ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG QUỲNH HOA
PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ VỐN CỦA NHÀ NƯỚC
VÀO CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN
HÀ NỘI – 2013 LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội, Bộ môn Luật kinh doanh, Quý thầy cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, tạo
điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Văn Tuyến,
Trưởng Khoa sau đại học Trường Đại học Luật Hà Nội Hà Nội đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ, động viên, cung cấp tài liệu học tập và nghiên cứu,
mang lại những tri thức quý báu thiết thực giúp tôi hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều
kiện thuận lợi và có những ý kiến đóng góp quý báu cho tôi trong việc hoàn
thành luận văn.
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian có hạn, vốn kiến thức và
kinh nghiệm thực tiễn của bản thân còn hạn chế nên không thể tránh khỏi
những thiếu sót trong luận văn. Kính mong nhận được sự góp ý của Quý thầy
cô, đồng nghiệp và các bạn.
1.1.1.1.
Khái niệm đầu tư vốn của Nhà nước vào DN
6
1.1.1.2.
Đặc điểm của đầu tư vốn Nhà nước vào DN
7
1.1.1.3.
Vai trò của đầu tư vốn Nhà nước vào các DN
9
1.1.2.
Các yếu tố cấu thành hoạt động đầu tư vốn Nhà nước vào DN
11
1.1.2.1.
Chủ thể tham gia quan hệ đầu tư (gồm chủ thể đầu tư vốn Nhà
nước và chủ thể tiếp nhận vốn đầu tư)
11
1.1.2.2.
Nguồn vốn đầu tư của Nhà nước vào DN
12
1.1.2.3.
Cách thức chuyển vốn đầu tư của Nhà nước vào DN
15
1.1.2.4.
Hệ quả pháp lý của việc đầu tư vốn Nhà nước vào DN và các
vấn đề phát sinh trong quá trình đầu tư vốn vào DN
17
1.2.
Mô hình pháp luật về đầu tư vốn của Nhà nước vào DN
19
1.2.1
Thực trạng pháp luật về đầu tư vốn Nhà nước vào DN ở Việt Nam
29
2.1.1.
Về khái niệm vốn Nhà nước tại DN
29
2.1.2.
Chủ thể có thẩm quyền đầu tư vốn Nhà nước vào DN
32
2.1.2.1.
Về thẩm quyền quyết định đầu tư vốn Nhà nước vào DN
32
2.1.2.2.
Về thẩm quyền thực hiện đầu tư vốn Nhà nước vào DN
33
2.1.3.
Quy định về hình thức đầu tư
37
2.1.4.
Quy định về quy trình đầu tư
39
2.1.5.
Quy định về quản lý vốn trong quá trình đầu tư
41
2.1.6.
Quy định về thụ hưởng quyền lợi đầu tư
57
2.2.
Thực tiễn áp dụng pháp luật đầu tư vốn Nhà nước vào các DN ở
Việt Nam
60
80
3.2.1
Xây dựng và vận hành các cơ chế, chính sách phù hợp trong
điều kiện kinh tế thị trường đối với các DN có vốn đầu tư của
Nhà nước
80
3.2.2.
Nâng cao hiệu quả hoạt động của SCIC
83
3.2.3.
Tăng cường công tác giám sát vốn Nhà nước đầu tư vào DN
83
3.2.4.
Nâng cao chất lượng đội ngũ lãnh đạo DN, người ĐDCSH Nhà
nước tại DN
87
3.2.5.
Xứ lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình đầu
tư vốn Nhà nước vào DN
88
Kết luận Chương 3
89
KẾT LUẬN
90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
91
việc đưa ra chính sách, ban hành pháp luật để quản lý nền kinh tế, trực tiếp
đầu tư vốn để tham gia vào thị trường cũng là một kênh quan trọng để Nhà
nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế của mình, trong đó phải đặc biệt
chú ý đến hoạt động đầu tư vốn Nhà nước vào các DN.
