I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN TH NH HUYN
PHáP LUậT Về BảO Vệ TàI NGUYÊN DU LịCH
ở VIệT NAM
LUN VN THC S LUT HC H NI - 2014
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN TH NH HUYN
Nguyễn Thị Như Huyền
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN
DU LỊCH, PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN DU LỊCH 7
1.1. Những vấn đề chung về bảo vệ tài nguyên du lịch 7
1.1.1. Tài nguyên du lịch 7
1.1.2. Sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên du lịch 13
1.2. Những vấn đề chung về pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch 18
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch 18
1.2.2. Những nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch 20
1.2.3. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật bảo vệ tài nguyên du
lịch ở Việt Nam 35
Kết luận chương 1 43
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI
HÀNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN DU
LỊCH Ở VIỆT NAM 44
2.1. Thực trạng pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch 44
2.1.1. Những ưu điểm của pháp luật trong bảo vệ tài nguyên du lịch 44
2.1.2. Những hạn chế của pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch 57
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch 66
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong quá trình hội nhập kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại
hóa, cùng với sự phát triển của những ngành công nghiệp khác thì du lịch đã dần
trở thành ngành kinh tế quan trọng, là ngành mũi nhọn, mang lại hiệu quả kinh tế
- xã hội và môi trường ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam.
Việt Nam là một trong những nước có nền văn hóa lâu đời và giàu tiềm
năng về du lịch. Phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trên
cơ sở khai thác có hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền
thống văn hóa lịch sử, huy động tối đa nguồn lực trong nước, góp phần thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hoạt động du lịch thu hút sự
tham gia của các thành phần kinh tế và mọi tầng lớp nhân dân, mang lại thu
nhập không chỉ cho những đối tượng trực tiếp kinh doanh du lịch mà gián tiếp
đối với các ngành liên quan, xuất khẩu tại chỗ và tạo thu nhập cho các cộng
đồng dân cư địa phương.
Du lịch là ngành kinh tế có sự định hướng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên
du lịch chính là đối tượng, sức hút, động cơ thúc đẩy đi du lịch của du khách;
là những nguồn lực quan trọng nhất, mang tính quyết định sự phát triển ngành
Du lịch; là cơ sở để hình thành, phát triển các hệ thống lãnh thổ du lịch.
Thực tế tại Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy,
các địa phương, các quốc gia có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng
và đặc sắc, có mức tập trung cao, được quản lý, quy hoạch, khai thác, bảo vệ,
tôn tạo hợp lý, có định hướng thì sẽ có ngành Du lịch phát triển bền vững, đạt
hiệu quả cao. Ngược lại những quốc gia, vùng có nguồn tài nguyên đa dạng,
đặc sắc nhưng không được quy hoạch, khai thác, bảo vệ… thì sẽ làm cho
nguồn tài nguyên bị suy kiệt và hiệu quả kinh doanh du lịch thấp. Hiện nay,
3
Vì những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật về bảo vệ tài
nguyên du lịch ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học của mình
với mong muốn đóng góp những ý kiến để hoàn thiện pháp luật về bảo vệ tài
nguyên trên đất nước Việt Nam nói chung và bảo vệ tài nguyên du lịch của
Việt Nam nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu
Đề tài “Pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch ở Việt Nam” là một
trong những đề tài khoa học mang tính nhân văn sâu sắc. Liên quan đến lĩnh
vực tài nguyên du lịch đã được nhiều tác giả nghiên cứu, từ nghiên cứu lý
luận cho đến nghiên cứu thực tiễn như:
- Trần Phong Bình, “Pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du
lịch ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà
Nội, 2009.
- Phạm Trung Lương, Hoàng Hoa Quân, “Nghiên cứu đánh giá tác
động của hoạt động du lịch đến môi trường (lấy ví dụ thành phố Vũng Tàu)”,
Tuyển tập Báo cáo Hội nghị môi trường toàn quốc, Hà Nội, 2003.
- Phạm Trung Lương, Đặng Duy Lợi, Vũ Tuấn Cảnh, Nguyễn Văn
Bình, Nguyễn Ngọc Khán, Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam, Nhà
xuất bản Giáo dục, 2000.
