Pháp luật về lao động tàn tật ở Việt Nam Luận văn ThS. Luật - Pdf 28



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ THANH VIỆT
PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG TÀN TẬT
Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 603850
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Thị Hoài Thu
Hà Nội – 2009

1
MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu
3
Chƣơng 1. Khái quát chung về lao động tàn tật và sự cần thiết
phải có những quy định riêng đối với lao động tàn tật
7
1.1 Lao động tàn tật – Một loại lao động có đặc điểm riêng
7
1.1.1 Lao động có đặc điểm riêng theo pháp luật lao động Việt Nam
7
1.1.2 Lao động tàn tật – Một loại lao động có đặc điểm riêng
9

doanh
39
2.1.2.1 Nhóm các quy định về cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất
kinh doanh dành riêng cho người tàn tật
39
2.1.2.2 Nhóm các quy định về cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp
khác thuộc mọi thành phần kinh tế
42

2
2.1.2.3 Nhóm các quy định riêng về dạy nghề cho lao động tàn
tật
43
2.1.3 Quy định về tỷ lệ lao động tàn tật mà doanh nghiệp phải nhận
vào làm việc
46
2.1.4 Về quỹ việc làm cho người tàn tật
48
2.1.5 Nhóm các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
50
2.1.6 Nhóm các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động
51
2.2 Thực trạng lao động tàn tật và việc thực hiện các quy định
pháp luật đối với lao động tàn tật
52
2.2.1 Thực trạng lao động tàn tật
52
2.2.2 Việc thực hiện pháp luật về lao động tàn tật
54
Chƣơng 3 Hoàn thiện pháp luật về lao động tàn tật ở Việt Nam

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta phát triển mạnh mẽ và Việt Nam vừa
gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), yêu cầu về nguồn nhân lực có
trình độ cao là rất lớn, vấn đề tạo việc làm cho người lao động đang là mối quan
tâm bức thiết của người dân nói chung và người tàn tật nói riêng.
Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và tạo việc làm cho người tàn tật, tạo điều
kiện cho họ vượt qua những khó khăn, hòa nhập vào đời sống cộng đồng, xã hội
là những hoạt động có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc.
Theo số liệu thống kê, ở nước ta hiện có khoảng 5,3 triệu người tàn tật chiếm
6,34% dân số, trong đó trên 69% đang ở độ tuổi lao động. Đại bộ phận lao động
tàn tật không thể sống tự lập, khoảng 70% phải sống dựa vào gia đình, chỉ có
khoảng 30% có hoạt động tạo thu nhập bằng các nghề thủ công truyền thống.
93,4% người khuyết tật từ 16 tuổi trở lên không có chuyên môn kỹ thuật; số có
chứng chỉ nghề chỉ có khoảng 6,5%. (theo số liệu của ngành lao động – thương
binh và xã hội). Do vậy, vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động tàn tật là
một vấn đề hết sức khó khăn, còn nhiều vướng mắc cần phải giải quyết.
Bộ luật lao động được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994, có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 1995 và Bộ luật đến nay đã qua ba lần sửa đổi, bổ sung vào các
năm 2002, 2006, 2007. Bộ luật lao động đã có những quy định riêng cho một số
loại lao động đặc thù, trong đó có lao động là người tàn tật. Những quy định về
“Lao động là người tàn tật” tại mục III, Chương XI của Bộ luật lao động là sự
kế thừa và phát triển các văn bản pháp luật trước đó trong lĩnh vực lao động.
Trong thời gian qua, mặc dù, việc ban hành các chính sách, quy định pháp luật
đã tương đối đầy đủ song vì nhiều nguyên nhân khác nhau, các chính sách và
quy định pháp luật vẫn chưa được thực hiện có hiệu quả và người tàn tật vẫn
gặp khó khăn trong việc tìm được một việc làm cùng thu nhập ổn định. Tình

