu dùng.
- Chưa hiểu rõ và nắm vững các qui đònh, các chủ trương, chính sách pháp luật của
Nhà nước, từ đó khi gặp khó khăn dẫn đến thường trốn thuế, gian lận thương mại,
làm hàng giả,….
- Thiếu thông tin về thò trường thế giới do năng lực marketing còn nhiều yếu kém và
bất cập. Một phần do chưa có đội ngũ cán bộ làm công tác marketing, thiếu kinh
phí thực hiện các chiến lược marketing ở qui mô vừa và lớn. Hơn nữa, thiếu chính
sách hỗ trợ thông tin từ Chính phủ và các cơ quan chính sách.
I.4 Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở thành phố Hồ Chí Minh
- Nếu căn cứ vào tiêu chí thành phần kinh tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ theo
qui mô vốn, lao động và doanh thu trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh năm 1993
có thể xếp loại các doanh nghiệp đó như sau: (xem bảng 3)

Thấp
TB
Cao
5 15-20
>30
11
100 >120
0,3
1,2
>2
0,10 0,175
0,6
0,01
0,10
0,3
0,05
0,01
0,02

Qui mô lao động (người)
Thấp
TB
Cao
100
500
0
30
200
0
30

0
0
0,05
0

Nguồn: Vương Liêm, Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Tập 1, tr.30
I.5 Các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lónh vực xuất khẩu trên đòa bàn
thành phố Hồ Chí Minh
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh hoạt động trong
lónh vực xuất khẩu là các đơn vò gia công, làm nhiệm cung ứng hàng xuất khẩu cho các
doanh nghiệp lớn, hoặc doanh nghiệp trung ương đóng trên đòa bàn. Trong đó, có một số
các doanh nghiệp vừa tham gia xuất khẩu trực tiếp các mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền
thống. Hiện tại, xu hướng các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia xuất khẩu trực tiếp ngày
càng tăng do tiếp cận với thò trường thế giới.
Qua xem xét một số tài liệu khảo sát về doanh nghiệp vừa và nhỏ trên đòa bàn
thành phố, cũng như các đòa phương khác của Việt Nam, chúng tôi nhận thấy khái niệm
về doanh nghiệp vừa và nhỏ không thể “cứng nhắc” mà nên thống nhất trong một vài chỉ
tiêu chung, trong đó cần nghiên cứu kỹ các điều kiện phát triển thực tế của các doanh
nghiệp đó về ngành nghề đặc thù và lãnh thổ hành chính có tính lợi thế riêng. Để từ đó,
các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ khi triển khai sẽ đến được các doanh
nghiệp này.
II. Vò trí của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong hệ thống các doanh nghiệp
xuất khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh
Theo chò Trònh Thò Hương – Trưởng phòng thuế Cục Hải quan thành phố Hồ Chí
Minh, trong năm 1999, tức là vào thời điểm có hiệu lực của Nghò Đònh 57/NĐ-CP (ban
hành ngày 31/7/1998) toàn thành phố có 3000 doanh nghiệp đăng ký áp mã số Hải quan,
cũng có nghóa là có khoảng 3000 doanh nghiệp đăng ký tham gia xuất khẩu trực tiếp. Số
doanh nghiệp trực tiếp tham gia xuất khẩu của thành phố Hồ Chí Minh chiếm gần 45% số
doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên số doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp
chiếm tỷ lệ quá thấp trong tổng số doanh nghiệp trên đòa bàn (3.000/30.000 doanh

