O ho
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
LỚP KẾ TOÁN ĐÊM - KHÓA 20
ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP KIỂM TOÁN VÀ
THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐẠO ĐỨC
NGHỀ NGHIỆP KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM
GVHD : T.S TRẦN THỊ GIANG TÂN
Thực hiện :
1. Trần Thị Mỹ Linh
2. Nguyễn Hoàng Mai
3. Trịnh Thị Thu Nhung
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 10/ 2012
2.2.1. Lịch sử ra đời trang 16
2.2.2. Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp trang 16
2.3. Quy định về đạo đức nghề nghiệp kiểm toán của Pháp trang 18 2.3.1. Lịch sử ra đời trang 18
2.3.2. Các quy định về đạo đức nghề nghiệp trang 20
2.4. Các quy định đạo đức nghề nghiệp kiểm toán tại Việt Nam trang 21
2.4.2. Lịch sử ra đời trang 21
2.4.2. Nội dung chuẩn mực trang 22
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp tại Việt Nam
trang 29
3.1. Đánh giá những quy định về đạo đức nghề nghiệp và việc giám sát sự tuân thủ đạo
đức nghề nghiệp trang 29
3.1.1. Đánh giá những quy định về đạo đức nghề nghiệp trang 29
3.1.2. Đánh giá việc giám sát sự tuân thủ đạo đức nghề nghiệp trang 32
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định đạo đức nghề nghiệp kiểm toán tại Việt
Nam trang 33
3.2.1. Ban hành các hướng dẫn chi tiết về một số nội dung quan trọng trang 33
3.2.2. Giải quyết khi có sự khác biệt trang 34
3.2.3. Giám sát sự tuân thủ đạo đức nghề nghiệp trang 35
Kết luận
Tài liệu tham khảo LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang ngày càng phát triển, hội nhập ngày càng
sâu rộng vào nền kinh tế thế giới: Nhiều doanh nghiệp được thành lập, số lượng các
nhà đầu tư tăng lên nhiều lần; cùng với đó, nhu cầu về kiểm tra kiểm soát để nâng cao
căn bản thường được thiết lập như: sự trung thực, tính có trách nhiệm, lương thiện,
thẳng thắn, công bằng, ngay thẳng, tuân thủ nghĩa vụ công dân.
Về mặt xã hội, đạo đức được biểu hiện bằng thái độ cụ thể của dư luận xã hội.
Về mặt cá nhân, đạo đức được coi là “tòa án lương tâm” có khả năng tự phê phán,
đánh giá và suy sét từng hành vi, thái độ và ý nghĩ trong bản thân mỗi cá nhân. Như
vậy, về bản chất, sự điều chỉnh của đạo đức mang tính tự giác, là sự tự lựa chọn của
mỗi người nên ngoài biểu hiện trong các quan hệ xã hội, đạo đức còn thể hiện trong
thái độ, hành vi và sự tự ứng xử trong bản thân mỗi con người.
1.1.2 Đạo đức nghề nghiệp
Đạo đức nghề nghiệp được tuân theo trong hoạt động nghề nghiệp, có chuẩn
mực và quy phạm đạo đức đặc trưng của bản thân từng nghề nghiệp. Trong xã hội có
bao nhiêu nghề nghiệp khác nhau thì có bấy nhiêu đạo đức nghề nghiệp. Trong bất kỳ
thời kỳ nào, đạo đức nghề nghiệp luôn là đạo đức của xã hội đương thời, biểu hiện đặc
thù và quán triệt cụ thể trong các hoạt động nghề nghiệp. Trong quá trình phát triển
của kinh tế, của xã hội, mỗi cá nhân đều phải lấy tâm huyết, lòng yêu nghề, trách
nhiệm làm nội dung chủ yếu cho đạo đức nghề nghiệp. Đó là chuẩn mực đạo đức nghề
nghiệp chung mà tất cả các ngành nghề đều phải tuân theo.