- Vũ Tuấn Cảnh, “Quy hoạch tổng thể du lịch Việt Nam với chiến lược
quản lý tài nguyên và môi trường”, Tuyển tập Báo cáo Hội thảo lần thứ nhất
về: “Đánh giá tác động môi trường”, Trung tâm Khoa học công nghệ và Công
nghệ Quốc gia, Hà Nội, 6 - 7/6/1997.
- Phạm Trung Lương, “Điều tra nghiên cứu tác động của hoạt động du
lịch về tài nguyên thiên nhiên và môi trường - Phương pháp luận và phương
pháp nghiên cứu”, Viện Nghiên cứu và phát triển du lịch Hà Nội, 1996.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến một số
5
các quy định pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch và đánh giá thực trạng
thực hiện chúng trên thực tế. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật, góp phần bảo vệ tài nguyên du lịch ở Việt Nam. Như vậy, việc bảo
vệ tài nguyên du lịch bằng pháp luật cần được triển khai ở cả khía cạnh xây
dựng pháp luật và thực tế thực hiện pháp luật với những cách thức, biện pháp
đa dạng, phong phú, phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế. Cụ thể đề tài dự
kiến có những đóng góp sau:
- Trong Chương 1, đề tài tập trung làm rõ vai trò của việc bảo vệ tài nguyên
du lịch trong mối quan hệ với nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và yêu cầu bảo vệ
chất lượng môi trường; sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên du lịch bằng pháp luật
và khái quát được hệ thống pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch.
- Trong Chương 2, đề tài tập trung đánh giá thực trạng pháp luật và
thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch Việt Nam, gồm đánh
giá ưu điểm, hạn chế về nội dung và hình thức của pháp luật bảo vệ tài
nguyên du lịch; đánh giá kết quả, hạn chế khi thi hành pháp luật về bảo vệ tài
nguyên du lịch và nêu được nguyên nhân của bất cập, hạn chế đó.
- Trong Chương 3, từ những kết quả nghiên cứu của Chương 1 và
Chương 2, đề tài đưa ra các giải pháp, kiến nghị mới nhằm hoàn thiện pháp
luật về bảo vệ tài nguyên du lịch, đặc biệt ở khía cạnh quy định trách nhiệm
của cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch; rà soát cơ chế
thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ tài nguyên
du lịch và tuyên truyền pháp luật để bảo vệ tài nguyên du lịch Việt Nam.
6. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
6.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định cụ thể của pháp luật
về bảo vệ tài nguyên du lịch và các hoạt động thực tiễn thi hành pháp luật về
bảo vệ tài nguyên du lịch
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN DU LỊCH,
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN DU LỊCH
1.1. Những vấn đề chung về bảo vệ tài nguyên du lịch
1.1.1. Tài nguyên du lịch
Theo tác giả Phạm Trung Lương và Đặng Duy Lợi đã định nghĩa trong
cuốn sách “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam” thì “Tài nguyên hiểu
theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng và thông
tin có trên Trái đất và trong không gian vũ trụ liên quan, mà con người có thể
sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình” [10, tr.5].
Với PGS.TS. Trần Đức Thanh thì:
Tài nguyên là tất cả những nguồn thông tin, vật chất, năng lượng
được khai thác phục vụ cuộc sống và sự phát triển của xã hội loài
người. Đó là những thành tạo hay tính chất của thiên nhiên, những
công trình, những sản phẩm do bàn tay khối óc của con người làm
nên, những khả năng của loài người,… được sử dụng phục vụ cho sự
phát triển kinh tế và xã hội của cộng đồng [21, tr.56].
Như vậy, tài nguyên có thể được hiểu là những gì thuộc về tự nhiên,
hay là những sản phẩm do con người tạo ra, có thể được con người sử dụng
vào phát triển kinh tế và xã hội để tạo ra hiệu quả kinh tế, xã hội và môi
trường trong quá trình phát triển của xã hội loài người.