Trong những năm gần đây, trước những yêu cầu của nền kinh tế thị
trường và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã có những thay đổi lớn
trong hoạt động đầu tư của Nhà nước, cùng với đó là việc từng bước xây
dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật để điều chỉnh về vấn đề này. Bên cạnh
những “mảng sáng” đáng ghi nhận, phải thừa nhận rằng hiện tại hoạt động
đầu tư vốn Nhà nước vào các DN còn rất nhiều bất cập. Đặc biệt, thời gian
gần đây xã hội đang rất quan tâm đến tình hình kinh doanh thua lỗ của các
tập đoàn, tổng CTNN. Tình trạng đầu tư vốn Nhà nước dàn trải, lãng phí,
không hiệu quả gây thất thoát lớn cho ngân sách Nhà nước đang đặt ra rất
nhiều vấn đề cần giải quyết.
Có thể thấy thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có
nguyên nhân do pháp luật điều chỉnh hoạt động này vừa “thiếu” vừa “yếu”,
chưa tạo ra được hành lang pháp lý vững chắc cho việc quản lý hoạt động đầu
tư vốn của Nhà nước vào các DN. Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả của
hoạt động đầu tư vốn Nhà nước vào các DN tại Việt Nam hiện nay, đòi hỏi
phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó việc hoàn thiện các quy định
của pháp luật tạo cơ chế pháp lý hiệu quả là yêu cầu có tính tiên quyết.
Xét về phương diện pháp luật thực định, hiện nay vấn đề đầu tư vốn
2
Nhà nước vào các DN được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật
khác nhau như: Luật DN, Luật Đầu tư, Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg ngày
20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Tổng công ty đầu tư và
kinh doanh vốn Nhà nước, Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 05/2/2009 của
Chính phủ ban hành Quy chế tài chính của CTNN và quản lý vốn Nhà nước
đầu tư vào DN khác, Nghị định số 99/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 của
Chính phủ về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ
Thủy, đăng trên http://laodong.com.vn hay bài viết “Cơ chế giám sát tài
chính, đầu tư vốn Nhà nước tại doanh nghiêp: Những vấn đề đặt ra”, đăng
trên Tạp chí tài chính
Đánh giá một cách khái quát, các công trình trên phần lớn tập trung
vào phân tích hoạt động đầu tư vốn của Nhà nước dưới góc độ kinh tế hoặc
chỉ đề cập đến hoạt động đầu tư vốn Nhà nước vào DNNN, mà trọng tâm là
các TĐKTNN. Đến nay, chưa có nghiên cứu tổng thể nào về hoạt động đầu
tư vốn của Nhà nước vào DN (bao gồm cả DNNN và các DN khác) dưới góc
độ là một hành vi pháp lý, từ đó làm rõ các nội dung như: Mối quan hệ pháp
lý giữa Nhà nước và DN có vốn đầu tư của Nhà nước, các quy định của pháp
luật về chủ thể đầu tư, hình thức, quy trình đầu tư, vấn đề quản lý vốn, giám
sát và xử lý vi phạm… Chính vì vậy, việc tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài
“Pháp luật về đầu tư vốn của Nhà nước vào các DN ở Việt Nam” có thể
được xem như là một công trình nghiên cứu có tính mới ở cấp độ luận văn
thạc sĩ ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận và thực
tiễn về đầu tư vốn Nhà nước vào DN và cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với
4
hoạt động đầu tư vốn của Nhà nước vào các DN ở Việt Nam hiện nay, từ đó
chỉ ra những thiếu sót, bất cập trong quy định của pháp luật hiện hành cũng
như thực tiễn áp dụng các quy định này trên thực tế để đề xuất các giải pháp
hoàn thiện pháp luật về đầu tư vốn của Nhà nước vào các DN ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là các quy định của pháp luật
Việt Nam điều chỉnh hoạt động đầu tư vốn của Nhà nước vào các DN, đặt
trong tổng thể hệ thống pháp luật hiện hành như Luật DN, Luật Đầu tư, Quyết
định số 151/2005/QĐ-TTg, Nghị định số 09/2009/NĐ-CP, Nghị định số
99/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012, Nghị định số 71/2013/NĐ-CP Ngoài ra,
đối tượng nghiên cứu của luận văn cũng bao gồm các quan điểm, học thuyết
những thiếu sót, bất cập của pháp luật về vấn đề này để có hướng hoàn thiện;
đánh giá được thực tiễn thi hành luật cũng như hiệu quả hoạt động thực tế của
các DN có vốn đầu tư của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
Thứ ba, luận văn đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư
vốn của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
6. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn kết cấu thành 3 chương, bao gồm:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về đầu tư vốn của Nhà nước vào DN
và pháp luật về đầu tư vốn của Nhà nước vào DN.
- Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về đầu
tư vốn của Nhà nước vào DN ở Việt Nam hiện nay.
- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đầu vốn
của Nhà nước vào DN ở Việt Nam.
6
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ VỐN NHÀ NƢỚC
VÀO DOANH NGHIỆP VÀ MÔ HÌNH PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƢ
VỐN NHÀ NƢỚC VÀO DOANH NGHIỆP
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ VỐN NHÀ NƯỚC
VÀO DOANH NGHIỆP
1.1.1. Bản chất của hoạt động đầu tƣ vốn của Nhà nƣớc vào DN
1.1.1.1. Khái niệm đầu tư vốn của Nhà nước vào DN
Để đưa ra được khái niệm đầu tư vốn của Nhà nước vào DN, trước hết
cần làm rõ các khái niệm có liên quan là “đầu tư”, “vốn” và “vốn đầu tư”.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “đầu tư” là việc bỏ nhân lực, vật lực, tài lực
vào công việc đó, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội [16, tr291].
Cũng theo Từ điển Tiếng Việt, “vốn” được hiểu là tổng thể nói chung những
tài sản bỏ ra lúc đầu, thường biểu hiện bằng tiền, dùng trong sản xuất kinh
1.1.1.2. Đặc điểm của đầu tư vốn Nhà nước vào DN
Từ những phân tích trên, có thể rút ra một số điểm đặc trưng của hoạt
động đầu tư vốn Nhà nước vào DN như sau:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hoạt động đầu tư vốn của Nhà nước vào
DN chính là Nhà nước - với tư cách là một tổ chức đặc biệt của quyền lực
chính trị [11, tr30] đồng thời cũng là một nhà đầu tư lớn trên thị trường
nhằm các mục đích điều tiết nền kinh tế và ổn định xã hội. Điểm khác biệt
giữa chủ thể đầu tư là Nhà nước với chủ thể đầu tư là các tổ chức, cá nhân
khác là ở chỗ, tuy là người trực tiếp bỏ vốn đầu tư vào DN nhưng Nhà nước
không trực tiếp tự mình quản lý DN mà thông qua các tổ chức, cá nhân là
8
người đại diện cho Nhà nước (ĐDCSH) để thực hiện các quyền của chủ sở
hữu đối với DN [4, tr17]. Đặc trưng này khiến cho chủ thể đầu tư là Nhà
nước khó kiểm soát nguồn vốn đầu tư, dẫn đến nguy cơ có khả năng thất
thoát vốn trong quá trình đầu tư vào DN.
Thứ hai, mục đích đầu tư vốn của Nhà nước vào DN không chỉ là tìm kiếm
lợi nhuận (giống như các chủ thể đầu tư khác) mà điều quan trọng hơn là thông
qua hoạt động này, Nhà nước thực hiện được vai trò điều tiết vĩ mô đối với nền
kinh tế và ổn định xã hội. Điều này xuất phát từ nhu cầu thực hiện các chức
năng cơ bản của Nhà nước, bao gồm chức năng kinh tế và chức năng xã hội.
Thật vậy, thông qua việc đầu tư vốn vào những ngành, nghề, lĩnh vực
then chốt, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội và quốc phòng,
Nhà nước thực hiện điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô [3, tr28].
Điều đó có nghĩa là hoạt động đầu tư, sử dụng vốn của Nhà nước luôn gắn với
nhiệm vụ cụ thể, vai trò định hướng nền kinh tế của quốc gia trong từng giai
đoạn, nhiệm vụ này không nằm ngoài chính sách phát triển kinh tế-xã hội,
chính sách đầu tư, chính sách tài chính tiền tệ quốc gia
Bên cạnh đó, thực hiện việc kinh doanh thông qua hoạt động đầu tư vốn
vào DN, Nhà nước còn mong muốn giảm bớt gánh nặng đóng góp của dân
chúng đối với Nhà nước thông qua các khoản thuế và các khoản cho vay. Các
Để thấy rõ điều này, cần làm rõ vai trò của hoạt động đầu tư vốn Nhà
nước vào DN trên tứng khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, đối với chính chủ thể đầu tư - Nhà nước: Như đã nói ở trên,
đầu tư vốn vào các DN là một kênh đặc biệt để Nhà nước thực hiện chức
năng kinh tế và chức năng xã hội của mình. Thông qua việc đầu tư, Nhà
nước chính thức trở thành một chủ thể tham gia thị trường. Với tiềm lực
10
kinh tế và các công cụ quản lý kinh tế, Nhà nước tác động, định hướng, điều
tiết nền kinh tế thông qua việc đầu tư vào các ngành, lĩnh vực đóng vai trò
thiết yếu, then chốt của nền kinh tế. Nói cách khác, đầu tư vốn là một hoạt
động cụ thể để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình đối với nền
kinh tế và đời sống xã hội.