4
trạng sử dụng lao động tàn tật không có hợp đồng lao động, không có bảo hiểm

của Trần Thị Hoa.
- Khóa luận tốt nghiệp (2004), “Chế độ lao động đối với người tàn tật ở
Việt Nam” của Nguyễn Thị Kim Oanh.
Ngoài ra, còn một số bài báo cũng đề cập đến lao động tàn tật như: “Tạo
cơ hội cho người khuyết tật hòa nhập và tiếp cận đầy đủ trong quá trình phát
triển” của TS. Đàm Hữu Đắc đăng trên Tạp chí Lao động và Xã hội số 324/2007
hay “Để người khuyết tật Việt Nam có việc làm phù hợp và ổn định” của
Nghiêm Xuân Tuệ đăng trên Tạp chí Lao động và Xã hội số 304 + 305/2007,…
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu đó chưa làm rõ các khía cạnh
pháp lý đối với lao động tàn tật. Hầu hết các công trình, bài viết của các tác giả
chủ yếu tiếp cận vấn đề từ khía cạnh xã hội mà chưa quan tâm nhiều đến khía
cạnh pháp lý của vấn đề lao động là người tàn tật. Do đó, có thể nói rằng, đề tài
“Pháp luật về lao động tàn tật ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu một cách
có hệ thống, tương đối toàn diện lao động tàn tật dưới góc độ pháp luật. Trước
thực tiễn lao động tàn tật ở Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu có hệ thống vấn
đề này mang tính thời sự cao, nhất là chúng ta đang bắt tay vào việc sửa đổi, bổ
sung Bộ luật lao động, dự kiến trình Quốc hội vào năm 2011, xây dựng Luật
Người tàn tật, dự kiến trình Quốc hội vào năm 2010. Kết quả của đề tài sẽ góp
phần vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật lao động cũng như quá
trình tổ chức thực hiện pháp luật đối với lao động này.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả lấy phép biện chứng của triết
học Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cho quá trình nghiên cứu. Ngoài ra,
phương pháp phân tích, đối chiếu so sánh, khảo sát, thu thập,… được sử dụng
phù hợp với từng mặt, từng lĩnh vực nghiên cứu của đề tài. Hệ thống các văn
bản quy phạm pháp luật, đặc biệt trong lĩnh vực lao động liên quan đến người
tàn tật là cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý cho quá trình nghiên cứu.

6
6. Bố cục của luận văn

đáng của lao động này, giúp họ giảm bớt những khó khăn, thiệt thòi trong cuộc
sống, hòa nhập với cộng đồng và bảo vệ họ khi tham gia vào quan hệ lao động.
Như vậy, có thể hiểu lao động có đặc điểm riêng là hệ thống các quy
phạm điều chỉnh một số quan hệ lao động có những yếu tố đặc thù nhằm bảo vệ
những lợi ích của bản thân người lao động cũng như lợi ích chung của xã hội.
Trong điều kiện hiện nay, lao động có đặc điểm riêng được coi như một
chế định của luật lao động Việt Nam, chế định này được phân loại dựa trên một
số yếu tố cơ bản và có tính phổ biến sau:

8
Thứ nhất, xuất phát từ những đặc điểm của bên chủ thể là người lao động
có:
- Lao động nữ
- Lao động chưa thành niên
- Lao động là người tàn tật
- Lao động là người cao tuổi
- Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
- Lao động là người nước ngoài
Thứ hai, xuất phát từ những đặc điểm của bên chủ thể là người sử dụng
lao động có:
- Lao động cho tổ chức, cá nhân nước ngoài
- Lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài
- Lao động ở những nơi sử dụng dưới 10 người lao động
Thứ ba, xuất phát từ những đặc điểm, tính chất của công việc có:
- Lao động nghệ thuật
- Lao động làm việc tại nhà
- Lao động giúp việc gia đình
Cho đến nay, ở nước ta chưa có tiêu chí và phân loại thống nhất về người
tàn tật cũng như lao động tàn tật. Theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh
và Xã hội tại Tờ trình Chính phủ về Dự án luật người khuyết tật số 45/TTr-