Xã hội loài người ngày càng phát triển, nhu cầu đời sống ngày càng
tăng kéo theo nhu cầu khai thác tài nguyên phục vụ cho các hoạt động phát
triển cũng ngày càng tăng cao. Mỗi ngành nghề khác nhau lại có yêu cầu khác
nhau trong khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên, nên việc phân chia các
nhóm nguồn tài nguyên phục vụ cho từng lĩnh vực cũng có xu hướng ngày
trường tự nhiên bao quanh chúng ta được khai thác sử dụng để phục vụ cho 9
hoạt động du lịch. Các tài nguyên du lịch tự nhiên luôn gắn liền với các điều
kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội, được khai thác đồng
thời với tài nguyên du lịch nhân văn.Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm:
- Tài nguyên địa hình
Địa hình là thành phần quan trọng của tự nhiên, nơi diễn ra các hoạt
động của con người. Đối với hoạt động du lịch, các dạng địa hình tạo nên
phong cảnh, một yếu tố quan trọng để hình thành nên các tài nguyên khác.
Các địa hình đặc biệt có sức hấp dẫn khách du lịch là: địa hình Karst, địa hình
bờ biển, địa hình hải đảo,…
Địa hình Karst: chiếm khoảng 60.000 km
2
tập trung chủ yếu ở Việt
Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ, với các dạng Karst hang động,
Karst ngập nước và Karst đồng bằng. Địa hình Karst tạo nên những điểm du
lịch hấp dẫn với hệ thống các hang động, núi đá vôi,…
Địa hình bờ biển: Bờ biển nước ta dài khoảng 3.260 km với nhiều cảnh
quan phong phú, đa dạng, có nhiều bãi tắm đẹp là một tiềm năng rất có giá trị
cho du lịch biển, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí. Các bãi biển nổi tiếng như:
Bãi Cháy (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hóa), Văn
Phong (Nha Trang), Mỹ Khê (Đà Nẵng)…
Địa hình hải đảo: Nước ta có hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó
nhiều đảo có cảnh quan đẹp đã được đưa vào khai thác phục vụ du lịch như:
Cô Tô (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), Lý
Sơn (Quảng Ngãi)….
- Tài nguyên khí hậu
Tài nguyên khí hậu là sự tổng hợp các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, áp suất
ngưỡng những cảnh quan sinh thái, những hệ động, thực vật phong phú,
mang tính thẩm mĩ cao để thỏa mãn tính giải trí, có được cảm giác thư thái.
Trong hoạt động tham quan du lịch thì tài nguyên sinh vật có ý nghĩa đặc
biệt, chính nó có thể mang đến cho những người chiêm ngưỡng, tận hưởng 11
nó cảm giác thoải mái tinh thần, thỏa mãn trí tò mò của họ. Điều đó là
nguyên nhân chính thu hút khách du lịch, vì thế tính đa dạng sinh học sự
bảo tồn được nhiều nguồn gen, tạo phong cảnh đẹp, thơ mộng cần được
bảo vệ, tu bổ và khai thác hợp lý để phát triển bền vững.
1.1.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng và hiện tượng xã hội
cùng các giá trị văn hóa, lịch sử của chúng có sức hấp dẫn du khách và
được khai thác để kinh doanh du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn được
chia thành hai loại là tài nguyên du lịch nhân văn vật thể và tài nguyên du
lịch nhân văn phi vật thể:
- Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể
Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể là các di tích lịch sử văn hóa -
những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị
điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra để
lại. Theo các giá trị khác nhau, các di tích lịch sử văn hóa được đánh giá, xếp
hạng theo các cấp bậc khác nhau. Di sản văn hóa được coi là sự kết tinh của
những sáng tạo văn hóa của một dân tộc. Các di sản văn hóa khi được công
nhận là các di sản văn hóa thế giới của quốc gia thì sẽ trở thành nguồn tài
nguyên du lịch nhân văn vô giá, có sức hấp dẫn khách du lịch, đặc biệt là
khách du lịch quốc tế như: Cố đô Huế, Phố cổ Hội An,…
Bên cạnh đó, còn có các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và địa
phương. Di tích khảo cổ học là các di khảo cổ có thể bị vùi lấp trong lòng đất
hoặc ở trên mặt đất bao gồm di chỉ mộ táng, những công trình kiến trúc cổ.