1.1.3 Khái niệm về đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên
Trang 2
Trong mọi nghề nghiệp, để hướng dẫn cho người hành nghề có thể thực hiện
công việc với chất lượng cao, tuân thủ pháp luật và phục vụ tốt nhất cho lợi ích của xã
hội, các cơ quan chức năng, luật pháp hay nghề nghiệp thường phải thiết lập các quy
định cho người hành nghề.
Kiểm toán là một nghề nghiệp mang tính chuyên nghiệp cao, vì vậy càng cần
phải chịu sự chi phối bởi các quy định có liên quan, trong đó quy định về đạo đức nghề
nghiệp là rất quan trọng.
Đạo đức nghề nghiệp được định nghĩa là những quy tắc để hướng dẫn cho các
thành viên ứng xử và hoạt động một cách trung thực, phục vụ cho lợi ích chung của
nghề nghiệp và xã hội.
khách hàng mà loại dịch vụ này gắn liền với việc bảo vệ các quyền tự do, danh dự,
nhân phẩm… của con người. Một người bị truy tố ra trước tòa án có nghĩa là người đó
sẽ phải chịu sự phán xét của pháp luật về số phận pháp lý gắn liền với các chế tài
nghiêm khắc. Dịch vụ pháp lý mà luật sư cung cấp cho khách hàng vì thế cũng là một
loại dịch vụ có ảnh hưởng lớn tới quyền lợi của họ. Có thể nói có ba yếu tố quan trọng
quyết định uy tín, danh dự, sự thành bại trong hoạt động nghề nghiệp luật sư. Đó là sự
hiểu biết sâu sắc về pháp luật thực định cũng như các lĩnh vực khác có liên quan trong
đời sống xã hội; các kỹ năng hành nghề mà luật sư vận dụng trong quá trình tác
nghiệp, ứng phó với các tình huống nảy sinh, thậm chí có khi rất phức tạp trong hoạt
động tranh tụng; và cuối cùng là vấn đề đạo đức nghề nghiệp của người luật sư. Ba yếu
tố này có quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời, tạo nên sức mạnh của luật sư
trong việc thực hiện sứ mệnh truyền thống cao cả là “Phụng sự công lý”. Trong ba yếu
tố trên, vì đặc tính độc lập và tự do trong hành nghề nên vấn đề đạo đức nghề nghiệp
nổi lên như là một thành tố giúp luật sư giữ được mình trước mọi thứ cám dỗ, tiêu cực
thực có trong đời sống xã hội.
Ngoài ra, cũng có rất nhiều ngành khác trong xã hội cần quan tâm tới vấn đề
đạo đức trong hành nghề. Với nghề sư phạm, đạo đức nghề nghiệp là một yếu tố quan
trọng trong phẩm chất cá nhân của những người làm nghề giáo, nó tồn tại như đỉnh của
tam giác mà nền móng là kiến thức vả kĩ năng góp phần tạo nên bộ mặt nhân cách của
người thầy.
Như vậy, chúng ta đã thấy được tầm quan trọng của đạo đức nghề nghiệp với
nhiều ngành nghề khác nhau, nhưng với nghề kiểm toán thì sao?