III.1 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với xuất khẩu
Có thể nói, sự tăng trưởng khá ổn đònh của kim ngạch xuất khẩu trong hơn 10 năm
qua đã góp phần đáng kể vào việc duy trì và nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế. Một
trong những nguyên nhân cơ bản về sự thành công của xuất khẩu, đặc biệt là trong thời
gian gần đây, đó là Chính phủ Việt Nam cho phép các doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế được quyền tham gia xuất khẩu trực tiếp theo tinh thần Quyết Đònh số 53/QĐ-CP,
ngày 3/3/1998 và tiếp theo đó là Nghò Đònh 57/NĐ-CP, ngày 31/7/1998 về hướng dẫn chi
tiết thi hành Luật Thương mại đã tạo động lực mạnh mẽ cho các doanh nghiệp tư nhân
tham gia xuất khẩu (đa số là các doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ). Sự tăng trưởng
vượt bậc cả tương đối lẫn tuyệt đối của kim ngạch xuất khẩu năm 1999 có sự đóng góp rất
lớn của khu vực các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước, trong đó gần 90% là các
doanh nghiệp có qui mô vừa và nhỏ, có công nghệ lạc hậu, ít có kinh nghiệm trên thương
trường quốc tế… đã có bước bức phá ngoạn mục. Với kim ngạch xuất khẩu ước thực hiện
8,946 tỷ USD so với 7,378 tỷ USD năm 1998 và 7,6 tỷ USD dự kiến đầu năm, khu vực này
đạt mức tăng trưởng 21,25% so với năm 1998 và vượt 17,71% so với mục tiêu đề ra, trong
khi các chỉ số này của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 29,98% và 7,37%. [Thời báo
kinh tế Việt Nam 1999 – 2000, 23]. Các con số và sự kiện trên đây càng chứng tỏ vai trò
quan trọng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc thúc đẩy sự tăng trưởng và phát
triển xuất khẩu của Việt Nam.
Ngoài ra, vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đối với xuất khẩu còn
thể hiện ở những điểm sau:
Một là, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ lệ cao trong toàn bộ hệ thống các doanh
nghiệp xuất khẩu Việt Nam, là chỗ dựa “đầu vào” và “đầu ra” đắc lực cho các đầu mối
13


xuất khẩu. Hiện nay, trong mạng lưới thu mua xuất khẩu có đến 90% các doanh nghiệp tư
thương đảm trách các kênh lưu thông, phân phối rất linh hoạt, nhạy bén, sát thực với tình
hình biến động của thò trường.
Hai là, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có mặt hầu hết trong các lónh vực sản xuất, chế

cũng không lớn lắm. Vì thế, đây là bước đệm tốt nhất cho các nhà kinh doanh xuất khẩu
Việt Nam thực hành và tích lũy kinh nghiệm trong hoạt động xuất khẩu của mình.
Do vậy, trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, để duy trì và nâng cao kim ngạch xuất
khẩu, đưa Việt Nam thành nước có nền ngoại thương phát triển thì việc phát huy vai trò
tích cực của các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ là hết sức cần thiết.
III.2 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với tăng trưởng và phát triển
kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh và Việt Nam
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng trên 70% các doanh nghiệp xuất khẩu,
đang đảm nhiệm trọng trách tạo động lực để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa – hiện
14


đại hóa đất nước. Thực tế hiện nay, các nguồn thu ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bò
cần thiết của nước ta rất khan hiếm, trông chờ chủ yếu từ nguồn thu xuất khẩu. Thu ngoại
tệ từ xuất khẩu chiếm khoảng 2/3 trong tổng nguồn thu ngoại tệ của nước ta. Xuất khẩu
của các doanh nghiệp vừa và nhỏ có tác dụng “kích cầu”, tạo “đầu ra” cho sản xuất trong
nước từ đó mở rộng quy mô sản xuất trong nước, giải quyết việc làm cho người lao động.
Hiện nay, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam tương đối cao, vào khoảng 6% -7%/năm, riêng
thành phố Hồ Chí Minh trong năm 1999 tỷ lệ này là 7,04% [Thời báo kinh tế Việt Nam
1999 – 2000, tr.12]. Nhu cầu về việc làm ở Việt Nam lên đến từ 3 – 4,5 triệu người mỗi
năm. Trong khi đó, khu vực kinh tế quốc doanh cao nhất cũng chỉ thu hút được 2 triệu lao
động. Hơn thế nữa, theo xu hướng tinh giảm gọn, nhẹ và hiệu quả bộ máy tổ chức hành
chính Nhà nước, trong năm 2000 giảm 15% tổng biên chế, đồng thời cùng với quá trình
đẩy nhanh tốc độ cổ phần hóa khoảng 4000 doanh nghiệp nhà nước đến năm 2005 và thời
gian nhàn rỗi ở nông thôn vượt trên mức 65%, áp lực giảm quyết việc làm cho người lao
động còn tiếp tục tăng cao. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ đã góp phần đáng kể vào việc giảm áp lực nói trên. Trung bình
hằng năm các doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút khoảng hơn 25% lực lượng lao động
[TS.Đào Duy Chữ, Thực trạng và chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt
Nam, Thời báo kinh tế Sài Gòn, số 42/98(407), ngày 15/10/1998, tr.14.]. Một khi nhu cầu

