LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thị trường của Việt Nam càng phát triển, các mối quan hệ kinh tế nảy
sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh càng trở nên phong phú và đa dạng, tạo ra
nhiều thách thức trong cạnh tranh. Đồng thời, cũng tạo ra những thời cơ mới, tiềm
năng mới đòi hỏi doanh nghiệp phải đẩy nhanh quá trình sản xuất kinh doanh đồng
thời phải nhạy bén, linh hoạt, chớp thời cơ, tận dụng mọi khả năng về nguồn lực sẵn
có đẩy mạnh các hoạt động tài chính và các hoạt động khác. Hoạt động tài chính là
các hoạt động đầu tư vốn vào các lĩnh vực kinh doanh khác, ngoài hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm mục đích mở rộng cơ hội thu lợi nhuận cao và
hạn chế rủi ro hoạt của hoạt động tài chính doanh nghiệp. Hoạt động đầu tư tài chính
và hoạt động khác có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo ra doanh thu, nâng cao tổng mức
lợi nhuận cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Đặc biệt là
hoạt động đầu tư tài chính, cơ sở tạo ra nguồn lợi tức vừa trước mắt vừa lâu dài cho
doanh nghiệp. Trên góc độ toàn nền kinh tế, đầu tư tài chính giữa các doanh nghiệp
phát triển có tác dụng điều phối từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác, đạt
mức lợi nhuận cao hơn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp. Doanh
nghiệp có thể điều chỉnh và phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý hơn. Bởi vậy,
việc xem xét hoạt động đầu tư tài chính một cách sâu sắc nhằm cung cấp thông tin để
đầu tư hoạt động tài chính đạt kết quả kinh tế cao là một vấn đề hết sức cần thiết. Để
có thể cung cấp thông tin một cách nhanh chóng, chính xác thì kế toán hoạt động đầu
tư tài chính trong doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng. Kế toán ghi nhận đầy đủ,
kịp thời cung cấp thông tin cho nhà quản lý, nhà đầu tư có thể ra quyết định hợp lý.
Dưới đây là một số xem xét, đánh giá chế độ kế toán đầu tư hoạt động tài chính
và vận dụng chế độ của em nhằm hoàn thiện kế toán đầu tư hoạt động tài chính trong
các doanh nghiệp tại Việt Nam. Đây là mảng đề tài lớn, trong phạm vi 25 trang em
xin trình bày về chế độ hạch toán chứng khoán: đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn
gồm các khoản đầu tư vào công ty con, công ty liên kết, cơ sở kinh doanh đồng kiểm
soát mà doanh nghiệp nắm giữ dưới 20 % quyền biểu quyết.
Nội dung bài viết gồm hai phần:
1
Phần I: Cơ sở lý luận về kế toán đầu tư hoạt động tài chính.
động đầu tư chứng khoán. Các nhà đầu tư, các nhà quản lý cần nắm bắt thông tin một
cách chính xác, ra những quyết định hợp lý, để thu được lợi nhuận cao. Báo cáo tài
chính là tài liệu tiên quyết để nhà đầu tư ra quyết định vì vậy vai trò của kế toán là rất
quan trọng. Báo cáo tài chính phải tuân theo những chuẩn mực kế toán quốc tế và
chuẩn mực kế toán Việt Nam.
3
II. Chuẩn mực kế toán quốc tế về đầu tư tài chính
Chuẩn mực kế toán quốc tế là điều kiện để đảm bảo các doanh nghiệp, tổ chức
trên toàn thế giới áp dụng các nguyên tắc kế toán thống nhất trong công tác kế toán,
lập báo cáo tài chính.
Các chuẩn mực kế toán quốc tế về hạch toán đầu tư tài chính:
IAS 28: Kế toán các khoản đầu tư trong các đơn vị liên kết tài chính
cung cấp cho người sử dung những thông tin liên quan đến lợi ích của các nhà đầu tư
trong khoản thu nhập, những tài sản và nợ cơ bản của đơn vị được đầu tư.