1.2.2 Sự cần thiết của đạo đức nghề nghiệp kiểm toán
Trang 4
Ngày nay, nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển, nhu cầu về kiểm toán là
rất lớn, số lượng các cá nhân và tổ chức sử dụng kết quả kiểm toán là rất đa dạng, song
không phải ai trong số họ cũng có khả năng đánh giá được tính chính xác của các kết
quả kiểm toán. Kiểm toán là một lĩnh vực chuyên nghiệp với những người làm việc có
trình độ chuyên môn cao được kỳ vọng là hoạt động cao hơn phần đông các thành viên
thể chia thành ba giai đoạn chính:
1.3.1 Giai đoạn hình thành
Nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp kiểm toán trước hết xuất hiện ở Anh vào thế
kỷ 19. Ở thời kỳ này, do sự bành trướng thuộc địa của Anh, các nhà đầu tư Anh quốc
đã mở rộng đầu tư sang các quốc gia thuộc địa. Chính vì thế, các chủ đầu tư cần có
người để giám sát các khoản đầu tư khi họ vắng mặt, và đó là nghĩa vụ chính của kiểm
toán viên. Tuy vậy, khái niệm về đạo đức trong suốt thế kỷ này chưa được nhận thức
là một đức tính quan trọng của người hành nghề kiểm toán. Để có thể tin cậy vào kiểm
toán viên, các nhà đầu tư Anh quốc cấm kiểm toán viên đầu tư hay làm việc cho công
ty được kiểm toán. Thuật ngữ đạo đức chỉ giới hạn ở sự trung thành của kiểm toán
viên với các nhà đầu tư ở chính quốc, do vậy, trong thời kỳ này kiểm toán viên có thể
thực hiện dịch vụ kế toán hay soạn thảo báo cáo tài chính cho công ty được kiểm toán.
Có thể nói, trong giai đoạn này, chưa có chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp, mà chỉ có
một số yêu cầu về đạo đức đối với người hành nghề. Các yêu cầu này là khởi điểm cho
chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp sau này.
1.3.2 Giai đoạn phát triển
Quan niệm về đạo đức của kiểm toán viên đã không ngừng thay đổi vào cuối
thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Trong thời gian này, do có sự dịch chuyển vốn từ quốc gia
này sang quốc gia khác và hợp nhất các công ty lớn ở Anh trong ngành khai thác mỏ,
đường sắt, nhiên liệu, điện thoại … đã dẫn đến sự thay đổi trong quan điểm về mục
đích, bản chất và nguồn vốn đầu tư vào các công ty. Từ đó, nhiệm vụ của kiểm toán
viên chuyển sang phục vụ cho cổ đông trong cộng đồng hơn là lợi ích của các người
chủ sở hữu vắng mặt. Nhóm cổ đông trong cộng đồng chủ yếu là các nhà đầu tư địa
phương, mà thường là các ngân hàng lớn hay các nhà đầu tư lớn và nhóm này ngày
càng gia tăng.
Trong những năm 1930, các nhà kinh tế học Mỹ Adolf Bearle và Gardiner
Means cho rằng vai trò quan trọng nhất của kiểm toán là đánh giá sự hợp lý về lợi
Trang 6
nhuận trên báo cáo tài chính của công ty, cụ thể là Bảng cân đối kế toán cần xác định
trong tổng doanh thu của họ, và để duy trì doanh số và gia tăng lợi nhuận, các công ty
kiểm toán đã ngày càng chú ý đến các dịch vụ phi kiểm toán.
Thế nhưng, khi đề cập đến tính độc lập, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cho
phép các công ty kiểm toán được đồng thời cung cấp dịch vụ phi kiểm toán bên cạnh
dịch vụ kiểm toán. Tuy chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp có nhấn mạnh tính độc lập
của kiểm toán viên, nhưng do sự cạnh tranh ngày càng gia tăng đối với các dịch vụ
kiểm toán, cùng với tính phức tạp của việc cung cấp nhiều dịch vụ đã làm giảm đi tính
khách quan và trung thực. Bên cạnh đó, sự sút giảm doanh thu từ hoạt động kiểm toán
và việc gia tăng doanh thu từ hoạt động phi kiểm toán đã ảnh hưởng đến tính độc lập
của kiểm toán viên, bởi lẽ vì họ cho rằng có thể tư vấn cho khách hàng nên đã chuyển
sang ưu tiên cho việc cố gắng trở thành nhà tư vấn đáng tin cậy của khách hàng.
Nhìn chung, trong giai đoạn 1988 – 2001, các quy định về đạo đức nghề nghiệp
của nhiều quốc gia trên thế giới đều cho rằng công ty kiểm toán và kiểm toán viên có
thể cung cấp dịch vụ kế toán và các dịch vụ phi kiểm toán khác, nếu:
- Không có mâu thuẫn quyền lợi để có thể gây ảnh hưởng đến tính chính trực và
khách quan.