thôn và các vùng tỉnh lân cận, ngược lại nguồn hàng phục vụ cho chế biến xuất khẩu của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên đòa bàn thành phố được cung cấp bởi các đơn vò, cơ sở
làm hàng xuất khẩu tại các vùng phụ cận và từ các hộ gia đình nông thôn. Đến lượt mình,
các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ sẽ cung cấp hàng cho các doanh nghiệp xuất khả
năng hoặc xuất khẩu tiếp. Nếu như hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
trên đòa bàn thành phố gặp trở ngại, đầu ra thò trường thế giới gặp khó khăn thì qui trình
này sẽ không diễn ra thông suốt, hàng hóa nông sản xuất khẩu (chiếm tỷ trọng gần 70%
tổng kim ngạch xuất khẩu) ứ đọng sẽ gây khó khăn cho các đơn vò và những hộ gia đình
sản xuất hàng xuất khẩu, từ đó gây ra hiệu ứng kìm hãm tốc độ tăng trưởng và phát triển
kinh tế của thành phố và cả nước.
Với chủ trương doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được quyền tham gia xuất
khẩu trực tiếp theo tinh thần Quyết đònh 55/QĐ/Ttg ngày 3/3/1998 của Thủ tướng và Nghò
đònh 57/NĐ – CP ngày 31/7/1998 của Chính phủ, cùng với sự năng động và linh hoạt của
mình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ tham gia mạnh mẽ vào hoạt động xuất khẩu. Trong
giai đoạn từ nay đến năm 2020, số lượng và qui mô các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia
trực tiếp vào hoạt động xuất khẩu chắc chắn sẽ tăng mạnh, nhất là sau khi Luật doanh
nghiệp được thực thi. Do đó, để đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình
quân từ 24 – 28%/năm và đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu tiềm năng, thì việc xây
dựng chiến lược thúc đẩy xuất khẩu ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ có ý nghóa hết sức
quan trọng, từ đó tạo động lực cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế thành phố Hồ Chí
Minh và Việt Nam. Khi xuất khẩu tăng mạnh, nguồn ngoại tệ cho nhập khẩu được đảm
bảo, ngân sách nhà nước hạn chế được tình trạng thâm hụt nghiêm trọng, (hiện nay thu từ
thuế xuất nhập khẩu chiếm 22% và thu từ thuế giá trò gia tăng chiếm 20% tổng các nguồn
thu của ngân sách Nhà nước), vì thế các máy móc thiết bò cần thiết cho quá trình công
nghiệp hóa – hiện đại hóa được đáp ứng.

IV. Sự cần thiết đònh hướng chiến lược xuất khẩu đối với các doanh
nghiệp vừa và nhỏ trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ nay đến năm 2020
IV.1 Bối cảnh thò trường khu vực và thế giới
Ngày nay, phân công lao động quốc tế và thò trường thế giới thực chất vẫn là phân

