Header Page 1 of 166.
Luận văn tốt nghiệp
Nghiên cứu và đề xuất các công nghệ tái chế khả thi chất
thải rắn plastic trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh
Footer Page 1 of 166.
Header Page
2 Văn
of 166.
Luận
Tốt Nghiệp Đại Học
GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường
ĐẶT VẤN ĐỀ
I.
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA
ĐỀ TÀI.
Tp.HCM đang trong xu thế phát triển kinh tế – xã hội, đô thị hóa, công nghiệp
hóa đang diễn ra hết sức mạnh mẽ với nhịp độ rất cao. Và quá trình này được định
hướng sẽ gia tăng nhanh hơn nữa trong 10 năm tới. Tuy nhiên, bên cạnh việc phát
triển này là vấn đề gia tăng ô nhiễm nghiêm trọng. Chính vì vậy, trong những năm
gần đây, vấn đề môi trường đã trở thành mối quan tâm hàng đầu cho toàn xã hội.
Tp.HCM với hơn 7 triệu dân, là nơi tập trung hàng trăm ngàn nhà hàng, khách
sạn, khu thương mại, chợ, siêu thị, công sở, văn phòng, trường học, 84 bệnh viện,
GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường
Tại Tp.HCM, thị trường tái chế phế liệu đã được thực hiện và phát triển từ hơn
30 năm qua với nhiều loại nguyên liệu được thu mua, tái chế như giấy, thủy tinh,
nylon, kim loại... Theo thống kê hiện nay có khoảng hơn 400 cơ sở tái chế vừa và
nhỏ, tập trung nhiều ở các khu vực như Bình Tân, Bình Chánh, Hóc Môn, Quận 11,
Quận 9... với khối lượng chất thải được tái chế hàng ngày ước khoảng 2.000 - 3.000
tấn tương ứng khoảng 600 - 800 triệu đồng lợi nhuận mỗi ngày.
Riêng ngành tái chế plastic là ngành có nguồn phế liệu dồi dào do đời sống ngắn
của một số vật dụng plastic. Bên cạnh đó, các sản phẩm plastic mang lại sự tiện ích
rất lớn cho người tiêu dùng do đó nhu cầu sử dụng ngày càng tăng đòi hỏi số lượng
sản xuất ngày càng cao, phế phẩm plastic thải ra càng nhiều, gây ra những vấn đề
nan giải về môi trường: các phế phẩm plastic khi được chôn lấp rất khó phân huỷ, mà
sức chứa của các bãi chôn lấp thường bị quá tải. Trong khi đó, các phế thải plastic có
khả năng thu hồi rất cao. Hiện nay một số cơ sở sản xuất các sản phẩm plastic đã có
các biện pháp thu hồi và tái sử dụng các phế thải của chính mình tạo ra. Tuy nhiên
công tác này chưa được khai thác triệt để, còn rất manh múng, cá nhân - cá thể, tuỳ
thuộc vào nhu cầu của từng doanh nghiệp và phục vụ cho các lợi ích và tính toán
kinh tế của riêng họ. Thực tế cũng cho thấy ngày nay với yêu cầu về chất lượng sản
phẩm ngày càng nâng cao để đáp ứng với xu thế cạnh tranh trên thị trường thì việc sử
dụng các nguyên liệu tái chế đang đứng trước nguy cơ ngày càng hạn chế.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp kỹ thuật nhằm tái
chế, tái sử dụng và tuần hoàn chất thải rắn cho Tp.HCM là một nhu cầu bức thiết
nhằm giảm bớt các sức ép đối với bãi rác và cũng để nhằm góp phần ngăn chặn các
thảm họa ô nhiễm môi trường do chất thải rắn gây ra. Việc lựa chọn công nghệ xử lý
nào cho thích hợp và có hiệu quả đối với những nét đặc thù của chất thải rắn tại
Tp.HCM, qui mô và hình thức đầu tư nào là phù hợp, địa điểm lựa chọn ở đâu để xây
dựng nhà máy xử lý cùng với việc xem xét đánh giá các tác động môi trường kèm
theo, điều kiện cung cấp thiết bị và hàng loạt các vấn đề khác có liên quan là những
Nội dung
Luận văn gồm có 5 chương, trong đó:
Chương 1: Tổng quan về hoạt động tái chế chất thải rắn trên Thế giới và tại
Việt Nam, đồng thời xem xét ảnh hưởng của nó tới môi trường.