Bên cạnh đó, là một chủ thể đầu tư kinh doanh, Nhà nước không thể
không quan tâm đến yếu tố lợi nhuận. Lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư
vốn vào các DN sẽ là nguồn thu bổ sung cho ngân sách Nhà nước để từ đó
giúp Nhà nước có năng lực tài chính tốt hơn nhằm thực hiện các chính sách
phát triển kinh tế, an sinh xã hội.
Thứ hai, đối với các chủ thể tiếp nhận vốn đầu tư – các DN: Việc Nhà
nước đầu tư vốn vào DN là cách để những DN này tăng cường năng lực tài
chính của mình, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường. Hơn nữa,
thực tế cũng đã chứng minh rằng trong nhiều năm qua, những DN có vốn đầu
tư của Nhà nước thường có nhiều lợi thế hơn trong việc tiếp cận các nguồn
vốn tín dụng từ hệ thống ngân hàng, cũng như lợi thế từ việc tiếp cận các
chính sách ưu đãi của Nhà nước về tài chính, lao động, đất đai và tài nguyên
môi trường so với các DN không có vốn đầu tư của Nhà nước. Đây cũng
chính là ảnh hưởng không mong muốn của việc đầu tư vốn Nhà nước vào các
DN vì nó có thể tạo ra tình trạng bất công bằng giữa các DN có vốn đầu tư
của Nhà nước với các DN không có vốn đầu tư của Nhà nước trên thị trường;
đồng thời, cũng đặt ra vấn đề cho các nhà quản trị chính sách công là phải làm
thế nào để cho Nhà nước vẫn có thể thực hiện đầu tư vốn hiệu quả vào DN mà
niệm đầu tư, có thể hiểu nhà đầu tư là người bỏ vốn, tài sản để trực tiếp thực
hiện hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi hoặc đầu tư để chủ thể khác
12
thực hiện hoạt động kinh doanh để chia lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh đó.
Với tư cách là chủ thể đầu tư, Nhà nước phải quan tâm đến việc đảm
bảo các lợi ích mà mình cần theo đuổi khi thực hiện hoạt động đầu tư vốn vào
DN, bao gồm: lợi ích từ việc thu lợi nhuận do đầu tư; lợi ích từ việc kiểm
soát, điều tiết và dẫn dắt các ngành kinh tế phát triển theo định hướng của
mình thông qua hoạt động đầu tư vốn trực tiếp vào những DN có vị trí thiết
yếu, then chốt trong nền kinh tế.
Với tư cách là chủ thể tiếp nhận vốn đầu tư của Nhà nước, các DN cũng
phải quan tâm đến các lợi ích cũng như các chi phí của mình khi tiếp nhận
vốn đầu tư từ Nhà nước, bao gồm các lợi nhuận có thể thu được từ việc tiếp
nhận và sử dụng nguồn vốn đầu tư của Nhà nước; các cơ hội và thách thức
mới phát sinh do tiếp nhận nguồn vốn đầu tư của Nhà nước; các chi phí bỏ ra
do việc tiếp nhận vốn đầu tư của Nhà nước như chi phí về trả lãi góp vốn cho
chủ thể đầu tư, chi phí do phải chịu sự kiểm soát trực tiếp của Nhà nước đối
với hoạt động quản lý và sử dụng vốn trong DN.