- Khách hàng chấp nhận trách nhiệm của họ đối với báo cáo tài chính.
- Kiểm toán viên không được kiêm nhiệm việc quản lý, trong đó bao gồm cả việc
không được soạn thảo báo cáo tài chính.
- Khi thực hiện kiểm toán, cần tiến hành đầy đủ các thủ tục cần thiết, không được
bỏ sót hay cắt giảm các thủ tục kiểm toán.
Ngoài ra, kiểm toán viên có thể kiểm toán cho công ty mà mình có lợi ích tài
chính không trọng yếu hay có các khoản đi vay hoặc cho vay, nếu khoản cho vay được
tiến hành theo đúng trình tự quy định và khoản này là không trọng yếu.
Trước tình hình đó, trong thập niên 1990, đã bắt đầu xuất hiện nhiều cảnh báo
liên quan đến tính độc lập và các đề nghị gia tăng tính độc lập của kiểm toán viên. Các
cảnh báo này tập trung vào việc cung cấp đồng thời nhiều dịch vụ và kiểm toán lâu
năm cho cùng một khách hàng.
Vì thế, P.Moizier đã đề nghị nhiều giải pháp nhằm làm gia tăng tính độc lập,
đó có các thành viên là Hội nghề nghiệp, vừa có các thành phần khác. Ở Hoa Kỳ, đó là
Ủy ban Đạo đức nghề nghiệp (PEEC), ở Pháp là Liên đoàn Quốc gia các Chuyên viên
Kế toán (CNCC) nhưng phải được Ủy ban tham chính thông qua. Bên cạnh chuẩn mực
Trang 9
đạo đức nghề nghiệp do Hội nghề nghiệp soạn thảo, còn có các quy định pháp luật có
liên quan.
Để các quy định đạo đức nghề nghiệp đi vào thực tế, cần phải thiết lập một cơ
chế để giám sát việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, cũng như nhằm xét xử các hành vi
vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Thông thường việc giám sát tuân thủ đạo đức nghề
nghiệp được thực hiện cùng với quá trình giám sát chất lượng hoạt động kiểm toán. Vì
vậy cần có bộ phận chuyên trách về giám sát chất lượng hoạt động kiểm toán cũng như
bộ phận phụ trách xét xử kỷ luật. Bộ phận kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán
có thể trực thuộc Hội nghề nghiệp, hoặc có thể là bộ phận vừa trực thuộc Hội nghề
nghiệp vừa trực thuộc Ủy ban chứng khoán, đó cũng có thể là cơ quan được thành lập
theo yêu cầu của luật pháp.
Tùy theo đặc điểm từng quốc gia, để giám sát việc tuân thủ đạo đức nghề
nghiệp, cần giải quyết mối quan hệ đúng đắn giữa Nhà nước và Hội nghề nghiệp. Nếu
tổ chức nghề nghiệp phát triển mạnh và đưa ra được chuẩn mực hay quy định chặt chẽ,
lúc này, Nhà nước sẽ chỉ giới hạn vai trò của mình trong việc đưa ra khuôn khổ pháp
lý. Ngược lại, nếu tổ chức nghề nghiệp không đủ mạnh để đảm nhận vai trò này, Nhà
nước phải can thiệp sâu hơn bằng việc ban hành các văn bản pháp lý về việc giám sát
sự tuân thủ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp.
1.4.2 Nội dung của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp
Về thực chất, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp là sự tiêu chuẩn hóa các nguyên
tắc và hướng dẫn nhằm giúp các thành viên hoạt động một cách trung thực để đáp ứng
sự mong đợi của xã hội đối với nghề nghiệp.