Chương 2: Hiện trạng công nghệ tái chế plastic trên Thế giới và tại Việt
Nam, đặc biệt đối với khu vực Tp.HCM.
Chương 3: Đưa ra kết quả khảo sát của một số cơ sở tại quận 11 và quận 6,
từ đó đánh giá về hoạt động tái chế chất thải plastic khu vực Tp.HCM.
Chương 4: Trên cơ sở đó, phân tích để lựa chọn và đề xuất công nghệ tái chế
plastic khả thi cho khu vực Tp.HCM.
Chương 5: Phần kết luận, kiến nghị và định hướng phát triển ngành tái chế
plastic.
3.
Phương pháp nghiên cứu
Điều tra thực tế tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tại quận 6 và quận 11
ve hiện trạng chất thải plastic và các biện pháp đã và đang được áp dụng trong
việc tuần hoàn và tái sử dụng chất thải bằng các phương pháp: phát phiếu điều
tra, phỏng vấn trực tiếp...
Điều tra cụ thể số lượng, hiện trạng của các cơ sở đang thực hiện công tác
tái chế plastic tại quận 6 và quận11.
Tìm hiểu và nghiên cứu các công nghệ tái chế chất thải trên thế giới có thể
áp dụng vào điều kiện Tp.HCM.
III. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về các giải pháp công nghệ tái chế plastic cho
khu vực Tp.HCM dựa trên quá trình khảo sát ở hai quận điển hình là Quận 6 và Quận
11.
IV. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
1.
Tính khoa học
Đề tài được thực hiện thông qua các phương pháp nghiên cứu có cơ sở khoa
học cao phù hợp với mục tiêu và nội dung nghiên cứu và đươc xây dựng trên
nền tảng tham khảo từ nhiều nguồn tài liệu uy tín trong và ngoài nước như: sách
giáo khoa chuyên ngành, các báo cáo hội thảo, sách báo, truyền hình, các công
trình nghiên cứu khoa học, tài liệu internet... mang tính khoa học cao.
Tham khảo những công nghệ đã và đang được các nước có nền công nghiệp
phát triển ứng dụng.
Bên cạnh đó, đề tài còn thể hiện tính mới:
Số liệu về chất thải plastic trên địa bàn Tp.HCM là mới điều tra thực tế
và đáng tin cậy (10/2006).
Tổng hợp các số liệu mới và các qui trình công nghệ mới về tái chế, tái
sử dụng plastic.
Giảm lượng rác thải ra môi trường, góp phần làm sạch môi trường.
Đề tài này cũng hướng đến việc giải quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập
cho thành phần lao động nghèo, không có vốn và không có tay nghề.
SVTH : Hoàng Anh
Footer Page 6 of 166.
Trang 5
Header Page
7 Văn
of 166.
Luận
Tốt Nghiệp Đại Học
GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÁI CHẾ CHẤT
THẢI RẮN
5.1 ĐỊNH NGHĨA TÁI CHẾ
Tái chế là hoạt động thu hồi lại từ chất thải các thành phần có thể sử dụng để chế
biến thành những sản phẩm mới sử dụng lại cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất.
[1, 92]
Tái chế bao gồm:
Tái chế vật liệu: bao gồm các hoạt động thu gom vật liệu có thể tái chế từ
GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường
Hình 1: “Vòng lặp kín”: Tái chế làm giảm tiêu thụ nguồn tài nguyên
thiên nhiên và giảm rác thải
Tái chế
Sản xuất
Tiêu huỷ
Nguồn tài
nguyên
thiên nhiên
Rác
Tiêu dùng
Có thể thấy, tái chế tức là chuyển đổi hoặc tạo nên chức năng cho chất thải. Sau
khi được phân loại và thu hồi thích hợp thì giá trị mới của chúng được tái lập và
chấm dứt bị gọi là chất thải hoặc rác thải. Khi ấy vai trò của chúng tương tự như một
nguồn tài nguyên và được coi như những vật liệu thô thứ cấp.
