Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG HỆ
THỐNG CÁC DNNN.
I.Lý luận chung về đầu tư,đầu tư phát triển.
1.Khái quát về đầu tư,đầu tư phát triển
1.1.Đầu tư
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các
hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn
các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó. Như vậy, mục tiêu của mọi
công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về
nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư.
Nguồn lực phải hy sinh có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao
động và trí tuệ.
Đầu tư được chia làm ba loại chính:
- Đầu tư phát triển
- Đầu tư tài chính
- Đầu tư thương mại
Ba loại đầu tư này luôn luôn tồn tại và có quan hệ tương hỗ nhau. Đầu tư
phát triển để tăng tích lũy,phát triển đầu tư tài chính và đầu tư thương
mại.Ngược lại đầu tư tài chính và đầu tư thương mại hỗ trợ và tạo điều kiện
để tăng cường đầu tư phát triển.
1.2.Đầu tư phát triển
1.2.1 Khái niệm đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là bộ phận của đầu tư, là việc chi dùng vốn ở hiện tại để
tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật
chất (nhà xưởng thiết bị…) và tài sản trí tuệ (tri thức kỹ năng…), gia tăng
năng lực sản xuất, tạo nên việc làm và vì mục tiêu phát triển.
Đầu tư phát triển cần rất nhiều loại nguồn lực. Theo nghĩa hẹp, nguồn lực
cho đầu tư phát triển là tiền vốn. Theo nghĩa rộng, nguồn lực cho đầu tư phát
triển là tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên. Như vậy,
khi xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay đánh giá hiệu quả hoạt động của đầu
nâng cao đời sống các thành viên trong xã hội.
1.2.3 Đặc điểm đầu tư phát triển
- Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho đầu tư phát triển thường
rất lớn. Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình đầu tư. Quy
mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý,
xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt
chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư trọng
tâm trọng điểm.
- Thời kỳ đầu tư kéo dài. Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công xây dựng
dự án đến khi dự án hoàn thành và đi vào hoạt động. Nhiều công trình đầu tư
phát triển kéo dài hàng chục năm. Do vốn lớn lại khê đọng trong suốt quá
trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả sử vốn đầu tư, cần tiến hành
phân kỳ đầu tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm
từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc
phục tình trạng thiếu vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài. Thời gian vận hành các
kết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời
hạn sử dụng và đào thải công trình. Nhiều thành quả đầu tư phát huy tác
dụng lâu dài, có thể tồn tại vĩnh viễn như Kim Tự Tháp Ai Cập, Nhà Thờ La
Mã ở Rôm, Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc …. Trong suốt quá trình
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vận hành, các thành quả đầu tư chịu tác động của hai mặt, cả tích cực và tiêu
cực, của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị, xã hội…Để thích ứng với đặc điểm
này công tác quản lý hoạt động đầu tư cần chú ý một số nội dung sau:
+ Thứ nhất, cần xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học ở cả
cấp vĩ mô và vi mô về nhu cầu thị trường đối với sản phẩm đầu tư trong
tương lai, dự kiến khả năng cung từng năm và cả vòng đời dự án.
+ Thứ hai, quản lý tốt quá trình vận hành, nhanh chóng dưa các thành quả
đầu tư vào sử dụng, hoạt động tối đa công suất để nhanh chóng thu hồi vốn,
mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường cao. Rủi ro đầu tư do
nhiều nguyên nhân, trong đó, nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu… có nguyên nhân
khách quan nhu giá nguyên liệu tăng, giá sản phẩm giảm, công suất không
đatj công suất thiết kế…Ví dụ, để nghiên cứu tính khả thi về mặt thị trường,
chủ đầu tư phải nghiên cứu tình hình cung, cầu, giá cả… của sản phẩm dự
dịnh đầu tư của dự án. Với mức giá sản phẩm là 10000đồng/sản phẩm, dự án
xây dựng dòng tiền thu, chi và tính được tổng lợi nhuận thuần của cả vòng
đời dự án. Tổng lợi nhuận thuần cang lớn, quyết định đầu tư càng dễ dàng.