IAS 32 và IAS 39 đã được ban hành thành những chuẩn mực riêng
nhưng trong thực tiễn được áp dụng như một đơn vị do hai chuẩn mực này xử lý các
trường hợp kế toán giống hệt nhau. IAS 39 quy định cho việc ghi nhận và tính toán
các công cụ tài chính, ngoài ra còn có một số nội dung công bố bổ sung cho những
nội dung theo yêu cầu của IAS 32.
IAS 32: Các công cụ tài chính công bố và trình bày
Mục đích của IAS 32 là đưa ra các quy định và yêu cầu trình bày các loại công
cụ tài chính, cả những loại được ghi nhận và chưa được ghi nhận. Theo chuẩn mực,
một công cụ tài chính là bất cứ hợp đồng nào mang lại một tài sản tài chính cho
doanh nghiệp và một khoản nợ tài chính hoặc công cụ vốn cổ phần cho một doanh
nghiệp khác:
Đưa ra các yêu cầu cho việc trình bày các công cụ tài chính trong
bảng tổng kết tài sản,
Xác định các thông tin cần được công bố về các công cụ tài chính
(được ghi nhận) và cả ngoài bảng (chưa được ghi nhận).
Chuẩn mực quy định: một tài sản tài chính là bất cứ tài sản nào là:
Nội dung cơ bản:
Những khái niệm cơ bản:
- Cổ phiếu tiềm năng.
- Đảm bảo và chọn lựa.
- Thu nhập cơ bản.
5
- Thu nhập suy giảm.
- Số cổ phiếu bình quân gia quyền.
Xác định thu nhập cơ bản trên một cổ phiếu.
Xác định số cổ phiếu thường bình quân gia quyền.
Xác định thu nhập suy giảm trên một cổ phiếu.
Thu nhập cơ bản có thể được điều chỉnh theo ảnh hưởng sau thuế của những
khoản dưới đây liên quan tới các chi phí thường tiềm tàng làm giảm thu nhập.
- Cổ tức trong kỳ
- Lãi trong kỳ
- Những thay đổi khác về thu nhập hoặc chi phí do có sự chuyển đổi cổ
phiêú
III. Chuẩn mực kế toán Việt Nam về đầu tư tài chính
3.1 Chuẩn mực kế toán số 14: Doanh thu và thu nhập khác
Chuẩn mực kế toán là quy định những nguyên tắc và phương pháp, kế toán cơ bản
làm cơ sở cho việc ghi chép kế toán và lập báo cáo tài chính. Theo chuẩn mực kế
toán Việt Nam, hạch toán chứng khoán tuân theo chuẩn mực kế toán số 14: Doanh
thu và thu nhập khác (ban hành và công bố theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC
ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ tài chính). Mục đích của chuẩn mực này là quy
định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập
khác gồm: các loại doanh thu, thời điểm ghi nhận doanh thu, phương pháp kế toán
doanh thu và thu nhập khác làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.
Theo chuẩn mực, doanh thu phát sinh từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi
nhuận được chia của doanh nghiệp được ghi nhận khi thoả mãn đồng thời 2 điều kiện
sau:
EPS cơ bản = lãi chia cho cổ đông / số lượng CP đang lưu hành bình quân trong
kỳ.
Lãi chia cổ đông được tạm tính từ mức lãi sau thuế trừ cho lãi phải trả cho cổ
đông cổ phiếu ưu đãi và phần chia cho đối tác trong liên doanh, góp vốn khác. Chưa
7
trừ phần trích lập các quỹ (Quỹ dự phòng tài chính, đầu tư phát triển,…) nếu chưa có
quy định của pháp luật.
Chuẩn mực quy định: cổ tức của cổ phiếu ưu đãi được trừ khỏi lợi nhuận hoặc
lỗ sau thuế để tính lãi cơ bản trên cổ phiếu, gồm:
Cổ tức của cổ phiếu ưu đãi không lũy kế được thông báo trong kỳ báo cáo;
Cổ tức của cổ phiếu ưu đãi lũy kế phát sinh trong kỳ báo cáo (kể cả trường hợp
chưa được thông báo).
Cổ phiếu ưu đãi có mức cổ tức thấp để bù đắp lại việc doanh nghiệp bán cổ
phiếu ưu đãi ở mức giá có chiết khấu, hoặc có mức cổ tức cao để bù đắp cho nhà đầu
tư do việc mua cổ phiếu ưu đãi ở mức giá có phụ trội.