(trung bình 10% năm). Trong khi đó, các nước đang và kém phát triển là những nước xuất
khẩu chủ yếu những mặt hàng nông, nguyên nhiên liệu, nhưng xu thế giá của nhóm mặt
hàng này lại đang giảm mạnh, đồng thời các nước này nhập khẩu chủ yếu máy móc thiết
bò của các nước tư bản công nghiệp phát triển. Điều này làm cho các nước đang và kém
phát triển vốn đã ở vào vò trí bất lợi lại càng bất lợi hơn trong mậu dòch quốc tế.
Cùng với việc Việt Nam gia nhập vào khối thương mại tự do ASEAN (AFTA) và
APEC đã ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới. Và chắc chắn rằng
trong tương lai không xa Việt Nam cũng sẽ gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Điều đó có nghóa là, trong giai đoạn từ nay đến năm 2010 và xa hơn là năm 2020, Việt
Nam cần phải chuẩn bò cho mình những tiền đề vững chắc trước sự cạnh tranh mạnh mẽ
và gay gắt trên thò trường thế giới. Khi tham gia AFTA, các mặt hàng nông sản đã chế
biến không phải là lónh vực áp dụng các quy chế “nhạy cảm” theo Hiệp đònh CEPT. Vì
vậy, tập trung vào ngành công nghiệp chế biến sẽ là hướng đầu tư quan trọng và thích hợp
nhất. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ Thành phố Hồ Chí Minh với lợi thế về công nghệ chế
biến của mình sẽ là trung tâm chế biến hàng xuất khẩu cho các vùng phụ cận. Quá trình
tự do hóa mậu dòch của các tổ chức này sẽ tạo ra những mối liên kết kinh tế lớn với nền
kinh tế thế giới, đặc biệt với các nền kinh tế phát triển nhất là Khu vực Châu Á – Thái
Bình Dương, từ đó mở được thò trường xuất khẩu rộng lớn cho các mặt hàng xuất khẩu của
nước ta. Do vậy, để có thể hội nhập nhanh chóng, đồng thời nâng cao sức cạnh tranh, các
doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ cần xây dựng cho mình những chiến lược sản xuất,
kinh doanh xuất khẩu cụ thể, trong đó việc xác đònh các cặp “sản phẩm – thò trường” lợi
thế của doanh nghiệp là vấn đề có ý nghóa hết sức quan trọng.
Với những xu thế đó của thò trường khu vực và thế giới, để phát huy vai trò đầu
tàu, tạo động lực cho xuất khẩu của cả nước, việc xây dựng và tìm kiếm các giải pháp
thực hiện chiến lược phát triển xuất khẩu cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên đòa
bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ nay đến năm 2020 là vấn đề hết sức cần thiết và có ý
nghóa thiết thực.
IV.2 Tình hình kinh tế Việt Nam và thành phố Hồ Chí Minh sau hơn 10 năm đổi mới
Sau hơn 10 năm thực hiện chính sách đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được
những thành tựu vượt bậc, hết sức khả quan, thể hiện:

lý và công nghệ hiện đại đã được triển khai kèm theo vốn đầu tư, chắc chắn rằng khu vực
kinh tế này sẽ phát triển nhanh chóng và chiếm vò trí ngày càng quan trọng.
Năm là, hoạt động ngoại thương cũng đã có những đóng góp rất quan trọng vào
thành tựu kinh tế trên. Nhòp độ tăng xuất khẩu bình quân trong thời kỳ 1991 - 1999 là
18,4%.[Dương Ngọc, Biến động thò trường xuất khẩu: khôi phục thò trường cũ và mở rộng
thò trường mới, Thời báo Kinh tế Việt Nam, số 64(630), ngày 29/5/2000, tr.6] Đặc biệt,
trong năm 1999, lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu Việt Nam vượt mốc 10 tỷ USD, đạt
11,532 tỷ USD. Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ
USD/năm như dầu thô, dệt may, da giày, Tính ra kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu
người của Việt Nam năm 1999 đạt khoảng 150 USD, đó là một bước tiến dài so với hồi
đầu thập niên 80 chỉ tiêu này hầu như không đáng kể.
Trong bối cảnh đó, mức tăng trưởng kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh thường
xuyên đạt tốc độ cao, dẫn đầu so với cả nước, cụ thể là nhòp độ tăng GDP bình quân trong
thời kỳ 1991 – 1998 đạt bình quân 13%/năm (riêng giai đoạn 1996 – 1998 là 12%/năm).
Không những thế, nhiều chỉ tiêu kinh tế quan trọng của thành phố Hồ Chí Minh luôn là
chiếm tỷ trọng cao và dẫn đầu so với cả nước. (Xem bảng 4)

18


Bảng 4: So sánh một số chỉ tiêu tăng trưởng giữa TP.HCM và Việt Nam
Chỉ
Tiêu
Tốc độ tăng GDP (%)
Tốc độ tăng kim
ngạch xuất khẩu (%)
Tốc độ tăng trưởng
công nghiệp (%)