bao gồm cả những người tàn tật nhẹ.
Ở Trung Quốc, Luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ
người khuyết tật ban hành năm 1990 định nghĩa người khuyết tật là người bị
mất khả năng về nhìn, nghe, nói hoặc về thể chất, mất khả năng về trí não, rối
loạn tâm thần, khuyết tật bị đa tật và/hoặc các dạng khuyết tật khác [34, tr.17].
Định nghĩa này mang tính bao quát, đã nêu thế nào là tàn tật, khuyết tật, làm cơ
sở cho việc bảo vệ người tàn tật khỏi bị phân biệt đối xử.
Ở Ấn Độ, Luật về người khuyết tật ban hành năm 1995 (về cơ hội bình
đẳng, bảo vệ quyền và đảm bảo cho người khuyết tật tham gia mọi hoạt động xã

10
hội) định nghĩa khuyết tật bao gồm tình trạng bị mù, nghe kém, lành bệnh
phong, thính lực kém, suy giảm khả năng vận động, chậm phát triển trí óc và
mắc bệnh về tâm thần; trong khi đó định nghĩa về người khuyết tật lại được nêu
“một người bị bất kỳ một khuyết tật nào không dưới bốn mươi phần trăm theo
xác nhận của một cơ quan y tế có thẩm quyền” [34, tr.17]. Như vậy, về người
khuyết tật, luật pháp Ấn Độ có 2 định nghĩa, một là về khuyết tật, với mục đích
chống phân biệt đối xử đối với người khuyết tật, còn định nghĩa dạng thứ hai
nhằm hướng tới đối tượng hẹp hơn, có khuyết tật từ 40% trở lên.
Luật bình đẳng về việc làm của Nam Phi định nghĩa người khuyết tật là
“người bị suy giảm khả năng về thể lực hoặc trí lực trong một thời gian dài hoặc
tiếp diễn nhiều lần, khiến cho người đó bị hạn chế đáng kể về khả năng tham gia
hoặc phát triển trong nghề nghiệp [34, tr.18]. Đây cũng là một loại định nghĩa
với phạm vi điều chỉnh rộng, bao quát, với mục tiêu bình đẳng về việc làm giữa
người khyết tật và người không bị khuyết tật.
Theo quan điểm của Tổ chức y tế thế giới, người tàn tật (person with
disability) là người khi họ bị giảm chức năng và hạn chế sự tham gia các hoạt
động xã hội, là kết quả của sự kết hợp tình trạng cá nhân như bệnh tật, chấn
thương hoặc các rối loạn chức với các yếu tố môi trường cản trở. Đây là định
nghĩa dạng bao quát, nhằm chống phân biệt đối xử với người tàn tật.

chức năng, biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, bị suy giảm khả năng lao
động từ 21% trở lên, được Hội đồng giám định y khoa hoặc cơ quan y tế có
thẩm quyền xác nhận theo quy định của Bộ Y tế” (Điều 1). Đây là khái niệm
tương đối toàn diện về lao động tàn tật, khắc phục những bất cập trong khái
niệm lao động tàn tật nêu ở Nghị định số 81/CP, bởi ngoài việc nêu hậu quả của
tàn tật là suy giảm khả năng lao động 21%, có giám định y khoa, khái niệm còn
nêu rõ thế nào là tàn tật: bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc
chức năng, biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau.
Khái niệm lao động tàn tật trong Nghị định số 116/2004/NĐ-CP thực chất
là sự “kết hợp” giữa khái niệm lao động tàn tật trong Nghị định số 81/CP và
khái niệm người tàn tật trong Pháp lệnh người tàn tật. Sự kết hợp này đã đạt đến