Tuy nhiên nếu khi dự án đi vào hoạt động, giá của sản phẩm giảm và chỉ là
5000 đ, thì trong các điều kiện khác không đổi, tổng lợi nhuận thuần của dự
án chỉ đạt 50% so với dự kiến ban đầu. Đây là rủi ro do giá bán sản phẩm
giảm. Như vậy, để quản lý hoạt động đầu tư có hiệu quả, cần thực hiện các
biện pháp quản lý ruỉ ro bao gồm:
+ Thứ nhất, nhận diện rủi ro đầu tư. Có nhiều nguyên nhân rủi ro, do vay,
việc xác định đúng nguyên nhân rủi ro sẽ là khâu quan trọng đầu tiên đẻ tìm
ra giả pháp phù hợp để khắc phục.
+ Thứ hai, đánh giá mức độ rủi ro. Rủi ro có khi xảy ra rất nghiêm trọng,
nhưng có khi chưa đến mức gây nên nhưng thiệt hại về kinh tế.Đánh giá
đúng mức độ rủi ro sẽ giúp ta đưa ra nhưng biện pháp phòng và chống phù
hợp.
+ Thứ ba, xây dựng các biện pháp phòng và chống rủi ro. Mỗi loại rủi ro
và mức độ rủi ro nhiều hay ít sẽ có biện pháp phòng và chống tương ứng
nhằm hạn chế đến mức thấp nhất có thể có do rủi ro này gây ra.
1.2.4 Nguồn vốn cho đầu tư phát triển
Nguồn lực để thực hiện đầu tư là vốn. Nội dung và nguồn gốc của vốn
là những vấn đề cốt lõi cần phải giải quyết của lý thuyết đầu tư phát
triển.Bản chất của đầu tư phát triển còn được thể hiện ở nội dung vốn và
động để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội. Nguồn vốn đầu tư phát triển
trên phương diện vĩ mô, bao gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước
ngoài. Nguồn vốn trong nước gồm: Vốn nhà nước, vốn dân doanh và vốn
trên thị trường vốn. Nguồn vốn nước ngoài bao gồm: Vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI), vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay thương
mại nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường vốn quốc tế. Trong mỗi thời kỳ
khác nhau, quy mô và tỷ trọng vốn của từng nguồn vốn có thể thay đổi
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhưng để chủ động phát triển KTXH của quốc gia theo định hướng chiến
lược và kế hoạch đặt ra, cần nhất quán quan điểm: xem vốn trong nước giữ
vai trò quết định, vốn nước ngoài là quan trọng.
II.LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC (DNNN).
1.Khái niệm chung về DNNN
Trên cơ sở Nghị quyết Trung ương Ba, khóa IX, Luật DNNN năm
2003, tại Điều 1 đã quy định: "DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu
toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới
hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn".
Đó là những doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc giữ
hơn 50% vốn điều lệ. DNNN được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước,
công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, trong đó:
1 - DNNN có 100% vốn Nhà nước hoạt động theo Luật DNNN mới (năm
2003) được gọi là Công ty nhà nước (để phân biệt với DNNN có 100% vốn
nhà nước hoạt động theo các luật khác);
2 - Công ty cổ phần, công ty TNHH một hoặc hai thành viên trở lên có
100% vốn Nhà nước hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;
3 - Công ty cổ phần, Công ty TNHH hai thành viên trở lên có cổ phần chi
phối hoặc vốn góp chi phối của Nhà nước hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Do khái niệm DNNN được mở rộng hơn trước đây, cho nên, nếu dùng
2.Các nội dung cơ bản của đầu tư phát triển trong DNNN.
Theo khái niệm, nội dung đầu tư phát triển bao gồm: Đầu tư những tài
sản vật chất (tài sản thực) và đầu tư những tài sản vô hình. Đầu tư phát triển
các tài sản vật chất gồm: đầu tư tài sản cố định (đầu tư xây dựng cơ bản) và
đầu tư vào hàng tồn kho. Đầu tư phát triển tái sản vô hình gồm các nội dung:
đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đầu tư nghiên cứu triển khai các
hoạt động khoa học-công nghệ-kĩ thuật, đầu tư xây dựng thương hiệu-quảng
cáo…
2.1. Đầu tư xây dựng cơ bản
Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư nhằm tái tạo tài sản cố định
của doanh nghiệp. Đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm các hoạt động chính
như: Xây lắp và mua sắm máy móc thiết bị. Trong doanh nghiệp đặc biệt
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, để các hoạt động diễn ra bình thường đều
cần xây dựng nhà xưởng, kho tàng, các công trình kiến trúc, mua và lắp đặt
trên nền bệ các máy móc thiết bị… Hoạt động đầu tư này đòi hỏi vốn lớn và
chiếm tỉ trọng cao trong tổng vốn đầu tư phát triển của đơn vị.