Lẽ đương nhiên, quan hệ đầu tư chỉ có thể hình thành trên cơ sở sự đồng
thuận của cả hai bên (bên đầu tư và bên tiếp nhận vốn đầu tư) mà nền tảng để
có được sự đồng thuận này chính là sự thống nhất về lợi ích giữa các bên khi
thiết lập quan hệ đầu tư. Vì vậy, để hoạt động đầu tư vốn của Nhà nước vào
DN trở nên dễ dàng và hiệu quả, được xã hội chấp nhận thì điều rất quan trọng
là Nhà nước không chỉ tính đến lợi ích của riêng mình mà cần phải tính đến và
quan tâm đến lợi ích của cả DN (với tư cách là đối tác tiếp nhận vốn đầu tư),
cũng như lường trước những tác động không mong muốn đến lợi ích của cộng
đồng xã hội và các DN khác không nhận được vốn đầu tư của Nhà nước.
1.1.2.2. Nguồn vốn đầu tư của Nhà nước vào DN
Nguồn vốn đầu tư nói chung được hiểu là các kênh tập trung và phân
phối vốn cho đầu tư phát triển đáp ứng nhu cầu chung của Nhà nước và xã
hỗ trợ sắp xếp và phát triển DN được ban hành kèm theo Quyết định số
21/2012/QĐ-TTg ngày 10/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ, các nội dung chi
của Quỹ bao gồm:
- Bổ sung vốn điều lệ cho các Công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế, Tổng
CTNN, DN 100% vốn sở hữu Nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính
phủ trên cơ sở đề nghị của Bộ Tài chính theo quy định của pháp luật;
- Đầu tư bổ sung vốn để duy trì hoặc tăng tỷ lệ phần vốn Nhà nước
đang tham gia tại các DN khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ trên
cơ sở đề nghị của Bộ Tài chính và cơ quan được giao thực hiện quyền
ĐDCSH vốn Nhà nước.
Ngoài hai nguồn tài chính nói trên, theo một số tài liệu [25] và một số
văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam, nguồn vốn đầu tư của
Nhà nước còn bao gồm các nguồn khác như: Vốn vay (vốn tín dụng do Nhà
nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước…), vốn đầu tư
của chính các DNNN… Tuy nhiên, theo ý kiến của tác giả thì không nên coi
những nguồn vốn này là vốn đầu tư của Nhà nước, bởi vì:
Một là, đối với nguồn vốn vay. Cùng với quá trình mở cửa, nguồn vốn
tín dụng của Nhà nước càng có vai trò quan trọng. Với việc sử dụng nguồn
vốn này, giúp giảm việc bao cấp trực tiếp ngân sách Nhà nước cho các DN.
Về nguyên tắc, vốn vay được thực hiện theo cơ chế tín dụng, tức các
đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo hoàn trả vốn vay. Quan hệ giữa
Nhà nước và các DN sẽ là quan hệ tín dụng. Trong quan hệ này, Nhà nước
đóng vai trò là bên cho vay, DN là bên vay và có nghĩa vụ đảm bảo hoàn trả
cho Nhà nước theo thời hạn đã định. Đây không phải quan hệ đầu tư như khái
niệm đầu tư đã phân tích ở trên.
Hai là, đối với nguồn vốn đầu tư của chính các DNNN. Là các DN có
15
phần vốn góp chi phối của Nhà nước, các DNNN nắm giữ lượng vốn khá lớn
và là một chủ thể tham gia đầu tư tích cực trên thị trường. Các DNNN tham
gia đầu tư vào các dự án, thành lập các công ty con, góp vốn đầu tư cùng các
Ở Việt Nam trước đây, do nhận thức rằng DNNN phải thuần túy thuộc
sở hữu Nhà nước nên Nhà nước đã chủ động tạo ra mối quan hệ có tính chất
bao cấp giữa Nhà nước và DN có vốn Nhà nước. Khi đó, vốn đầu tư của Nhà
nước được chuyển giao cho DN theo hình thức cấp phát. Nhà nước không
đóng vai trò là một nhà “đầu tư” theo đúng nghĩa trong mối quan hệ với DN
mà là bên “giao vốn”. Nhà nước giao cho DN trực tiếp quản lý, sử dụng vốn,
tài sản nhưng DN không có quyền sở hữu đối với tài sản đó. Chính vì sử dụng
tài sản không phải với tư cách là chủ sở hữu nên DN thiếu trách nhiệm, thiếu
chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn được Nhà nước giao cho. Đồng thời
để quản lý việc sử dụng vốn của DN, Nhà nước cũng phải can thiệp quá nhiều
vào hoạt động của DN, dẫn đến tình trạng quan hệ giữa Nhà nước và DNNN
bị hành chính hóa.