Tuy nhiên, trong thực tế có rất nhiều tình huống phát sinh khác nhau ảnh hưởng
đến đạo đức nghề nghiệp. Chính vì vậy, nội dung chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp
phải đưa ra được phương pháp giải quyết đối với các trường hợp có thể phát sinh trong
mình cho phù hợp với uy tín của ngành nghề, và phải tự kiềm chế những hành
động có thể phá hoại uy tín nghề nghiệp.
Trang 11
CHƯƠNG 2 : THỰC TIỄN XÂY DỰNG VÀ ÁP DỤNG CHUẨN MỰC ĐẠO
ĐỨC NGHỀ NGHIỆP KẾ TOÁN KIỂM TOÁN TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI
VIỆT NAM
2.1 Quy định về đạo đức nghề nghiệp kiểm toán của Liên đoàn Kế toán quốc tế
Năm 1994, IFAC ban hành các chuẩn mực kiểm toán vào năm 1994 và bắt đầu
soạn thảo bộ đạo đức nghề nghiệp. Ban đầu, việc soạn thảo bộ đạo đức nghề nghiệp do
Ủy ban đạo đức nghề nghiệp trực thuộc IFAC đảm nhận, còn hiện nay do IESBA đảm
trách. Ủy ban này tư vấn cho IFAC về các vấn đề liên quan đến đạo đức nghề nghiệp,
đồng thời soạn thảo các hướng dẫn chi tiết về những vấn đề đã được IFAC phê chuẩn.
Bộ đạo đức nghề nghiệp do IFAC cho đến nay là đã được sửa đổi hai lần vào năm
2001 và 2005 kể từ thời điểm ban hành (1996).
2.1.1 Điều lệ đạo đức năm 1996
Tháng 7/1996, ủy ban đạo đức nghề nghiệp (trực thuộc IFAC) ban hành bộ đạo
đạo đức nghề nghiệp chính thức cơ sở kế thừa các hướng dẫn trước đó của IFAC. Nội
dung gồm có 3 phần: phần A áp dụng cho người hành nghề chuyên nghiệp, phần B áp
dụng cho kiểm toán viên, phần C áp dụng cho người hành nghề kế toán trong các
doanh nghiệp. Điều lệ có nêu lên các tình huống làm ảnh hưởng đến tính độc lập người
hành nghề, những tình huống mà các kiểm toán viên dễ gặp phải như sau:
- Có lợi ích tài chính. Khi kiểm toán viên có các khoản đầu tư trong công ty
khách hàng, có khoản đi vay hay cho vay, nắm giữ các lợi ích tài chính trong
công ty khách hàng có thể sẽ làm ảnh hưởng đến tính độc lập của kiểm toán
viên khi tiến hành kiểm toán.
- Bổ nhiệm công ty kiểm toán. Công ty kiểm toán không được bổ nhiệm một
người làm kiểm toán viên trong nhóm kiểm toán khi người đó đang là thành
của Arthur Andersen đã đánh mất lòng tin của quần chúng. Ủy ban thực hành kiểm
toán (IAPC) thanh đổi thành ủy ban quốc tế về chuẩn mực kiểm toán và dịch vụ đảm
bảo (IAASB). IFAC đã xem xét lại toàn bộ các quy định về đạo đức và ban hành điều
lệ đạo đức mới có hiệu lực từ tháng 11 năm 2001.
Kết cấu của điều lệ đạo đức nghề nghiệp năm 2001 cũng gồm có ba phần chính
tương tự điều lệ đạo đức nghề nghiệp ban hành năm 1996: Phần A áp dụng cho tất cả
Trang 13
người hành nghề; phần B áp dụng cho kiểm toán viên; phần C áp dụng cho người hành
nghề làm việc tại các doanh nghiệp. Trong điều lệ năm 2001 này, ở phần B đã định
nghĩa rõ ràng hơn về tính độc lập trong khi điều lệ 1996 không nói rõ thế nào là độc
lập. IFAC đã đưa ra cách tiếp cận và định nghĩa thuật ngữ đạo đức trên hai phương
diện là độc lập về tư tưởng và độc lập về hình thức.
