Pháp luật về hợp đồng điện tử ở Việt Nam Luận văn Ths. Luật học - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
Đỗ Thị Thu Hằng

PH¸p luËt vÒ hîp ®ång ®iÖn tö ë viÖt nam
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Như Phát.
2.2. Giao kết hợp đồng điện tử 40
2.2.1. Đề nghị và chấp nhận giao kết hợp đồng điện tử 41

2
2.2.2. Xác định thời điểm giao kết hợp đồng: 43
2.2.3. Địa điểm giao kết hợp đồng điện tử. 47
2.2.4. Năng lực pháp lý của chủ thể tham gia giao kết hợp đồng điện tử 48
2.2.5. Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử 52
2.3. Các vấn đề pháp lý trong quá trình thực hiện hợp đồng điện tử 58
2.3.1. Thanh toán điện tử 58
2.3.2. Vấn đề thuế 63
2.3.3. Vấn đề hải quan 65
2.3.4. Giải quyết tranh chấp trong hợp đồng điện tử 67
2.3.5. Đảm bảo bí mật và bảo vệ người tiêu dùng 72
2.3.6. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 75
Chƣơng 3 - ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM 80
3.1. Nhu cầu điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực hợp đồng điện tử ở Việt
Nam 80
3.2. Kinh nghiệm nước ngoài về xây dựng khung pháp luật cho hợp đồng
thương mại điện tử 81
3.2.1 Kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế và một số quốc gia 81
a) Uỷ ban Pháp luật thương mại của Liên Hợp quốc (UNCITRAL) : 81
b) Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): 82
c) Hoa Kỳ 83
d) Singapore 85
3.2.2 Một số nhận xét 87
3.3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng điện tử ở Việt
Nam 88


địa lý, thu hẹp toàn cầu thành một thị trường chung, phi biên giới.
Ở các nước phát triển, trước những yêu cầu đòi hỏi mạnh mẽ của việc
ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thương mại, với bề dày truyền
thống trong lĩnh vực thương mại, không những chỉ giới hạn trong phạm vi

5
quốc gia mà còn hướng mạnh ra thị trường quốc tế, đã từng bước xây dựng
cho mình những quy định của pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh
trong lĩnh vực thương mại điện tử. Vì vậy, cho đến nay, những nước này đã
có một hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh điều chỉnh các vấn đề về
thương mại nói chung và thương mại điện tử nói riêng. Ngoài ra, những nước
phát triển cũng đã đóng góp phần quan trọng cùng các quốc gia khác xây
dựng, hành thành các hệ thống pháp luật quốc tế có liên quan đến các lĩnh vực
thương mại điện tử, tạo ra khuôn khổ pháp lý thống nhất trên phạm vi quốc tế,
nhằm thúc đẩy mạnh mẽ cho sự phát triển của thương mại toàn cầu.
Đối với nước ta, thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện đất nước,
trong những năm qua, Nhà nước ta đã thực hiện việc chuyển đổi mạnh mẽ nền
kinh tế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường, định hướng
xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình đó, nền kinh tế nước ta đã từng bước hội
nhập sâu rộng nền kinh tế quốc tế và khu vực, tham gia vào các thị trường
chung với những “luật chơi chung”. Các hoạt động thương mại được chú
trọng, thúc đẩy mạnh mẽ cả đổi với các giao lưu trong nước và quốc tế. Vì
vậy, trong thời gian qua, Nhà nước ta đã nỗ lực sửa đổi, bổ sung, xây dựng,
hoàn thiện môi trường pháp lý đáp ứng yêu cầu quá trình chuyển đổi đó theo
hướng hội nhập, hợp tác, phát triển, cùng có lợi. Công tác xây dựng pháp luật
được ưu tiên cho công tác hoàn thiện thể chế nền kinh tế thị trường, phát huy
nội lực, tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đảm bảo thực hiện có
hiệu quả các thoả thuận, cam kết quốc tế.
Trong lĩnh vực thương mại điện tử, trong những năm gần đây, Nhà
nước ta đã tập trung xây dựng nhiều văn bản quy phạm pháp luật có giá trị

mại điện tử nói chung là hết sức cần thiết, cần được quan tâm hơn nữa của
giới khoa học trong và ngoài nước.