1990

13,8

1998
TP VN
9,2 5,80
-1,9 1,9
12,5

12,1

1999
TP VN
5,0
6,2
23,6 23,3
10,2

10,4

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê 1995, 1999
Cục Thống Kê TP. Hồ Chí Minh, Niên giám Thống kê 1991, 1994, 1999
Những thành tựu về kinh tế sau hơn 10 năm đổi mới cho phép Việt Nam tiếp tục đẩy
mạnh xuất khẩu, phát huy lợi thế các mặt hàng xuất khẩu truyền thống, đồng thời đầu tư
phát triển xuất khẩu các mặt hàng có hàm lượng chất xám và công nghệ cao như phần
mềm tin học, các sản phẩm công nghệ sinh học,… góp phần duy trì và nâng cao kim ngạch
xuất khẩu trong giai đoạn mới, nhanh chóng đưa Việt Nam thành nước có nền ngoại
thương phát triển với kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người lên 200 USD/năm. Muốn
vậy, cần phát huy vai trò xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên đòa bàn thành
phố Hồ Chí Minh.
IV.3 Chính sách khuyến khích và đẩy mạnh xuất khẩu của Đảng và Nhà nước Việt Nam

điều kiện theo qui đònh hằng năm của Chính phủ. Đây là cơ hội hết sức thuận lợi cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh, vốn trước đây là các doanh
nghiệp làm hàng xuất khẩu có nhiều tiềm năng nhưng do cơ chế chưa được tiếp xúc trực
tiếp với khách hàng nước ngoài.
Thủ tục quản lý xuất nhập khẩu, tất cả doanh nghiệp có đăng ký mã số kinh doanh
xuất nhập khẩu (theo Nghò đònh 57) khi đã ký được hợp đồng xuất nhập khẩu chỉ cần đến
thẳng Hải quan cửa khẩu để làm thủ tục thông quan hàng hóa (lập tờ khai hải quan, nộp
thuế xuất nhập khẩu theo qui đònh,…). Riêng trường hợp xuất nhập khẩu hàng hóa được
quản lý bằng hạn ngạch hoặc có qui đònh giấy phép thì đơn vò phải xuất trình kèm theo
văn bản phân bổ hạn ngạch hoặc giấy phép của Bộ Thương mại. Đồng thời, Hải quan
cũng đã không ngừng cải tiến thủ tục quản lý để rút ngắn thời hạn thông quan hàng hóa
bằng cách phân luồng theo thứ tự ưu tiên (luồng xanh: giải quyết xong thủ tục trong vòng
4 giờ; luồng vàng: trong 8 giờ; luồng đỏ: hơn 8 giờ nhưng không quá 3 ngày). Mới đây,
Hải quan cũng đã thí điểm thực hiện hậu kiểm đối với hàng hóa xuất khẩu. Tức là các
doanh nghiệp xuất khẩu chỉ thực hiện việc kê khai theo đúng thủ tục, và Hải quan chỉ thực
hiện việc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. Đây cũng là một thuận lợi cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ tham gia xuất khẩu.
Nhìn chung, đến năm 1999 chính sách ngoại thương và cơ chế quản lý xuất nhập
khẩu của Việt Nam đã có sự chuyển biến khá mạnh mẽ. Tuy nhiên, những biện pháp của
Chính phủ triển khai thực hiện chưa thật đồng bộ, còn kẽ hở cho tiêu cực phát sinh, đã tạo
không ít khó khăn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ làm hạn chế kết
quả và hiệu quả của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu.
Với chủ trương khuyến khích và đẩy mạnh xuất khẩu, ngày càng có nhiều doanh
nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp đóng trên đòa bàn thành phố
Hồ Chí Minh tham gia vào hoạt động xuất khẩu. Cùng với quá trình hội nhập vào kinh tế
khu vực và thế giới chắc chắn rằng mức độ cạnh tranh trên thò trường thế giới ngày càng
khốc liệt hơn. Bên cạnh đó, các chính sách tài trợ xuất khẩu, bảo hộ sản xuất của chính
phủ Việt Nam cho các doanh nghiệp cũng trở nên khó khăn hơn do bò rằng buộc bởi các
hiệp đònh thương mại song và đa phương đã và sẽ ký kết với các nước, các khối mậu dòch.
Vì thế, hơn bao giờ hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam nói chung và trên đòa bàn