Phạm vi áp dụng: Không chỉ áp dụng cho hợp đồng kiểm toán mà còn áp dụng
cho các hợp đồng dịch vụ và đảm bảo.
Thay vì giải thích riêng từng trường hợp cụ thể như trước đây, IFAC xác lập các
nguy cơ và biện pháp bảo vệ. IFAC cho rằng có năm nhóm nguy cơ là nguy cơ do tư
lợi, nguy cơ tự kiểm tra, nguy cơ về quan hệ gia đình, nguy cơ bị đe dọa. Biện pháp
bảo vệ bao gồm các biện pháp do luật và chuẩn mực quy định, các biện pháp bảo vệ
của người sử dụng dịch vụ đảm bảo, các biện pháp bảo vệ trong các quy định của bản
than công ty kiểm toán.
Về quan điểm: IFAC thay đổi tạp trung vào ba chủ đề chính như sau:
- Các dịch vụ cung cấp: Trước đây, các công ty kiểm toán được phép thực hiện
các dịch vụ kế toán và một số dịch vụ phi kiểm toán, nhưng điều lệ năm 2001 lại
yêu cầu các kiểm toán viên không được phép thực hiện đồng thời các dịch vụ này.
- Về quay vòng kiểm toán: Thời gian phụ trách hợp đồng thường là không quá 7
năm, và sau 2 năm mới được tái thực hiện.
- Nhấn mạnh các biện pháp bảo vệ trong trường hợp giám đốc hay nhân viên cấp
cao hoặc nhân viên của khách hàng sử dụng dịch vụ đảm bảo đã từng là giám đốc
của công ty kiểm toán không được thực hiện kiểm toán.
quốc gia với Bộ chuẩn mực đạo đức cho kế toán viên chuyên nghiệp quốc tế. Thêm
vào đó tuyên bố này cũng yêu cầu cụ thể các quốc gia không được áp dụng các chuẩn
mực quốc gia ít nghiêm ngặt hơn chuẩn mực quốc tế.
2.2 Quy định đạo đức nghề nghiệp kiểm toán của Hoa Kỳ
2.2.1 Lịch sử ra đời
Hoạt động kiểm toán độc lập của Hoa Kỳ đã hình thành từ thế kỷ 19 từ sự phát
triển của các công ty cổ phần. Thế nhưng, mãi đến năm 1933, với sự ra đời của Luật
Chứng khoán Liên bang, mới đưa ra yêu cầu bắt buộc báo cáo tài chính của các công
Trang 15
ty cổ phần niêm yết phải được kiểm toán. Đặc biệt, vào năm 1934, Luật giao dịch
chứng khoán đã ra đời và Chương 13 đã đưa ra quy định về tính độc lập của kiểm toán
viên khi kiểm toán báo cáo tài chính.
Trước khi có chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, tại Hoa Kỳ đã có các quy định,
đó là các vấn đề do AICPA trả lời cho các câu hỏi do người hành nghề đặt ra về vấn đề
cụ thể, và thường được công bố trên tạp chí Kế toán.
Do nhu cầu thực tiễn, PEEC (Ủy ban đạo đức nghề nghiệp) trực thuộc AICPA
(Hiệp Hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ) đã soạn thảo và ban hành Chuẩn mực
đạo đức nghề nghiệp đầu tiên vào ngày 12/01/1988. Nội dung chủ yếu đề cập đến các
nguyên tắc căn bản chi phối hành vi của kiểm toán viên và công ty kiểm toán.
2.2.2 Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp
Hệ thống chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của Hoa Kỳ bao gồm bốn bậc:
Bậc 1 – Nguyên tắc: là các chuẩn mực lý tưởng về đạo đức và không mang tính
bắt buộc.
Bậc 2 – Các quy tắc đạo đức nghề nghiệp: đây là chuẩn mực tối thiểu về đạo
đức, đó là sự chi tiết hoá nguyên tắc và mang tính bắt buộc. Người hành nghề
nếu không chấp hành sẽ phải giải trình trước Ủy ban kỷ luật về lý do của hành
vi không tuân thủ này.