5.2
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TÁI CHẾ CHẤT THẢI TRÊN THẾ
GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.2.1. Thế giới
Trên Thế giới, tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển đã xây dựng một chiến
lược quản lý chất thải mà trong đó chính sách thu hồi và tái sinh chất thải đóng vai
trò tất yếu trong toàn bộ hệ thống. Năm 1989, Liên Hiệp Châu Âu đã lãnh đạo hệ
chất thải nguy hại. Điều này được xem như một phần của công tác quản lý chất thải,
những nhà sản xuất ở những nước này luôn phải tính đến khả năng tái sinh phế phẩm
của mình như một mục tiêu được đặt ra đầu tiên trong kế hoạch thiết kế sản xuất, sản
xuất và mua bán....
Hệ thống quản lý này được nhiều quốc gia trên thế giới hưởng ứng và áp dụng
cho việc quản lý chất thải rắn như: Pháp, Mỹ, Hà Lan, Đức ....
Hồng Kông:
Kinh nghiệm thu hồi và tái sinh chất thải ở đây là một tiêu biểu hợp lý cho các
nước phát triển chậm nhưng lại mở rộng nhanh chóng ở nền kinh tế. Trong những
năm 1990, sự chuyển đổi tái sinh từ chất thải công nghiệp và chất thải đô thị trở
thành một hoạt động sản xuất khá phổ biến, nó cung cấp một lượng lớn nguyên liệu
thô cho cả ngành công nghiệp tái sinh trong và ngoài nước. Mặc dù còn nhiều khó
khăn nhưng Hồng Kông đã xuất khẩu 1,6 triệu tấn vật liệu tái sinh vào năm 1995,
nền công nghiệp tái sinh nội địa đã tăng lên 600.000 tấn chủ yếu là phế liệu giấy, kim
loại và plastic. Hoạt động xuất khẩu sản phẩm tái chế này đã đem về cho Hồng Kông
28 triệu USD năm 1995 và chu cấp một lượng dư cho trên 40% sản phẩm thải. Một
văn phòng cố vấn nghiên cứu về giảm thiểu chất thải từ năm 1993 - 1995 cho biết: tái
sinh phế liệu và thiêu đốt chất thải rắn để thu hồi năng lượng đóng vai trò quan trọng
trong chiến lược giảm thiểu chất thải tổng thể.
Nhật Bản:
Là một trong các quốc gia có trình độ phát triển đứng vào hàng đầu của Thế giới
và vấn đề xử lý các chất thải công nghiệp cũng là một trong các công tác được Nhà
nước quan tâm hàng đầu. Nhật Bản cũng là một trong các quốc gia đi tiên phong
trong việc áp dụng các công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực xử lý chất thải công nghiệp,
SVTH : Hoàng Anh
Footer Page 9 of 166.
Trang 8
vật liệu của các xe cũ đạt 80%. Đức đặt mục tiêu tái chế và tái sử dụng vật liệu của
xe cũ là 95% vào năm 2015.
Bảng 1: Thống kê tỷ lệ thu hồi và tái chế chất thải rắn
của một số quốc gia trên thế giới
Tên nước
% Chôn lấp % Đốt
% Ủ sinh học % Thu hồi tái chế
Nhật
22.5
72.8
2.6
3.2
Mỹ
67
16
2
15
Đức
68.9
15.5
3.1
12.5
Pháp
40
40
10
10
Anh
73
13
Thực hiện chiến lược phát triển bền vững, chiến lược Quản lý môi trường đến
năm 2010, chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia giai đoạn 2015, tầm nhìn 2020 đã
xác định các đô thị trong đó có Tp.HCM, phải tăng cường công tác tái sử dụng, tái
chế và áp dụng công nghệ xử lý mới nhằm mục tiêu đến năm 2010 giảm 30 - 50%
lượng chất thải rắn đô thị thải ra các bãi chôn lấp.
Việc thu hồi và tái sử dụng chất thải rắn là hoạt động rất phát triển ở Tp.HCM.
Đối với doanh nghiệp Nhà nước, trước đây tại xí nghiệp phân tổng hợp Hóc Môn,
chất thải rắn có hàm lượng hữu cơ cao được chế biến thành phân compost từ năm
1987 không hoạt động nữa do không có thiết bị thay thế. Các tư nhân tự tổ chức thu
gom tái chế chất thải rắn theo hình thức thủ công nghiệp và sản xuất thứ phẩm... Hệ
thống này sử dụng rất nhiều lao động và tập hợp những tay nghề rất đặc biệt.