2.2. Đầu tư bổ sung hàng tồn trữ.
2.2.1 Khái niệm
Hàng tồn trữ trong doanh nghiệp là toàn bộ nguyên-nhiên vật liệu, bán
thành phẩm và sản phẩm hoàn thành được tồn trữ trong doanh nghiệp. Tùy
theo loại hình doanh nghiệp, quy mô và cơ cấu các mặt hàng tồn trữ cũng
khác nhau. Nguyên vật liệu là một bộ phạn hàng tồn trữ không thể thiếu của
doanh nghiệp sản xuất nhưng lại không có trong doanh nghiệp thương mại
dịch vụ. Tỉ trọng đầu tư vào hàng tồn trữ trong tổng vốn đầu tư phát triển
của doanh nghiệp thương mại thường cao hơn các loại hình doanh nghiệp
khác. Do vậy xác định quy mô đầu tư hàng tồn trữ tối ưu cho doanh nghiệp
là rất cần thiết.
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
*Vai trò của dự trữ
- Nội dung của chi phí dự trữ hàng :
+ Chi phí về kho hàng (lệ phí kho bãi, bảo hiểm kho hàng…)
+ Chi phí sử dụng thiết bị (điện nước
+ Chi phí về nhân lực (tiền công của bảo vệ, giám sát tư
vấn…)
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Lệ phí đầu tư vào hàng dự trữ lãi suất tiền vay
+ Những hao hụt được phép.
- Đặc điểm chi phí dự trữ là thay đổi tỷ lệ thuận với quy mô đặt hàng.
2.3. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế và
doanh nghiệp. Chỉ có nguồn nhân lực chất lượng cao mới đảm bảo dành
thắng lợi trong cạnh tranh. Do vậy, đầu tư nâng cao chất lượng nhân lực là
rất cần thiết. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm: đầu tư cho hoạt
động đào tạo (chính quy, không chính quy, dài hạn, ngắn hạn, bồi dưỡng
nghiệp vụ….) đội ngũ lao động; đầu tư cho công tác chăm sóc sức khỏe-y tế;
đầu tư cải thiện môi trường-điều kiện lao động của người lao động…Trả
lương đúng và đủ cho người lao động cũng được xem là hoạt động đầu tư
phát triển. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp bắt đầu từ
khâu tuyển người lao động. Đây là cơ sở để có được lực lượng lao động tốt,
bởi vậy khâu tuyển người đòi hỏi cần phải rất khắt khe cẩn thận nhất.Tuyển
người hiện nay đòi hỏi phải đạt được các yêu cầu như : Trình độ văn hoá ,
ngoại ngữ, trình độ vi tính …Tiếp đến là quá trình nâng cao khả năng lao
động của người lao động thường xuyên.Trong điều kiện đổi mới hiện nay rất
nhiều công nghệ hiện đại đã và đang được ứng dụng trong các loại hình
doanh nghiệp nước ta.Vì vậy việc đào tạo lao động là yêu cầu vô cùng quan
trọng .Cuối cùng là việc khen thưởng tổ chức các hoạt động về tinh thần
giúp người lao động hăng say trong công việc từ đó nâng cao năng suất lao
động. Các hinh thức khen thưởng đang được thực hiện ở các doanh nghiệp
hoá được vừa có thể không lượng hoá được. Do đó kết quả của đầu tư cho
nghiên cứu và triển khai có thể được thể hiện dưới dạng hiện hoặc dưới dạng
ẩn tuỳ theo dự án, chương trình nghiên cứu.
Tóm lại có thể nói đầu tư cho nghiên cứu triển khai đóng vai trò quan
trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Các chương trình
và dự án R&D gắn chặt với chiến lược kinh doanh giúp các doanh nghiệp
đạt được các mục tiêu ngắn hạn cũng như dài hạn về kinh tế cũng như các
ảnh hưởng khác.
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.5. Đầu tư cho hoạt động marketing.
Thứ nhất là : đầu tư cho việc nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp
trước hết là nghiên cứu khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.Có thể nói
cạnh tranh là một đặc tính cơ bản nhất của thị trường của doanh nghiệp, sẽ
không có thị trường nếu không có cạnh tranh, trong môi trường cạnh tranh
hoàn hảo mục tiêu của doanh nghiệp, người tiêu dùng là tối đa hoá lợi nhuận
và sự tiện ích của chính mình, khả năng cạnh tranh là nguồn năng lượng
thiết yếu để doanh nghiệp tiếp tục vững bước trên con đường hội nhập kinh
tế.