Bậc 3 – Các giải thích về đạo đức: là những hướng dẫn chi tiết về việc áp dụng
các quy tắc trong thực tế. Tuy vậy, các vấn đề phát sinh trong thực tế có thể
quan hệ gia đình với cán bộ chủ chốt trong công ty khách hàng;có khaonr cho vay hay
đi vay từ các thành viên, giám đốc hay các cổ đông chủ yếu của công ty khách hàng
ngoại trừ khi các khoản này được cho phép hay đã thực hiện đúng trình tự cho vay
theo luật định; đang có tranh tụng giữa khách hàng với với kiểm toán viên.
Nguyên tắc 4 – Tuân thủ nguyên tắc kế toán và cá chuẩn mực chung
Người hành nghề cần tuân thủ các chuẩn mực và hướng dẫn do PEEC ban hành
về: năng lực chuyên môn; thận trọng nghề nghiệp; lập kế hoạch giám sát; thu thập
thông tin đầy đủ và thích hợp. Ngoài ra, khi báo cáo tài chính còn chứa đụng những sai
phạm trọng yếu và không tuân thủ các chuẩn mực kế toán, kiểm toán viên không nên
cho ý kiến hay khẳng định rằng báo cáo tài chính đã được trình bày phù hợp với chuẩn
mực kế toán.
Nguyên tắc 5 – Trách nhiệm đối với khách hàng
Trang 17
Nguyên tắc này chủ yếu trình bày và hướng dẫn về vấn đề bảo mật thông tin
của khách hàng.
Nguyên tắc 6 – Trách nhiệm đối với đồng nghiệp
Kiểm toán viên cần giữ mối quan hệ tốt với đồng nghiệp và tránh các hành vi
không đúng dắn với đồng nghiệp. Nếu có mâu thuẫn nghề nghiệp cần giải quyết theo
hướng hòa giải và nếu cần thiết, nên nhờ đến sự hòa giải của Hội nghề nghiệp.
Nguyên tắc 7 – Các trách nhiệm khác
Nội dung nguyên tắc giới thiệu về các hành vi gây phương hại đến uy tín nghề
nghiệp mà kiểm toán viên không nên thực hiện như: giữ hồ sơ của khách hàng; phân
biệt chủng tộc, giới tính; tìm kiếm khách hàng thông qua quảng cáo theo cách lừa gạt,
dối trá …
2.3 Quy định về đạo đức nghề nghiệp kiểm toán của Pháp
2.3.1 Lịch sử ra đời
Hoạt động kiểm toán độc lập của Pháp hình thành từ sự ra đời của Luật Thương
mại (1863) và Luật công ty (1867), trong hai luật này đã đề cập đến thuật ngữ kiểm
toán. Luật Công ty yêu cầu công ty cổ phần phải chỉ định một hay nhiều kiểm toán
1935, chính phủ Pháp mới đưa ra một số quy định liên quan tiêu chuẩn của người hành
nghề, cũng như đưa ra các yêu cầu kiểm tra kiến thức đối với người hành nghề. Các
kiến thức để có thể hành nghề là kiến thức về kế toán, thuế và luật.
Sau đó, Luật Thương mại đã bổ sung nhiều yêu cầu liên quan đến việc hành
nghề kiểm toán, ví dụ đề cập đến việc thành lập tổ chức nghề nghiệp kiểm toán và
kiểm soát nghề nghiệp. Ngoài ra, Luật Công ty (1966) đã mở rộng đối tượng kiểm tra
cả các công ty trách nhiệm hữu hạn và yêu cầu thành lập một tổ chức theo luật định đó
là CNCC. Trước khi có CNCC, tại Pháp đã có tổ chức nghề nghiệp kế toán từ năm
1942, đây là tổ chức nghề nghiệp được chính phủ thừa nhận chính thức vào ngày
19/9/1945.