Trước đây, trong hệ thống quản lý chất thải rắn của Thành phố không đề cập đến
lĩnh vực tái chế này, xem đó là một hoạt động kinh tế hoàn toàn độc lập vì nó nằm
trong một lĩnh vực tư nhân năng động. Những phương pháp tái chế và điều kiện làm
việc thường rất vất vả về phương diện vệ sinh cũng như ảnh hưởng đến môi trường
xung quanh.
Theo quan điểm tiếp cận hiện nay, chất thải rắn được coi là một nguồn tài
nguyên cần được khai thác. Với thành phần chất thải rắn (trừ rác thực phẩm) có khả
năng tái sử dụng, tái chế chiếm đến khoảng 10 - 45% (khối lượng ướt), tái chế chất
thải rắn không chỉ là một giải pháp tiết kiệm và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên
nhiên mà còn giảm bớt áp lực đối với các khu chôn lấp.
5.3
SƠ LƯỢC CÁC HOẠT ĐỘNG LIÊN QUAN ĐẾN TÁI CHẾ PHẾ LIỆU
Ở TP.HCM
1.3.1. Nguồn cung cấp phế liệu
Chủ yếu là từ các nguồn sau:
Khu dân cư;
Chất thải từ các cơ sở sản xuất, nhà máy xí nghiệp;
Bệnh viện, các cơ sở y tế;
Ngoài ra, do các hoạt động liên quan đến phế liệu tại Tp.HCM rất sôi động nên
luôn thu hút cả những nguồn phế liệu từ các tỉnh khác.
1.3.2. Phân loại phế liệu
Chủng loại phế liệu rất đa dạng, được phân thành một số loại sau:
Nhôm: gồm:
Nhôm dẻo: gồm những vật dụng có thành phần nhôm tinh khiết cao
(xoong, nồi, thau, ấm nước...)
Nhôm cứng: gồm những vật dụng bằng nhôm nhưng chất lượng nhôm
có pha tạp chất tùy theo muc đích sử dụng (niềng xe, bộ lọc máy,
piston...)
Lon nhôm: lon bia, lon nước ngọt...
Nhôm tạp: gồm những vật dụng bằng nhôm có kích thước nhỏ, vụn,
Giấy phế liệu:
Giấy có thể tái sử dụng: thùng carton, sách báo cũ chưa bị rách, bẩn...
Giấy vụn, tạp.
Nhớt cặn: từ các xe máy, xe ôtô, động cơ...
SVTH : Hoàng Anh
Footer Page 12 of 166.
Trang 11
Header Page
13Văn
ofTốt
166.
Luận
Nghiệp Đại Học
GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường
Phế liệu có
giá trị: Hộ gia
đình, cơ quan,
trường học
Thu mua ve chai dạo
Vựa thu
mua nhỏ
Phân
loại
sơ
Thu nhặt dọc đường
Phế liệu ít giá Thu nhặt tại các bãi rác
trị: Rác hộ
dân, rác
đường phố,
rác chợ
Vựa thu mua
trung bình
Thu nhặt tại các bãi rác + Phân
loại kỹ (chủ yếu là nhựa)
Phân
loại
kỹ
Header Page
14Văn
ofTốt
166.
Luận
Nghiệp Đại Học
GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường
(Nguồn : Sở Tài Nguyên Và Môi Trường)
Từ qui trình thu gom trên ta thấy:
Những người nhặt rác và người thu mua ve chai từ các hộ gia đình là cấp thấp
nhất trong hệ thống này (chủ yếu gồm phụ nữ và trẻ em thất học xuất thân từ những
gia đình lao động nghèo), họ còn thu nhặt rác dọc đường phố, tại các bãi rác để thu
lượm những phế liệu còn giá trị.
Ngoài ra còn có lực lượng công nhân vệ sinh thu gom rác từ các hộ dân và dọc
đường phố. Họ treo những bao tải bên cạnh những chiếc xe thu gom rác của mình và
lựa lại các phế liệu có thể bán được để cho vào bao tải này.
Phế liệu từ đây được tập trung về các vựa ve chai qui mô nhỏ nằm xen kẽ trong
khu dân cư. Các vựa này thu mua tất cả các loại phế liệu, tại đây phế liệu sẽ được
phân loại thành các thành phần riêng và bán lại cho các vựa thu mua phế liệu qui mô
trung bình và lớn hoặc bán trực tiếp cho các cơ sở tái chế.