12
sự hợp lý cho khái niệm lao động tàn tật, các dấu hiệu, tiêu chí của lao động tàn
tật đã rất rõ ràng. Khái niệm này sẽ rất thuận lợi cho các mục tiêu hỗ trợ về mặt
vật chất hoặc tài chính cho từng lao động tàn tật, hoặc người sử dụng lao động
tàn tật. Điều này mang lại ý nghĩa to lớn, giúp cho việc hoạch định chính sách
và thực hiện chính sách đối với lao động tàn tật được hiệu quả.
Như vậy, lao động tàn tật là người ở độ tuổi lao động (nam từ 15 – 60
tuổi, nữ từ 15 – 55 tuổi) không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật, bị khiếm
khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng, biểu hiện dưới những
dạng tật khác nhau, bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được Hội
đồng giám định y khoa hoặc cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận theo quy định
của Bộ Y tế. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, khái niệm này sẽ được sử dụng
xuyên suốt trong luận văn này.
1.1.2.2 Phân loại lao động tàn tật
Để phân loại người tàn tật nói chung và lao động tàn tật nói riêng, có thể
dựa vào các tiêu chí sau đây:
a/ Theo nguyên nhân dẫn đến tàn tật gồm có:
- Nhóm nguyên nhân tàn tật do bẩm sinh

- Phản ánh cơ cấu, địa bàn cư trú của người khuyết tật theo địa giới hành
chính: cả nước, tỉnh, huyện, xã, vùng kinh tế, khu vực thành thị và nông thôn;
- Phản ánh theo nhân khẩu học: giới tính, độ tuổi, dân tộc, tình trạng hôn
nhân;
- Phản ánh theo trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghề
nghiệp;
- Phản ánh nhu cầu đa dạng của người khuyết tật theo nhu cầu trợ giúp:
chỉnh hình phục hồi chức năng, khám chữa bệnh khi ốm đau; học văn hoá, học
nghề, tạo việc làm; phương tiện vận động chuyên dùng, máy trợ thính; trợ cấp
xã hội; nuôi dưỡng trong các cơ sở xã hội…
Tóm lại, cách phân loại như trên chỉ là tương đối, tùy thuộc vào từng mục
đích, sử dụng mà người ta phân loại cho phù hợp. Ở Việt Nam, hiện chưa có

14
tiêu chí và phân loại thống nhất về người tàn tật. Tuy nhiên, theo báo cáo của
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tại Tờ trình Chính phủ về Dự án luật
người khuyết tật số 45/TTr-LĐTBXH ngày 07 tháng 8 năm 2009 cho thấy cuộc
điều tra về người tàn tật đã phân loại người tàn tật theo các dạng tật, các nguyên
nhân gây ra tàn tật.
1.2. Sự cần thiết phải có quy định riêng đối với lao động tàn tật
1.2.1 Đặc điểm về sinh lý, sức khoẻ
Sức khoẻ là vốn vô cùng quý giá của con người. Với bất kỳ ai nếu không
có sức khoẻ thì họ sẽ không thể làm được gì và điều đó đồng nghĩa với việc
không có thu nhập nuôi sống bản thân, để góp phần xây dựng gia đình và xã hội.
Nhà nước ta cũng đã có những chủ trương chính sách quan tâm đến sức khoẻ
của toàn dân nhằm tăng nguồn nhân lực đất nước.
Như trong khái niệm về lao động tàn tật ta đã thấy lao động tàn tật bị suy
giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, điều đó cho thấy sức khỏe của lao động
tàn tật không thể như những người bình thường khác.Lao động tàn tật là một
trong những nhóm người yếu thế, cần được hỗ trợ nhiều nhất về các dịch vụ