cần thiết thuê chuyên gia nước ngoài giúp đỡ, trước hết là chia sẻ thông tin về phát triển
công nghiệp, giúp mở rộng cơ sở kinh doanh thông qua mở rộng sản xuất và khách hàng
(sản phẩm không chỉ cung cấp cho công nghiệp điện tử mà còn cho công nghiệp ô tô, sản
xuất thiết bò y tế, chẳn hạn: khuôn đúc nhựa), giúp tăng cường hoạt động cả ở nước ngoài.
Hỗ trợ toàn ngành công nghiệp: giúp cấu trúc lại toàn ngành công nghiệp, tăng
cường trao đổi thông tin và đề xuất các phương án cấu trúc lại với hội công nghiệp hay
nhóm công ty, mục tiêu là tăng năng suất lao động.
Hỗ trợ rộng rãi là giúp đỡ các doanh nghiệp đòa phương kể cả lớn hay nhỏ, đáp ứng
cho nhiều lónh vực, ngành nghề, tiếp thò và ứng dụng công nghệ, cải tiến chất lượng, tin
học hóa, tăng cường xúc tiến mở rộng kinh doanh ra nước ngoài.
Thứ hai, hợp tác với các quốc gia nhằm tạo sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các doanh
nghiệp vừa và nhỏ với các công ty đó. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ nhận công nghệ
và khả năng sản xuất cao, có nhiều điều kiện đột phá vào thò trường mới, trước hết là
trong khu vực bằng việc biến mình thành các vệ tinh cho các công ty lớn, tham gia mạnh
vào các dòch vụ thầu phụ công nghiệp và đảm bảo uy tín, chất lượng.
Thứ ba, xây dựng và phát triển trung tâm doanh nghiệp vừa và nhỏ một cửa, được
hình thành từ năm 1996, thuộc Cục năng suất tiêu chuẩn, có nhiệm vụ liên lạc chặt chẽ
với các cơ quan chính phủ như Cục Phát triển Kinh tế, Cục Phát triển Thương mại, Cục
Khoa học và Công nghệ quốc gia,… để hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện
kế hoạch 5 mũi: công nghệ, tài chính, thông tin, thò trường và phát triển nguồn nhân lực.
Thứ tư, phương châm giúp đỡ bằng các chính sách phát triển và nâng cấp theo cơ
chế thò trường tự do (không lạm dụng trợ cấp trực tiếp) với 4 nguyên tắc là: giúp các
doanh nghiệp vừa và nhỏ để họ tự giúp chính mình, chỉ giúp chứ không bảo hộ, tạo khả
năng tham gia được vào guồng máy phát triển kinh tế chung (mà ở đó có rất nhiều công ty
quốc tế đang hoạt động), duy trì một môi trường kinh doanh thân thiện.
21


Với kinh nghiệm của Singapore, mô hình chiến lược 3 mũi, kế hoạch 5 mũi, tăng
cường hợp tác với các công ty đa quốc gia là những bài học quý báu đối với về trợ giúp

- Tất cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải nắm vững nguyên tắc phân công quốc tế
với phương châm tiến lên (phát triển từng bước, từ dưới đi lên). Xây dựng hệ thống
sản xuất hoàn chỉnh, liên hoàn, liên ngành giữa các ngành công nghiệp nặng (hóa
dầu) với công nghiệp nhẹ (da giày, dệt may, dụng cụ thể thao,…) để tạo thuận lợi
cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia.
- Xúc tiến xuất khẩu thông qua chính sách khu chế xuất, kho ngoại quan, chế độ
hoàn thuế, thành lập các trung tâm hỗ trợ sản xuất, tiêu thụ, quản lý vốn, chú trọng
huấn luyện và đào tạo, trung bình mỗi năm đào tạo trên 300.000 người, chiếm 25%
tổng số người tham gia hành nghề.