Các vựa thu mua qui mô trung bình và lớn chỉ tập trung thu mua một hoặc hai
loại phế liệu nhất định đã được phân loại và qua xử lý sơ bộ như: làm sạch, ép nhỏ...
từ các vựa nhỏ. Bên cạnh đó, với những nơi có nguồn hàng dồi dào, thuần khiết và
ổn định từ các cửa hàng lớn, kho, xí nghiệp, các tỉnh... thông qua mạng lưới mối lái
trung gian - những người chuyên đi tìm kiếm nguồn hàng và giới thiệu nơi tiêu thụ
để hưởng huê hồng; lượng phế liệu thu gom sẽ được cung cấp cho những người
chuyên phân loại. Hình thức này rất phổ biến với mặt hàng nhựa vì nó đa dạng và đòi
Thu hồi tại bãi chôn lấp rác.
Thành phần rác được tách ra để tái sinh chủ yếu là các kim loại, nhựa cứng, cao
su, giấy, carton, vải, một phần bao bì nhựa - nylon các loại...., các thành phần như rác
thực phẩm, mút xốp, xà bần hầu như không được thu hồi và được thải bỏ tại các bãi
rác.
Tại các cơ sở tái chế, phế liệu được phân loại lần cuối, làm sạch và được tái chế
thành nguồn nguyên liệu mới hoặc các sản phẩm. Nhìn chung lĩnh vực tái chế chủ
yếu do dân nhập cư, người lao động trình độ thấp thực hiện nên qui mô sản xuất nhỏ
và mức đầu tư công nghệ không cao. Đa số công nghệ đều lạc hậu, máy móc thiết bị
cũ kỹ do đa số được chế tạo trong nước (bằng phương pháp thủ công) nên hoạt động
không hiệu quả, thường xuyên hư hỏng. Do đó, mức độ tiêu hao phế liệu rất lớn (10 20%) và tiêu thụ điện năng nhiều.
Sơ lược một số hoạt động tái chế phế liệu:
Chai miểng, thuỷ tinh nguyên sẽ được súc rửa sạch và bán lại cho các hãng
sản xuất nước tương để tái sử dụng chai, phần mảnh chai vụn thì bán cho
các cơ sở tái chế thuỷ tinh.
Phế liệu nhôm sẽ được bán lại cho các cơ sở nấu nhôm để sản xuất nguyên
liệu nhôm bán thành phẩm.
Cao su phế thải được bán cho các lò gạch dùng làm nguyên liệu đốt lò.
2
Nhựa các loại, túi nylon
3
Sắt vụn
4
Giấy báo, giấy tập, bìa carton
5
Nhớt cặn
6
Thuỷ tinh
7
Gang
8
Đồng
9
Cao su
10
Vải vụn
1.3.5.
Sự phân bố các cơ sở thu mua và tái chế phế liệu ở Tp.HCM
Bảng 3: Số lượng các vựa ve chai trong khu
vực nội thành Tp.HCM
Quận
Số lượng vựa (cơ sở) ve chai
Quận 1
3
Quận 3
19
Quận 4
Trang 15
Header Page
17Văn
ofTốt
166.
Luận
Nghiệp Đại Học
GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường
quận 5, 6, 11, Tân Bình... Tại các quận này, các cơ sở tái chế cũng tập trung thành
từng cụm riêng biệt với mật độ khác nhau.
Bảng 4: Số cơ sở phế liệu phân bố theo ngành
(Quận 5, 6, 11, Tân Bình)
Ngành
Số cơ sở
Nhựa
535
Gang
177
Giấy
158
Sắt, đồng, kẽm
141
Thủy tinh
41
Nhôm
34
5.4
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG TÁI CHẾ CHO CÁC NGÀNH SẢN XUẤT
Chỉ có chất thải của một số ngành công nghiệp là có thể tái chế, tái sử dụng
được; phần chất thải không có giá trị tái chế được đưa đi chôn lấp đối với chất thải
không nguy hại hoặc thiêu đốt đối với chất thải nguy hại.
SVTH : Hoàng Anh
Footer Page 17 of 166.
Trang 16
Header Page
18Văn
ofTốt
166.