Đối với người tàn tật về ngôn ngữ thì ưu tiên họ làm những công việc chân tay
không cần giao tiếp.
Chính vì yếu tố sức khoẻ này mà về hình thức trông họ không được
nhanh nhẹn lắm và người sử dụng lao động cho rằng họ không thể lao động như
những lao động bình thường khác và do vậy người sử dụng lao động ít muốn
nhận lao động tàn tật vào làm việc. Trong khi đó, người lao động tàn tật thì tha
thiết được làm việc. Chính vì vậy, chúng ta cần xây dựng một chế độ lao động
riêng đối với người tàn tật đến độ tuổi lao động mà còn khả năng lao động để
giải phóng sức lao động cho lao động tàn tật, góp phần tạo ra của cải vật chất
cho xã hội
1.2.2 Đặc điểm về tâm lý
Cảm nhận của mọi người khi tiếp xúc với người tàn tật đó là người tàn tật
sống rất khép kín, không thích giao tiếp, ít hòa nhập vào cộng đồng. Tâm lý

16
chung ở người tàn tật là mặc cảm, tự ti và bi quan về tật nguyền của mình.
Chính cách sống này khiến họ trở nên rất thiếu thông tin, thiếu hiểu biết, ngay
cả những vấn đề liên quan trực tiếp tới bản thân họ đó là quyền lợi của mình.
Nguyên nhân dẫn đến tâm lý trên chủ yếu là bản thân người tàn tật không
tự tin về bản thân, họ mặc cảm nghĩ rằng mình không giúp được gì cho gia đình,
cho xã hội, cộng thêm định kiến xã hội, cho rằng người tàn tật là gánh nặng của
gia đình và có thái độ kỳ thị, phân biệt đối xử. Mặt khác, do đặc điểm đặc thù
của người tàn tật Việt Nam phần lớn sống trong hộ gia đình nghèo nên càng
khiến họ không tự tin, sống rất khép kín.
Lao động tàn tật cũng không nằm ngoài những đặc điểm này của người
tàn tật nói chung, thậm chí còn tự ti, mặc cảm nặng nề hơn những đối tượng tàn
tật khác. Nếu như trẻ em tàn tật, người già tàn tật (những người tàn tật không
nằm trong độ tuổi lao động) ít có những quan tâm, mặc cảm liên quan đến việc
làm, thu nhập, thì ngược lại với người tàn tật trong độ tuổi lao động, nhu cầu có
việc làm, có thu nhập là vô cùng bức thiết. Tuy nhiên, vì nhiều rào cản, trên

công, thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”. Đối với
những người tàn tật không phải do chiến tranh, họ là những người “yếu thế”,
thiệt thòi hơn những người bình thường khác, Nhà nước cần phải có chính sách
cụ thể về vấn đề người tàn tật. Với mục tiêu xây dựng các các chính sách kinh
tế, xã hội, phát triển đất nước vì con người, cho con người thì việc xây dựng
chính sách đối với lao động tàn tật cần được đặc biệt quan tâm. Về phía lao
động tàn tật, nhu cầu có việc làm là rất lớn, họ luôn mong muốn được lao động,
được làm việc, có thu nhập, trước hết là nuôi sống bản thân, sau là giúp đỡ gia
đình, tạo ra của cải vật chất góp phần xây dựng đất nước. Một chính sách kinh
tế bền vững phải gắn với việc giải quyết tốt các vần đề thất nghiệp, trong đó có
vấn đề việc làm cho lao động tàn tật. Vấn đề xã hội này trong nền kinh tế thị
trường đang ngày càng trở lên cấp bách.
Để xử lý đúng đắn những vấn đề xã hội cấp bách trong cơ chế mới, Đảng
ta đã lập danh mục những nhiệm vụ cụ thể để giải quyết từng bước các vấn đề