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thực tế cho thấy doanh nghiệp kinh doanh thành công thực hiện các kĩ
năng cạnh tranh rất thuần thục, nó tạo thành phương pháp cạnh tranh đặc
trưng của doanh nghiệp
Các kĩ năng này tập trung vào :
-Tạo lập và phát triển uy tín doanh nghiệp
-Coi trọng chiến lược mở rông thị trương
-Xây dựng và thực hiện đổi mới sản phẩm , mẫu mã
-Luôn tìm cách giảm chi phí sản xuất
-Sách lược tiêu thụ sản phẩm khôn khéo
Số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm
31/12 hàng năm phân theo loại hình doanh nghiệp ở nước ta có thể được thể
hiện qua bảng số liệu tóm lược sau:
2001 2002 2003 2004 2005
Tổng số 51680 62908 72012 91755 112952
DNNN 5355 5363 4845 4596 4086
+ Trung ương 1997 2052 1898 1967 1825
+ Địa phương 3358 3311 2947 2629 2261
Cơ cấu %
DNNN 10,36 8,52 6,73 5,01 3,62
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Trung ương 3,86 3,26 2,64 2,14 1,62
+ Địa phương 6,50 5,26 4,09 2,87 2,00
(Nguồn: Niên giám thống kê 2006)
Từ bảng số liệu chúng ta thấy rằng số lượng các DNNN có xu hướng
ngày càng giảm và điều này hoàn toàn phù hợp. Xét về lý thuyết, khu vực
DNNN trong nền kinh tế thị trường không cần có tỷ trọng cao mà chỉ cần
chiếm giữ những vị trí then chốt. Lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn cho
thấy, tỷ trọng DNNN được coi là quá lớn khi vượt quá giới hạn 20-25% và
quá nhỏ khi ở dưới mức 5% GDP. Trong thời kỳ chuyển đổi cần khẳng định
vai trò chủ đạo của DNNN nhưng xét về lâu dài DNNN sẽ giữ vai trò nòng
cốt, là một trong những công cụ điều tiết vĩ mô. Xét về cơ cấu sở hữu,
DNNN là một bộ phận quan trọng, cùng với các bộ phận sở hữu khác phát
triển bình đẳng và cạnh tranh với nhau.
Trong những năm vừa qua, phần lớn các DNNN được sắp xếp lại theo
hướng cổ phần hóa đã nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm đối với nền
kinh tế, sản xuất kinh doanh đã có lãi, nhiều DN đã mạnh dạn đầu tư đổi mới
công nghệ, máy móc thiết bị để nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản
phẩm, khắc phục tình trạng lỗ lũy kế và có vốn tích lũy để tái sản xuất mở
qua các thời kỳ (từ 67,13% xuống 54,96%) - điều này là hoàn toàn hợp lý và
phù hợp với yêu cầu của tiến trình cổ phần hóa các DNNN tuy nhiên là tỷ
trọng này vẫn còn khá cao, cần tiếp tục điều chỉnh giảm.
SỐ DNNN HOẠT ĐỘNG LỖ - LÃI QUA CÁC THỜI KỲ
Năm 2000 2001 2002
Tổng số DN 41310 47838 60496
DNNN có lãi
Số DN 4539 4249 4450
Tổng mức lãi(Tỷ đồng) 20865 23557 29131
Lãi bình quân 1DN(Triệu đồng) 4597 5544 6546
DNNN lỗ
Số DN 1005 894 787
Tổng mức lỗ(Tỷ đồng) -3299 -3411 -3171
Lỗ bình quân 1DN(Triệu đồng) -3283 -3815 -4030
So với tổng
số DN (%)
Số DN lãi 78.82 79.35 82.96
Số DN lỗ 17.45 16.69 14.67
( Nguồn : Tổng cục thống kê)
Đi sâu vào phân tích hoạt động sử dụng vốn vào SXKD, và quan
trọng hơn là mảng sử dụng vốn cho hoạt động đầu tư phát triển của các
DNNN nhà nước, chúng ta có thể bắt gặp một số tồn tại cơ bản sau:
1.Về đầu tư xây dựng cơ bản.
Xây dựng cơ bản luôn là quá trình đi tiên phong của bất cứ quá trình
đầu tư nào. Nó tạo ra các cơ sở vật chất mới làm tiền đề cho việc tiến hành
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Quyết toán chi ngân sách nhà nước (tóm lược)
15