Ở phần nghi lễ với những nghi thức trang trọng nhằm bày tỏ sự tôn kính với
các bậc thánh hiền và thần linh, cầu mong bình an, mưa thuận gió hòa,… Còn
phần hội thường diễn ra những hoạt động biểu tượng điển hình của tâm lý
cộng đồng văn hóa dân tộc.
Nghề thủ công truyền thống với những sản phẩm độc đáo mang giá trị
nghệ thuật, thể hiện sự khéo léo của người lao động, tâm tư tình cảm của họ. 13
Nghề thủ công truyền thống luôn được bảo tồn, phát huy từ đời này sang đời
khác của các gia đình, các làng, các địa phương. Hiện nay du lịch phát triển ở
các làng nghề đang ngày một tân tiến, đa dạng.
Các tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể khác như phong tục tập
quán, nghệ thuật hát múa, diễn xướng dân gian, trang phục truyền thống dân
tộc,… tạo sức hút đối với khách du lịch đều được coi là nguồn tài nguyên
phục vụ cho phát triển du lịch. Phát triển các nguồn tài nguyên du lịch quý giá
trên tạo điều kiện cho ngành du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội Việt Nam nói
chung ngày một đi lên hơn nữa.
1.1.2. Sự cần thiết phải bảo vệ tài nguyên du lịch
Từ những phân tích trên cho thấy tài nguyên du lịch có giá trị quan
trọng và rất cần thiết cho sự phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống của
các quốc gia trong đó có Việt Nam. Để phát huy ở mức cao nhất các tác dụng
của tài nguyên du lịch thì việc bảo vệ nguồn tài nguyên này vừa là đòi hỏi
mang tính khách quan vừa là yêu cầu của công tác quản lý nhà nước trong
lĩnh vực du lịch.
Theo cách hiểu phổ thông thì bảo vệ tài nguyên du lịch là việc chống lại
mọi sự hủy hoại, xâm phạm đến các loại tài nguyên du lịch để giữ cho tài
nguyên du lịch được nguyên vẹn đúng như giá trị của nó. Còn từ phương diện
quản lý thì bảo vệ tài nguyên du lịch là việc xác định một cách có căn cứ các
nguồn tài nguyên du lịch cần bảo vệ; xác định trách nhiệm của Nhà nước;
nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch, tạo điều kiện để có thể khai thác một cách
hiệu quả nhất các tiềm năng của nó. Tổ chức lãnh thổ du lịch hợp lý sẽ góp
phần tạo nên hiệu quả cao trong việc khai thác các tài nguyên du lịch nói
riêng cũng như trong mọi hoạt động du lịch nói chung.
Thứ hai, bảo vệ tài nguyên du lịch đóng vai trò quan trọng trong quá
trình lưu giữ các di tích lịch sử và giá trị bản sắc văn hóa riêng của dân tộc.
Di tích lịch sử văn hoá là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hoá 15
lâu đời của dân tộc, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc
trưng văn hoá, về cội nguồn và truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước
hào hùng, vĩ đại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời là một bộ
phận cấu thành kho tàng di sản văn hoá nhân loại.Với những giá trị như trên,
các di tích lịch sử văn hoá là bộ phận đặc biệt trong cơ cấu "tài nguyên du
lịch". Các di tích đó, cả về mặt nội dung lẫn hình thức, đều có khả năng tạo
nên sức hấp dẫn mạnh mẽ. Việc bảo tồn, lưu giữ tài nguyên du lịch góp phần
giữ gìn bản sắc văn hóa riêng của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền khác nhau.
Thứ ba, giữa tài nguyên du lịch với sự phát triển kinh tế - xã hội quốc
gia có mối quan hệ tương hỗ.
Phát triển du lịch mang lại nhiều lợi ích cho mỗi quốc gia. Nếu có một
nguồn tài nguyên du lịch phong phú có thể giúp quốc gia đó phát triển các loại
hình du lịch đa dạng, mạng lại nguồn thu nhập cao, qua đó tạo điều kiện cho
kinh tế - xã hội phát triển. Hơn thế nữa, du lịch không những tạo ra của cải và
việc làm cho nội bộ ngành Du lịch mà còn cho cả những ngành khác nữa. Vào
thời điểm nhiều ngành kinh tế phải đối mặt với những khó khăn về tiêu dùng
trong nước thì du lịch không những trực tiếp mang lại doanh thu từ xuất khẩu,
mà còn gián tiếp tác động đáng kể thông qua chuỗi giá trị to lớn của ngành.