7
Trong những vấn đề nêu trên, chế định hợp đồng điện tử được xem là
một trong những nội dung quan trọng có tính chất nền tảng, then chốt để hình
thành nên các quy định khác có liên quan. Tuy nhiên, cho đến nay, còn thiếu
những chuyên đề nghiên cứu một cách đầy đủ, sâu sắc các khía cạnh của vấn
đề này. Chính vì vậy, đề tài “Pháp luật về hợp đồng điện tử ở Việt Nam”
được chọn làm đề tài tốt nghiệp chương trình Thạc sỹ Luật học chuyên ngành
Kinh tế, với mong muốn đóng góp một phần vào việc giải quyết cơ sở lý luận
và thực tiễn phục vụ cho công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
về thương mại điện tử ở nước ta.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thương mại điện tử nói chung và hợp đồng điện tử nói riêng là một
trong các lĩnh vực mới, chưa được đề cập nhiều tại Việt Nam. Các nội dung
đang dần từng bước được nghiên cứu, tìm hiểu. Ở trong nước, đa phần các đề
tài nghiên cứu khoa học liên quan đến vấn đề này đều tập trung vào góc độ
kinh tế, kỹ thuật thương mại điện tử, chưa có đề tài nào đề cập đến khía cạnh
pháp lý của vấn đề dưới góc độ xem xét tính chất đặc biệt của các giao dịch
thương mại điện tử. Vấn đề hợp đồng điện tử hầu như chưa được đề cập,
nghiên cứu đầy đủ, toàn diện, sâu sắc. Ở nước ngoài, vấn đề hợp đồng điện tử
đã được nghiên cứu nhiều hơn, đặc biệt ở những nước phát triển, có truyền
thống thưong mại và phát triển nhanh chóng công nghệ thông tin. Tuy nhiên,
do sự khác nhau về trình độ phát triển, đặc điểm văn hoá, truyền thống pháp
luật nên những kết quả nghiên cứu nói trên của các nước phát triển phải được
nghiên cứu, chọn lọc, tiếp thu cho phù hợp với điều kiện Việt Nam. Có thể
nói, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về hợp đồng điện tử ở nước ngoài
là nguồn tài liệu quý báu đối với công tác nghiên cứu cùng về nội dung này
đối với Việt Nam, song đòi hỏi cần có những phân tích, đối chiếu, so sánh

9
đồng điện tử; (ii) sự hình thành và phát triển các quan điểm của Việt Nam về
thương mại điện tử, (iii) các nội dung của hợp đồng điện tử, (iv) những thuận
lợi và thách thức trong quá trình phát triển thương mại điện tử. Trong quá
trình nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích, đối chiếu, so sánh
các quy định của pháp luật Việt Nam và các quy định pháp luật quốc tế về
thương mại điện tử, trên cơ sở đó, kiến nghị xây dựng, hoàn thiện chế định
hợp đồng điện tử trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đảm bảo sự phù hợp với
các điều kiện thực tế của nước ta, sự tương thích đối với các quy định chung
của pháp luật quốc tế.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: so sánh,
tổng hợp, phân tích, nhằm làm rõ những vấn đề cần được nghiên cứu, sau
khi đã được nhìn nhận từ những góc độ khác nhau, góp phần đảm bảo tính
khách quan của những đề xuất, phù hợp với những điều kiện thực tiễn của
Việt Nam trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế. Trong số các phương pháp
sử dụng, luận văn đặc biệt lưu ý tới phương pháp so sánh vì nó cho phép nhìn
nhận vấn đề một cách đầy đủ, cụ thể hơn trên cơ sở đối chiếu, tiếp thu có
chọn lọc kinh nghiệm quốc tế. Điều này là hết sức cần thiết trong điều kiện
hiện nay đối với Việt Nam, đây là lĩnh vực còn khá mới mẻ trong khi đó
chúng ta cần thiết phải nỗ lực, nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật
thương mại đảm bảo phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế, đáp ứng
yêu cầu hội nhập nền kinh tế quốc tế như đã cam kết.
5. Kết cấu luận văn
Luận văn được trình bày gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
Mở đầu

10
Chương 1: Lý luận chung về thương mại điện tử
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng điện tử ở Việt Nam.

cho khách hàng.