Hiện nay, với việc thay đổi nhận thức về DNNN, việc đầu tư vốn của
Nhà nước vào các DN đang dần dần được chuyển hóa theo xu hướng xác lập
quan hệ đầu tư. Thật vậy, với việc cho ra đời mô hình Tổng công ty đầu tư và
kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC), trong những năm gần đây việc đầu tư của
Nhà nước đã dần được chuyển từ cơ chế cấp phát vốn sang cơ chế đầu tư vốn.
Với cơ chế này, vốn đầu tư của Nhà nước vào DN sẽ được chuyển quyền sở
hữu cho DN theo nguyên tắc chung của Luật DN. Cụ thể là:
- Đối với tài sản có đăng ký hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì nhà đầu
tư phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất
cho DN tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;
17
- Đối với tài sản không đăng kí quyền sở hữu thì việc đầu tư vốn phải
được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản có xác nhận bằng biên bản; tài sản
đầu tư phải được định giá theo quy định của pháp luật.
Như vậy, với tư cách là chủ sở hữu vốn của DN, DN có quyền chủ động
trong việc sử dụng vốn, nâng cao tính lợi nhuận. Là nhà đầu tư, Nhà nước sẽ
tham gia quản lý, giám sát nguồn vốn với tư cách là chủ sở hữu DN, thành
viên hoặc cổ đông của DN.
và/hoặc cổ đông của CTCP.
Về phương diện lý thuyết, trong quá trình đầu tư vốn của Nhà nước vào
DN, có thể phát sinh một số vấn đề sau đây:
Thứ nhất, tăng vốn đầu tư: Trong quan hệ đầu tư nói chung, chủ thể đầu
tư có quyền tăng, giảm vốn đầu tư để phù hợp với mục đích và tình hình kinh
doanh của DN. Trong quá trình đầu tư, Nhà nước có thể quyết định tăng vốn
đầu tư thông qua việc bổ sung vốn điều lệ trong quá trình hoạt động của DN
hoặc tăng phần vốn góp của Nhà nước tại các DN khác. Về nguyên tắc, chủ
thể nào có quyền quyết định đầu tư vốn vào DN thì sẽ có quyền đầu tư tăng
hoặc giảm vốn đầu tư tại DN. Để đảm bảo việc tăng, giảm vốn đúng mục
đích, tạo điều kiện để DN phát triển, phải có phương án tăng vốn được cơ
quan có thẩm quyền quyết định.
Thứ hai, giảm vốn đầu tư, thu hồi toàn bộ vốn Nhà nước đầu tư tại DN.
Đối với những lĩnh vực, ngành nghề mà Nhà nước không cần duy trì 100%
vốn điều lệ hoặc không cần duy trì vốn góp, Nhà nước có thể thoái vốn đầu tư
thông qua việc giảm vốn hoặc thu hồi toàn bộ vốn đầu tư. Đây cũng là biện
pháp để thu hút thêm nguồn vốn đầu tư của các nhà đầu tư chiến lược khác.
Để đảm bảo việc giảm vốn, thu hồi vốn được minh bạch, không làm ảnh hưởng
19
đến sự tồn tại, hoạt động của DN thì việc giảm vốn, thu hồi vốn phải được
thực hiện thông qua cơ chế chuyển nhượng vốn theo quy định của pháp luật.
1.2. MÔ HÌNH PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ VỐN CỦA NHÀ NƯỚC
VÀO DOANH NGHIỆP
1.2.1. Bản chất mối quan hệ giữa Nhà nƣớc và DN có vốn đầu tƣ
của Nhà nƣớc
Xác định bản chất mối quan hệ giữa chủ đầu tư là Nhà nước với DN
tiếp nhận vốn đầu tư là vấn đề phức tạp, cần được tiếp cận cả từ góc độ kinh
tế và góc độ pháp lý.
Dưới góc độ kinh tế, khi xem xét bản chất mối quan hệ giữa chủ thể đầu
tư là Nhà nước và DN nhận vốn đầu tư của Nhà nước, cần nhận thức rằng đây