Luận
Nghiệp Đại Học
GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường
Bảng 5: Đánh giá tỷ lệ % khả năng tái chế chất thải của các ngành sản xuất.
STT Ngành công nghiệp
% Khả năng tái chế
1
Chế biến thực phẩm
% Tái chế thực tế
40 %
< 30 %
100 %
90 – 95 %
80 %
90 %
80 %
100 %
40 %
Chôn lấp
Ngành chế biến thực phẩm: bao bì bằng giấy, nhựa … bán lại cho các cơ sở
tái chế giấy, tái chế nhựa. Các vỏ tôm, vỏ ghẹ, ruột cá … được tái chế làm
thức ăn cho gia súc, gia cầm, làm phân bón …
Ngành may mặc, dệt nhuộm: vải vụn được tái sử dụng lại cho mục đích khác
như làm giẻ lau nhà, đan thành tấm chà chân; xơ sợi phế phẩm được dùng để
nhồi vào thú bông, tận dụng làm đệm trong chăn (mền).
Ngành sản xuất thủy tinh: chai lọ thủy tinh phế phẩm, mảnh vỡ thủy tinh …
được tái sản xuất.
ofTốt
166.
Luận
Nghiệp Đại Học
GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường
những loại hình tái chế khác. Sự phân bố các loại hình tái sinh tái chế của các cơ sở
như sau:
Bảng 6: Số lượng cơ sở tái chế phân bố trên các quận/huyện
Loại hình
tái chế
Quận 1
Quận 2
Quận 3
Quận 4
Quận 5
Quận 6
Quận 7
Quận 8
Quận 9
Quận 10
Quận 11
Quận 12
Q.Bình Tân
Q.Bình Thạnh
Q.Gò Vấp
Q.Phú Nhuận
Q.Tân Bình
Q.Tân Phú
1
1
13
5
1
1
11
2
1
14
4
3
2
8
34
2
1
13
8
2
3
3
1
2
202
67
9
7
15
66,9
13
10
3
6
302
100
Trang 18
Header Page
20Văn
ofTốt
166.
Luận
Nghiệp Đại Học
GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường
Hình 3: Sự phân bố các loại hình thu mua - tái chế tại Tp.HCM
Tỷ lệ phân bố các loại hình TS-TC
Tỷ lệ (%)
trên đòa bàn Tp.HCM
100
90
80
70
(Nguồn : Sở Tài Ngun Và Mơi Trường – Năm 2006)
5.5
THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TÁI CHẾ
Mặc dù hoạt động tái chế phế liệu trên địa bàn Tp.HCM phát triển mạnh nhưng
thị trường tiêu thụ các sản phẩm và bán thành phẩm từ nguồn sản xuất phế liệu vẫn
chưa có sự ổn định và ưu đãi để khuyến khích phát triển.
Đa số các cơ sở tái chế kim loại và plastic tiêu thụ sản phẩm của mình tại thị
trường tự do (chợ và các mối lái) còn các cơ sở tái chế giấy tiêu thụ sản phẩm chủ
yếu tại các cơ sở sản xuất.
SVTH : Hồng Anh
Footer Page 20 of 166.
Trang 19
Header Page
21Văn
ofTốt
166.
Luận
Nghiệp Đại Học
GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường
Bảng 7: Tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm từ nguyên liệu tái chế tại Tp.HCM
48.1
33.3
100
100
100
Tổng cộng
(Nguồn : Viện Kỹ Thuật Nhiệt Đới và Bảo Vệ Môi Trường)
5.6
LỢI ÍCH CỦA HOẠT ĐỘNG TÁI CHẾ CHẤT THẢI RẮN.
Trong tình hình xử lý rác thải khó phân huỷ còn bỏ ngỏ như hiện nay, hoạt
động thu gom phế liệu trên địa bàn Tp.HCM đã góp phần rất lớn trong việc giải
quyết vấn đề nan giải này.
1.6.1. Về mặt kinh tế
Tái sản xuất ra một lượng sản phẩm từ phế liệu ngoài tác dụng nâng cao
tổng sản phẩm nội địa còn góp phần tiết kiệm một lượng ngoại tệ vốn eo
hẹp trong việc nhập nguyên liệu cho sản xuất nhất là nguyên liệu plastic và
nhôm có sẵn trong nước.