12
Dưới góc độ trực tuyến, thương mại điện tử cung cấp khả năng tiến
hành các hoạt động mua bán hàng hóa, trao đổi thông tin trực tiếp trên
internet cùng nhiều dịch vụ trực tuyến khác.
Thương mại điện tử có thể được hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ các
giao dịch mang tính thương mại được các bên tham gia thực hiện thông qua
các phương tiện điện tử từ điện thoại, telex, facimile, hệ thống thanh toán và
chuyển tiền điện tử… tới các máy tính kết nối với nhau trong một mạng lưới
kín hay một mạng lưới mở như Internet.
Đạo luật về thương mại điện tử do Ủy ban Pháp luật Thương mại
Quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL - CNUDCI) được thông qua trong
phiên họp toàn thể thứ 85 Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 16-12-1996, quy
định phạm vi điều chỉnh của văn bản này như sau: "Đạo luật này có hiệu lực
áp dụng đối với mọi loại thông tin thể hiện dưới hình thức thông tin số hóa
được sử dụng trong khuôn khổ các hoạt động thương mại". Thông tin số hóa
là thông tin được tạo ra, chuyển đi, tiếp nhận, lưu trữ bằng phương tiện điện
tử, quang điện hoặc các phương tiện tương tự, đặc biệt là dưới hình thức trao
đổi số liệu được tin học hóa, thư điện tử, điện tín, telex và telefax. Hoạt
động "thương mại" cũng được UNCITRAL khuyến nghị là cần phải được
hiểu theo nghĩa rộng, chỉ mối quan hệ mang tính thương mại bao hàm hầu hết
các hình thái của hoạt động kinh tế, không chỉ đơn thuần chỉ có mua bán hàng
hóa và dịch vụ. Theo Luật Mẫu về Thương mại điện tử của UNCITRAL thì
"thương mại" trong khái niệm thương mại điện tử được hiểu là mọi vấn đề
phát sinh từ các mối quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có
hợp đồng. Các mối quan hệ mang tính chất thương mại bao gồm bất cứ giao
dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa dịch vụ, thỏa thuận
về phân phối, đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng, cho thuê dài
hạn, xây dựng các công trình, tư vấn, thiết kế, chuyển nhượng quyền sử dụng

Thương mại điện tử được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mại dựa
trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet.
Từ các định nghĩa trên có thể thấy rằng, nếu hiểu theo nghĩa rộng,
thương mại điện tử gồm tất cả các hoạt động mang tính thương mại được thực
hiện thông qua các phương tiện thông tin liên lạc điện tử từ điện thoại, telex, fax,
hệ thống thanh toán và chuyển tiền điện tử, Internet… Còn hiểu theo nghĩa hẹp
nhất, hay nói một cách chặt chẽ hơn cả thì thương mại điện tử chỉ gồm các
hoạt động thương mại được tiến hành trên mạng máy tính mở như Internet.
Tại Việt Nam, khái niệm "thương mại điện tử" chưa được định nghĩa
cụ thể trong các văn bản pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, nội hàm của khái
niệm này được đề cập đến trong một số luật liên quan và được dùng dưới các
thuật ngữ như "giao dịch điện tử" hoặc "hoạt động thương mại trên môi
trường mạng".
Theo Luật Giao dịch điện tử số 51/2005/QH11 ngày 29 tháng 11
năm 2005, thương mại điện tử là quá trình mua, bán hoặc trao đổi sản phẩm,
dịch vụ và những dịch vụ hỗ trợ các quá trình trên có sử dụng các phương tiện
điện tử, các mạng máy tính, Internet, và có sử dụng các tiêu chuẩn truyền
thông chung: "Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện
điện tử" [35, Điều 4.6]. Phương tiện điện tử là các phương tiện hoạt động dựa
trên công nghệ điện tử kỹ thuật số từ tính, truyền dẫn không dây, quang học,
điện từ hoặc công nghệ tương tự.
Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006
quy định nguyên tắc ứng dụng công nghệ thông tin trong thương mại là: (i) tổ
chức, cá nhân có quyền ứng dụng công nghệ thông tin trong thương mại; (ii) hoạt