Số lượng cổ phiếu phổ thông được sử dụng để tính lãi cơ bản trên cổ phiếu là
số bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ. Việc sử dụng
số bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ là do giá trị
vốn cổ đông thay đổi trong kỳ khi số lượng cổ phiếu phổ thông lưu hành tăng hoặc
giảm.
Cổ phiếu phổ thông được tính vào số bình quân gia quyền của cổ phiếu kể từ
ngày có thể nhận được khoản thanh toán cho cổ phiếu đó (thông thường là ngày phát
hành). Thời điểm tính cổ phiếu phổ thông được xác định theo các điều khoản và điều
kiện gắn kèm với việc phát hành cổ phiếu, doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ lưỡng bản
chất của các hợp đồng liên quan tới việc phát hành cổ phiếu.
Số bình quân gia quyền cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ hiện
tại và tất cả các kỳ trình bày phải được điều chỉnh cho các sự kiện (trừ việc
chuyển đổi cổ phiếu phổ thông tiềm năng) tạo ra sự thay đổi về số lượng cổ phiếu
phổ thông mà không dẫn đến thay đổi về nguồn vốn. Cổ phiếu phổ thông có thể
tăng hoặc giảm mà không cần có sự thay đổi tương ứng về nguồn vốn
- Lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông được tính
trên cơ sở thông tin hợp nhất.
- Số cổ phiếu bình quân lưu hành trong kỳ của Công ty mẹ;
9
- Lãi cơ bản trên cổ phiếu trình bày trên cơ sở thông tin hợp nhất.
Nếu trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh riêng:
- Lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công
ty cổ phần độc lập.
- Số cổ phiếu bình quân lưu hành trong kỳ của Công ty cổ phần độc lập.
- Lãi cơ bản trên cổ phiếu của công ty cổ phần độc lập.
Trình bày trên Bản thuyết minh báo cáo tài chính: Để thuyết minh cho
các chỉ tiêu trình bày trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, trong Bản thuyết
minh báo cáo tài chính, công ty cổ phần trình bày bổ sung các thông tin sau:
- Lãi cơ bản trên cổ phiếu Năm nay Năm trước
+ Lợi nhuận kế toán sau thuế thu nhập doanh nghiệp
+ Các khoản điều chỉnh tăng hoặc giảm lợi nhuận kế
toán để xác định lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ
đông sở hữu cổ phiếu phổ thông:
Các khoản điều chỉnh tăng
Các khoản điều chỉnh giảm
+ Lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ
phiếu phổ thông
+ Cổ phiếu phổ thông đang lưu hành bình quân trong
kỳ
+ Lãi cơ bản trên cổ phiếu
...
...
...
đồng giám giám tài chính công ty cổ phần - cơ quan chuyên trách kiểm tra, giám sát,
ra hình thức kỷ luật đối với các công ty tài chính trong vai trò là nhà kiểm toán cho
các công ty cổ phần. Nó cung cấp cho các công tố viên và các cơ quan quản lý những
công cụ mới, giúp tăng cường công tác quản lý doanh nghiệp, nâng cao trách nhiệm
cũng như mức độ công khai hóa của các doanh nghiệp nhằm bảo vệ người lao động
và các cổ đông. Những cải cách chính được chứa đựng trong Sarbanes-Oxley có thể
chia một cách khái quát thành ba nhóm. Thứ nhất, luật này bao hàm những cải cách
quan trọng nhằm vào việc cải thiện hoạt động và khôi phục lòng tin đối với nghề kiểm
toán. Luật này chấm dứt cơ chế tự quản của nghề kiểm toán khi liên quan đến việc kế
toán báo cáo tài chính của các công ty cổ phần hữu hạn. Thứ hai, luật này tạo ra
những công cụ mới để hiệu lực hóa pháp luật chứng khoán. Ủy ban Chứng khoán và
Hối đoái Hoa Kỳ đã sử dụng những công cụ này nhằm mở rộng phạm vi chương
trình thực thi pháp luật. Thứ ba, luật này đặt ra một số quy định mới nhằm cải thiện
11