18
xã hội: giải quyết việc làm, sử dụng tối đa tiềm năng lao động xã hội là mục tiêu
quan trọng hàng đầu của chiến lược… Hướng ưu tiên là giải quyết việc làm cho
những người đến tuổi lao động, …Là các vấn đề xã hội nhưng khi giải quyết lại
phải gắn rất chặt với các vần đề kinh tế bởi vì tăng trưởng kinh tế là tiền đề rất
quan trọng để giải quyết các vấn đề xã hội. Ngược lại, giải quyết tốt vấn đề xã
hội là điều kiện ổn định xã hội, phát triển kinh tế. Có ý kiến cho rằng cứ phát
triển kinh tế cao thì tức khắc khắc sẽ giải quyết được mọi vấn đề xã hội và dẫn
đến tiến bộ xã hội. Song thực tế ở nhiều nước cho thấy, nền kinh tế hùng mạnh
nhưng các vấn đề xã hội lại trở nên căng thẳng và nhức nhối như bạo lực, tệ nạn
xã hội, bất bình đẳng. Bài học rút ra cho thực trạng này là: Tăng trưởng kinh tế
tự nó không giải quyết được tất cả các vấn đề xã hội, trong những trường hợp cụ
thể còn làm trầm trọng thêm nhiều vấn đề như thất nghiệp, ô nhiễm môi trường
… Tăng trưởng kinh tế tự nó cũng không dẫn đến tiến bộ xã hội mặc dù nó có
thể góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Ở nước ta, dù là trong chiến tranh hay

nhận này, mà người tàn tật bị coi là không có khả năng làm việc (do sự khiếm
khuyết của họ ngăn cản họ làm việc), coi người tàn tật là gánh nặng của gia
đình, xã hội và có thái độ kỳ thị, phân biệt đối xử. Chính thái độ của cộng đồng
đã khiến người tàn tật mất tự tin vào bản thân, sống mặc cảm. Do vậy, phải có
các quy định riêng đối với lao động tàn tật, để tạo điều kiện cho họ được tham
gia lao động, sản xuất như những lao động nình thường khác.
Thứ hai là các công trình xây dựng công cộng. Điều 52, khoản 1, điểm đ
Luật xây dựng số 26/2003/QH11 của Quốc hội ngày 26/11/2003 quy định:
“….đối với các công trình công cộng phải bảo đảm thiết kế theo tiêu chuẩn cho
người tàn tật”. Theo đó, Bộ xây dựng đã ban hành bộ quy chuẩn xây dựng công
trình công cộng đảm bảo cho người tàn tật, …:các tòa nhà mới xây, các cơ sở hạ
tầng mới đã dễ dàng tiếp cận hơn đối với người tàn tật (dễ dàng đi lại đối với xe
lăn, thang máy có bảng điều khiển dành cho người khiếm thị…).
Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau (như điều kiện kinh tế còn nhiều khó
khăn, sự quản lý chưa chặt chẽ của cơ quan nhà nước, thiếu cơ chế giám sát, )

20
nhiều tòa nhà, cơ sở hạ tầng mặc dù được xây dựng mới xong vẫn không đáp
ứng các yêu cầu tiếp cận đối với người tàn tật. Sự việc này diễn ra thậm chí cả ở
những khu vực thành thị: nhiều tòa nhà cũng không dễ dàng đi lại đối với xe lăn
ngay cả dưới tầng một, bao gồm các trường học, bệnh viện, các tòa nhà của
Chính phủ và những nơi làm việc.
Mặt khác, nhiều tòa nhà, cơ sở hạ tầng được xây dựng từ trước ít có sự
sửa đổi, nâng cấp nên rất bất cập trong việc tiếp cận đối với người tàn tật.
Những nguyên nhân này là một trong những rào cản để người tàn tật tham gia
xã hội đầy dủ.
Thứ ba là các công trình giao thông đường bộ. Các quy định về giao
thông tiếp cận cho người tàn tật cũng được Nhà nước hết sức quan tâm. Luật
giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 ngày 13/11/2008 có 3 điều quy định liên
quan đến người tàn tật, là các Điều 23, 33 và 44. Điều 33 quy định về người