15
động thương mại trên môi trường mạng phải tuân thủ quy định của luật này,
pháp luật về thương mại và pháp luật về giao dịch điện tử.
Từ các quy định trên, có thể hiểu nội hàm khái niệm thương mại điện
tử tại Việt Nam là các hoạt động (giao dịch) thương mại sử dụng phương tiện

điểm sau:
- Thương mại điện tử là một phương thức thương mại sử dụng các
phương tiện điện tử để thực hiện hành vi thương mại. Nói chính xác hơn, thương
mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện
công nghệ điện tử, mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất kỳ
công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch.
- Hoạt động thương mại điện tử được thực hiện trên cơ sở các nguồn
thông tin dưới dạng số hóa của các mạng điện tử. Đó là các thông điệp dữ
liệu. Nó cho phép hình thành những dạng thức kinh doanh mới và những cách
thức mới để tiến hành hoạt động kinh doanh.
- Các bên tiến hành giao dịch trong thương mại điện tử không nhất
thiết phải gặp gỡ nhau trực tiếp và không phải biết nhau trước. Việc sử dụng
các phương tiện điện tử, các thông tin thương mại được số hóa cho phép giao
dịch Người - Máy - Máy - Người giữa các bên được tiến hành.
- Thương mại điện tử là một hệ thống bao gồm nhiều giao dịch thương
mại. Các giao dịch này không chỉ tập trung vào việc mua - bán hàng hóa và
dịch vụ để trực tiếp tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp, mà còn bao gồm nhiều
giao dịch hỗ trợ tạo ra lợi nhuận (ví dụ: hệ thống hỗ trợ việc chào bán, cung
cấp các dịch vụ khách hàng hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thông
tin, liên lạc giữa các đối tác kinh doanh…

17
sổ cho doanh nghiệp hướng ra thị trường trên khắp thế giới. Không chỉ các
công ty hàng đầu thế giới mới có thể tiếp cận những thị trường mới, mà ngay
cả một công ty vừa mới thành lập cũng có thể có ngay một mạng lưới tiêu thụ
và phân phối không biên giới, có thể kinh doanh ở Pháp, Mỹ, hay Nhật Bản
Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương
tiện để trao đổi dữ liệu, còn đối với thương mại điện tử thì mạng lưới thông tin
chính là thị trường.
Thông qua thương mại điện tử, nhiều loại hình kinh doanh mới được
hình thành. Ví dụ: Các dịch vụ gia tăng giá trị trên mạng máy tính hình thành
nên các nhà trung gian ảo làm các dịch vụ môi giới, trọng tài cho giới kinh
doanh hoặc người tiêu dùng, các siêu thị ảo được hình thành để cung cấp hàng
hoá và dịch vụ trên mạng máy tính. Theo một số chuyên gia về kinh doanh
trên mạng, chính những tính năng dễ sử dụng và hình thức phong phú, vui

19
mắt, dễ hiểu của các trang web dành cho thương mại điện tử là yếu tố quyết
định trong việc thu hút khách hàng.
Tóm lại, trong thương mại điện tử bản chất của thông tin không thay
đổi, thương mại điện tử chỉ biến đổi cách thức khởi tạo, trao đổi, bảo quản và
xử lý thông tin, hoàn toàn không thay đổi những chức năng cơ bản của thông
tin đối với các bên tham gia hợp đồng truyền thống.
Việc mã hoá, số hoá nội dung của các thông tin chứng từ , tài liệu giao
dịch làm cho thương mại điện tử dù cho hoạt động trong quốc gia hay quốc tế,
có sự khác biệt so với thương mại truyền thống chủ yếu dựa trên chứng từ
bằng giấy tờ. Trong thương mại truyền thống nếu có nhiều bên tham gia thì sẽ
phải tốn một khối lượng lớn chi phí về giấy tờ giao dịch hợp đồng. Trong khi
đó nếu giao dịch được thực hiện thông qua thương mại điện tử thì tiết kiệm
được thời gian và các chi phí đó.
1.3. Lợi ích của thƣơng mại điện tử:
Với đặc tính của một thị trường toàn cầu, thương mại điện tử mang đến