Theo quy định của Luật Công ty, chỉ những người có tên trong danh sách chính
thức của kiểm toán viên mới được thực hiện cuộc kiểm toán theo luật định. Kiểm toán
viên có thể hành nghề dưới danh nghĩa cá nhân hay công ty. Tất cả kiểm toán viên
hành nghề đều phải là thành viên của CNCC, CNCC đặt dưới sự quản lý của Bộ Tư
pháp.
Ngoài các quy định trên, Luật Công ty còn đưa ra một số quy định liên quan
đến đạo đức nghề nghiệp như: kiểm toán viên không được nhận bất cứ đặc ân nào từ
Trang 19
công ty khách hàng; kiểm toán viên không được nắm bất cứ chức vụ nào trong ban
quản lý hay là thành viên trong ban lãnh đạo công ty được kiểm toán; kiểm toán viên
hay công ty kiểm toán không được thực hiệ kiểm toán cho công ty khi họ hay gia đình
họ nắm giữ trên 10% quyền sở hữu trong công ty được kiểm toán…
Luật cũng nhấn mạnh rằng tính độc lập của kiểm toán không chỉ là độc lập về
tư tưởng mà còn là độc lập về hình thức.
Như vậy có thể thấy, tại Pháp, đạo đức nghề nghiệp là vấn đề trước hết được
quy định trong luật và các biện pháp xử phạt cũng được quy định trong văn bản pháp
luật.
Tuy thành lập vào năm 1969, nhưng mãi đến năm 1988, CNCC mới xây dưng
chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp một cách đầy đủ trên cơ sở kế thừa các quy định của
Bộ Tài chính là cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, ban hành các chuẩn mực kiểm
toán. Khi chuyển hoá các chuẩn mực kiểm toán quốc tế sang hệ thống chuẩn mực kiểm
toán của Việt Nam, các điều kiện về kinh tế, chính trị, luật pháp, văn hóa, trình độ của
kiểm toán viên được nghiên cứu, xem xét rất kỹ.
Theo thông lệ quốc tế, những người làm kế toán, kiểm toán phải tuân thủ Chuẩn
mực đạo đức nghề nghiệp. Năm 1994 Việt Nam đã ban hành quy chế kiểm toán độc
lập quy định kiểm toán viên phải bảo đảm trung thực, độc lập, khách quan, công bằng
và bí mật số liệu. Tiếp đến vào năm 1999, vấn đề này được cụ thể hơn trong chuẩn
mực kiểm toán Việt Nam số 200 – Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán
báo cáo tài chính, bao gồm bảy nguyên tắc là Độc lập – Chính trực – Khách quan –
Năng lực chuyên môn và tính thận trọng – Tính bảo mật – Tư cách nghề nghiệp –
Tuân thủ chuẩn mực chuyên môn.
Sau đó vấn đề đạo đức nghề nghiệp tiếp tục được quy định trong những văn bản
khác như VSA 220, Nghị định 105/2004/NĐ-CP ngày 30/3/2004 của Chính phủ về
kiểm toán độc lập.
Thế nhưng vấn đề này chỉ được quy định đầy đủ và toàn diện nhất khi Bộ tài
chính ban hành và công bố Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán theo
quyết định số 87/2005/QĐ-BTC ngày 1/12/2005 để áp dụng cho tất cả những người
hành nghề kế toán và kiểm toán. Chuẩn mực này dựa trên các quy định chung của
Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp do Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC) ban hành và có
những văn bản hướng dẫn cụ thể việc áp dụng chuẩn mực.
Trang 21
2.4.2 Nội dung chuẩn mực
Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán gồm hai phần chính đó là
quy định chung và nội dung chuẩn mực.
2.4.2.1 Quy định chung
Quy định các nguyên tắc, nội dung và hướng dẫn áp dụng các tiêu chuẩn đạo
đức nghề nghiệp của người hành nghề kế toán, kiểm toán viên hành nghề và người làm
kế toán, kiểm toán trong các doanh nghiệp và tổ chức nhằm đảm bảo đạt được những