22


Những kinh nghiệm này rất có ích cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên đòa bàn
thành phố Hồ Chí Minh xây dựng chiến lược vốn, chiến lược kinh doanh xuất khẩu trong
giai đoạn mới.
V.3 Kinh nghiệm của Thái Lan
Kinh nghiệm thành công trong hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Thái Lan gồm:
- Lấy tư hữu hóa chính sách kinh tế thò trường làm hạt nhân, chú trọng phát huy hiệu
suất của ngành nghề tư doanh và bảo vệ lợi ích tư bản tư nhân, không thành lập
công ty quốc doanh cạnh tranh với doanh nghiệp tư nhân cùng loại.
- Thực hiện chính sách mở cửa đa phương lâu dài song có mức độ, ưu tiên cho tư bản
tư nhân trong nước ở các giai đoạn phát triển về sau.
- Động viên, khuyến khích phát triển kinh tế xuất khẩu của tư nhân bằng các hình
thức khen thưởng rất thiết thực, cụ thể chủ yếu qua thuế.
- Chính sách phát triển kinh tế rất linh hoạt và nhạy bén với các biến cố diễn ra từ
môi trường kinh doanh đối với hoạt động tư nhân, hỗ trợ đắc lực cho xí nghiệp dân
gian giảm rủi ro từ các “cú sốc kinh tế”.
- Thực hiện chính sách ngành nghề thận trọng vói đường lối công nghiệp hóa ưu tiên
phát triển công nghiệp nhẹ nhằm phát huy cao năng lực sản xuất của các xí nghiệp

Mô hình doanh nghiệp vừa và nhỏ thành công ở Trung Quốc đó là xí nghiệp hương
trấn ở nông thôn. Trong 4 năm 1984 – 1988, dự trữ ngoại tệ xuất khẩu của các xí nghiệp
hương trấn là 25 tỷ USD, chiếm 24,7% kim ngạch xuất khẩu toàn quốc. Sự phát triển của
xí nghiệp hương trấn ở nông thôn có tác dụng thúc đẩy sự chuyển dòch cơ cấu kinh tế nông
thôn, phát triển công nghiệp nông thôn, tạo việc làm cho người lao động theo nguyên lý
“ly nông không ly hương”. Đây là mô hình mà Việt Nam cần xem xét trong quá trình công
nghiệp hóa nông thôn, đặc biệt là phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực nông
thôn nhằm tạo việc làm nâng cao đời sống cho người lao động, giải phóng nông sản tồn
đọng sau thu hoạch, từ đó sẽ kích cầu khu vực nông thôn, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu.
V.5 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Trong nền kinh tế Nhật Bản, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò cực kỳ quan
trọng. Theo thống kê các cơ sở doanh nghiệp năm 1991 của Ủy ban tổng hợp Nhật Bản, số
các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 99,1% tổng số cơ sở doanh nghiệp trên toàn quốc, trừ
ngành công nghiệp sơ chế. Theo biểu thống kê về công nghiệp năm 1992, các doanh
nghiệp vừa và nhỏ trong các ngành sản xuất tạo ra 51,9% tổng giá trò xuất xưởng; 56,7%
tổng giá trò gia tăng. Trong ngành lưu thông phân phối hàng hóa và dòch vụ, doanh nghiệp
vừa và nhỏ chiếm 60% doanh số bán ra của ngành bán buôn và gần 80% doanh số của
ngành bán lẻ. Lòch sử phát triển kinh tế Nhật Bản đã chứng kiến, nhiều công ty lớn ngày
nay xuất thân từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ như: Toyota, Honda…
Kinh nghiệm về hỗ trợ tài chính tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Thông thường 80% doanh nghiệp nhỏ có tính chất gia đình sẽ được vay không cần
thế chấp từ kho bạc nhân dân (people’ finance corporation - PFC). Đây là các doanh
nghiệp có tương lai phát triển nhưng không có khả năng vay. Số tiền cho vay được thu hút
từ nhân dân thông qua hình thức tiết kiệm qua hệ thống bưu điện, tiền bảo hiểm của người
lao động và tiền hưu trí của quốc gia.
Bên cạnh đó, khi cần vốn đầu tư nhà xưởng trang thiết bò, máy móc, mở rộng sản
xuất, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể vay từ Tổ chức tài chính Nhật Bản cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ – Japan finance corporation for small business - JFS). Mục đích
của JFS là cung cấp vốn dài hạn cần thiết cho việc thúc đẩy sự phát triển của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ. JFS có hai hình thức cho vay: cho vay thông thường với lãi suất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status