hoặc gửi vào hộp thư điện tử của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể trả lời
trực tuyến (online) cho khách hàng mà không mất chi phí đi lại. Thương mại
điện tử giúp các doanh nghiệp thiết lập và củng cố quan hệ đối tác. Thông qua
mạng, các doanh nghiệp, người tiêu dùng, các cơ quan Chính phủ có thể giao
tiếp trực tiếp và liên tục với nhau, không còn khoảng cách không gian và thời
gian nữa. Nhờ đó mà cả sự hợp tác lẫn sự quản lý đều được tiến hành nhanh
chóng và liên tục. Các bạn hàng mới, các cơ hội kinh doanh mới mẻ được phát
hiện nhanh chóng trên bình diện toàn quốc, toàn khu vực, toàn thế giới và có
nhiều cơ hội để lựa chọn hơn.

21
c) Lợi ích đối với người tiêu dùng
Thương mại điện tử đem lại sự thuận tiện, tiết kiệm thời gian, tăng khả
năng lựa chọn cho người tiêu dùng. Chỉ cần ngồi ở nhà truy cập vào các trang
web siêu thị ảo để khảo hàng và mua hàng. Đồng thời người tiêu dùng có thể
đối chiếu, so sánh giá cả hàng hoá và dịch vụ của nhiều doanh nghiệp khác
nhau.
1.4 Nhận thức và sự chuẩn bị của doanh nghiệp Việt Nam khi tham
gia vào Thƣơng mại điện tử:
Nếu như hiện nay thương mại điện tử phát triển rất mạnh trong khu vực
và trên thế giới thì ngược lại tại Việt Nam, hầu hết các doanh nghiệp vẫn đang
quen với nếp kinh doanh cũ với bề bộn các công việc bàn giấy cũng như hàng
loạt các ràng buộc về thủ tục hành chính và người tiêu dùng Việt Nam thì
vẫn quen mua bán truyền thống: đến cửa hàng chọn hàng, mua hàng, trả tiền
mặt và mang hàng về nhà
Theo một báo các gần đây nhất của Bộ Thương mại thì hiện tại:
Chỉ có 3% doanh nghiệp vừa và nhỏ quan tâm đến thương mại
điện tử
Trong số 56.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ thì có tới 90% số
doanh nghiệp không có một chút khái niệm gì về thương mại

vào giao dịch thương mại điện tử?

23
Nâng cao nhận thức: Hiểu đúng bản chất của thương mại điện tử,
các lợi ích cùng các yêu cầu của thương mại điện tử. Coi thương
mại điện tử như một phương tiện để nâng cao khả năng cạnh
tranh, phát triển kinh doanh chứ không phải là”mốt thời thượng”.
Xây dựng chiến lược tham gia và ứng dụng thương mại điện tử
Chuẩn bị nhân lực : Có cán bộ hiểu biết sâu về công nghệ thông
tin, có thể kiểm soát, quản lý các giao dịch trên mạng ; Lãnh đạo
doanh nghiệp hiểu cách thức vận hành của một tổ chức kinh
doanh điện tử để nắm vững hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, kịp thời ra các quyết sách đúng đắn
Mạnh dạn ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
1.5. Những khó khăn và thách thức về phƣơng diện pháp lý đặt ra
cho Thƣơng mại điện tử ở Việt Nam:
a. Khung pháp luật thương mại thống nhất cho Thương mại điện tử:
Khung pháp luật được hiểu là một bộ phận cấu thành của hệ thống
pháp luật Việt Nam, bao gồm toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật ( pháp
luật về nội dung và pháp luật về tố tụng ) kể cả các điều ước quốc tế mà Việt
Nam là một bên tham gia ký kết.
Một trong những khó khăn, thách thức cần phải được giải quyết ngay
là xây dựng được một khung pháp luật cho các hoạt động thương mại tiến
hành thông qua các phương tiện điện tử, đặc biệt là các giao dịch Internet.
Khung pháp luật thương mại cần có tính thống nhất để có thể điều chỉnh cả
các hoạt động thương mại nói chung và các giao dịch thương mại điện tử nói
riêng, không phân biệt mục đích tiêu dùng hay kinh doanh, không phụ thuộc

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status