Chủ cơ sở có thể thu được một khoản tiền không nhỏ từ việc bán phế liệu
va tiết kiệm được một khoản tiền lớn cho chi phí đổ rác theo dịch vụ công
ích của Công Ty Môi Trường Đô Thị Tp.HCM.
Sử dụng những vật liệu thứ cấp sẽ giảm được năng lượng trong quá trình
sản xuất so với việc sử dụng những vật liệu thô.
Plastic tái chế
80
(Nguồn: BIR – Bureau International Recycling)
1.6.2. Về mặt xã hội
Giải quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập cho một lực lượng lâu đời trong
ngành tái chế.
1.6.3. Về mặt môi trường
Giảm lượng rác thải ra môi trường, góp phần làm sạch môi trường.
Tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên bởi việc sử dụng vật liệu được
tái chế thay cho vật liệu gốc.
Giảm tác động môi trường do đổ thải gây ra, tiết kiệm được diện tích
xây dựng cũng như kéo dài tuổi thọ của các bãi chôn lấp rác.
Bảng 9: Lợi ích kinh tế và môi trường do áp dụng sản xuất sạch hơn
tại các cơ sở công nghiệp
Các lợi ích
Mức tiết kiệm/giảm thiểu
chất ô nhiễm (%)
Tiết kiệm nước sản xuất
40 – 70
Tiết kiệm năng lượng
20 – 50
thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe công nhân trong dây chuyền tái
chế.
SVTH : Hoàng Anh
Footer Page 23 of 166.
Trang 22
Header Page
24Văn
ofTốt
166.
Luận
Nghiệp Đại Học
GVHD : Th.S Nguyễn Khoa Việt Trường
Chương 2: HIỆN TRẠNG TÁI CHẾ
NHỰA PHẾ LIỆU
2.1
KHÁI NIỆM VỀ NHỰA
Nhựa là nguồn nguyên liệu nhân tạo được chế tạo từ dầu và khí tự nhiên. Nhựa
bao gồm nhiều đại phân tử. Trọng lượng phân tử của nhựa có thể thay đổi từ 20.000
đến 100.000.000 (trong khi trọng lượng phân tử của nước, muối ăn, và đường lần
lượt là 18; 58.5 và 342). Nhựa gồm các chuỗi dài các đơn phân tử như Ethylene,
Propylene, Styrene và Vinyl Chloride. Chúng liên kết với nhau thành một chuỗi, gọi
Hình 4: Cấu trúc của nhựa nhiệt dẻo (a) và nhựa nhiệt rắn (b)
(Nguồn: Nijenhuiste – 1988, [4])
Đặc tính của nhựa có thể bị thay đổi khi thêm vào một số chất phụ gia như:
Chất chống oxi hóa: thường được thêm vào Polyethylene và Polypropylene, nhằm
làm giảm tác động của oxi đối với nhựa tại nhiệt độ cao.
Chất ổn định: có thể làm giảm tỷ lệ tan rã của Polyvinyl Chloride (PVC).
Chất làm mềm: được sử dụng để giúp cho các loại nhựa dẻo và dễ uốn hơn.
Chất làm thông: được sử dụng để tạo ra các lỗ hổng trong cấu trúc của nhựa.
Chất làm chậm cháy: được thêm vào để làm giảm tính dễ cháy của nhựa.
Màu: được sử dụng để tạo màu cho nguyên liệu nhựa.
Hiệu quả của các chất phụ gia đối với đặc tính của nhựa là một điển hình về sự đa
dạng các sản phẩm làm từ nhựa PVC, từ ống dẫn nước, vật dụng trong nhà, đĩa hát,
tã em bé đến các hoạt động thể thao.
Một số định nghĩa:
Chất thải nhựa là các loại chất thải ở dạng rắn có nguồn gốc từ dầu mỏ.
Nhựa phế liệu là sản phẩm, vật liệu nhựa bị loại ra trong sản xuất hoặc tiêu
dùng nhưng đáp ứng được yêu cầu làm nguyên liệu sản xuất cho chính bản
thân ngành nhựa (sau khi sơ chế) hoặc cho các ngành sản xuất khác.
Nguyên liệu nhựa tái chế (còn được gọi là nguyên liệu tái chế): sản phẩm đã
qua sử dụng hoặc phế phẩm (chất thải) nhựa mà còn có thể sử dụng lại hoặc