người tàn tật lại lên trên 63%. Mức sống thấp này cũng khiến người tàn tật ít có
điều kiện để có thể tham gia xã hội đầy đủ.
Thứ năm. chính sách và pháp luật về người tàn tật chưa được cộng đồng
quan tâm nhiều. Nhiều người cho rằng hỗ trợ người tàn tật là việc làm từ thiện,
nhân đạo, chủ yếu là quyên góp bằng tiền, ủng hộ qua các tổ chức từ thiện. Điều
này đúng với việc giúp đỡ trẻ em tàn tật, người già tàn tật - những người không
có khả năng tạo ra thu nhập, không có tài sản tích luỹ. Nhưng riêng đối với lao
động tàn tật thì giúp lao động tàn tật có được việc làm, tự tạo thu nhập mới là
điều quan trọng hơn cả, mới là cái gốc của vấn đề. Đó không chỉ là việc làm từ
thiện, mà trên hết là trách nhiệm của các cấp, các ngành và tất cả mọi người.
Tuy nhiên, nhận thức về chính sách và pháp luật về lao động tàn tật của đa số
cộng đồng chưa thực sự đúng đắn. Hơn nữa, trong một môi trường mà nhiều
người thất nghiệp như hiện nay, các nhà chức trách, những người chủ sử dụng
lao động, gia đình và những người khác thường chưa coi việc tìm việc làm cho
người tàn tật là ưu tiên.
Thứ sáu, là tình trạng sống chung, phụ thuộc vào gia đình. Hầu hết người
tàn tật sống chung với gia đình của họ. Theo kết quả khảo sát của Bộ Lao động

22
– Thương binh và Xã hội năm 2005 thì có tới trên 24% số hộ gia đình đang sống
trong các căn nhà tạm; 65% có nhà bán kiên cố và 11% có nhà kiên cố. Điều
này cản trở lao động tàn tật có cuộc sống độc lập.
1.3. Ý nghĩa của những quy định riêng đối vói lao động tàn tật
1.3.1. Ý nghĩa kinh tế
“Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật
chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất chất lượng và
hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước” [2, tr.1]. Pháp
luật lao động tàn tật góp phần xây dựng đất nước, giải phóng sức lao động bởi lẽ
pháp luật về lao động tàn tật đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho lao động tàn
tật, vượt qua mặc cảm, khó khăn của bản thân để lao động sản xuất, giúp họ tự

hoạch định chính sách, của Nhà nước ta hiện nay. Tuy nhiên, bảo vệ chăm sóc
như thế nào để mọi tiềm năng được phát huy, được sử dụng, giúp họ thay đổi
được vị thế của mình từ người phụ thuộc đến người độc lập trong cuộc sống mới
là rất cần thiết.
Sự phát triển kinh tế, phát triển khoa học công nghệ là tiền đề vật chất, kỹ
thuật cho sự hòa nhập, tạo cơ hội bình đẳng cho người tàn tật. Nhưng bản thân
sự phát triển kinh tế không tự động đem cơ hội bình đẳng cho người tàn tật nếu
như xã hội chưa nhận thức đúng cũng như chưa có hành động cụ thể để biến sức
mạnh kinh tế, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ để tạo điểu kiện
sinh hoạt cho người tàn tật. Pháp luật về lao động tàn tật tạo nên những chuyển
biến về nhận thức vai trò, khả năng hòa nhập cộng đồng của người tàn tật. Từ
nhận thức đó, các tổ chức, cá nhân đã giúp đỡ người tàn tật không chỉ khắc phục
khó khăn trước mắt mà còn giúp họ các điều kiện cần thiết để thực hiện sự bình
đẳng về nghĩa vụ và trách nhiệm như các công dân khác trong xã hội.
Đã có nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế
trong cả nước đã tích cực đóng góp giúp đỡ cho người tàn tật với giá trị lên đến
hàng nghìn tỷ đồng.

Trích đoạn Quy định về tỷ lệ lao động tàn tật mà doanh nghiệp phải nhận vào làm việc Về quỹ việc làm cho người tàn tật Nhóm các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơ Nhóm các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động Thực trạng lao động tàn tật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status