Mặt khác, du lịch còn giúp giảm nghèo và hỗ trợ phát triển. Du lịch
chiếm 45% kim ngạch xuất khẩu của các quốc gia đang phát triển và chính
của chùa Chân Tiên trên phố Bà Triệu, thành phố Hà Nội đã bị kẻ gian đột
nhập lấy mất [26], hay việc sử dụng sự chủ quan của khách du lịch để móc
túi, trộm cắp đồ, lèo kéo khách hàng, những hành vi dụ dỗ khách vào những
loại hình văn hóa đồ trụy
Hay tại nhiều khu di tích, du khách đã viết tên, khắc tên lên các bộ phận di
tích một cách bừa bãi. Bụi bặm, khói xăng dầu, rác thải gây ô nhiễm, ảnh hưởng
không ít đến di tích. Mặt khác, trách nhiệm bảo vệ giữ gìn các di tích, tài nguyên 17
du lịch không được phân công rõ ràng và sự phối hợp giữa nhà chức trách với
người sử dụng, khai thác còn lỏng lẻo. Hiện tượng đó dẫn đến tình trạng khai
thác bừa bãi, vô trách nhiệm hoặc bỏ mặc cho các di tích xuống cấp.
Bên cạnh đó, việc đầu tư nâng cấp các di tích với tư cách là một sản
phẩm du lịch chưa được triển khai trong một quy chế chặt chẽ và toàn diện,
trong đó có tính đến yếu tố du lịch. Còn phổ biến tình trạng giao khoán cải tạo
thậm chí được phó mặc cho những người quản lý, đầu tư tự sáng tạo theo ý
mình trong trùng tu, tôn tạo, xây mới bằng các biện pháp chặt cây, phá núi;
xây bậc xi măng thay cho vẻ đẹp của đất và đá tự nhiên; thay gạch, bê tông
cho các cấu kiện gỗ; dùng sơn công nghiệp thay cho sơn thủ công trong trang
trí kiến trúc làm mất đi vẻ đẹp ban đầu, mất đi những “phần hồn” của các di
tích như trường hợp chùa Trấn Quốc, chùa Thiên Phúc (Cửa Nam), chùa Kim
Liên, đình Yên Phụ, chùa Hương, đền Voi Phục, phủ Tây Hồ đều ở Hà Nội
Những lỗ hổng trong cách quản lý đó dẫn đến hậu quả khôn lường, không
những không có tác dụng thu hút du khách mà ở một chừng mực nhất định
còn làm phương hại đến hình ảnh của điểm du lịch, hình ảnh chung về nền
văn hoá của cả quốc gia. Nếu không sớm khắc phục, chúng ta sẽ có lỗi rất lớn
với lịch sử. Hơn nữa, thực tế còn tồn tại một mâu thuẫn khá lớn giữa nhu cầu
phát triển kinh tế đất nước và yêu cầu của những nguyên tắc, cách thức bảo
tồn di tích. Nhận thức của cộng đồng về giá trị của di sản văn hoá chưa thật
lịch nói riêng và sự phát triển kinh tế, xã hội nói chung.
So với pháp luật bảo vệ các nguồn tài nguyên khác, pháp luật bảo vệ tài
nguyên du lịch có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch là một bộ phận quan
trọng trong pháp luật về du lịch. Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố
cơ bản, điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển du lịch. Số lượng tài
nguyên vốn có, chất lượng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên
khác có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển du lịch. Hiện nay, một số loại tài 19
nguyên du lịch đã và đang bị xâm hại nghiêm trọng. Theo đó, để bảo vệ tài
nguyên du lịch cần phải có những quy định pháp luật cụ thể điều chỉnh. Pháp
luật bảo vệ tài nguyên du lịch bao gồm những quy phạm pháp luật điều chỉnh
các vấn đề liên quan đến bảo vệ các tài nguyên du lịch nhằm làm cho ngành
Du lịch phát triển bền vững, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.
Chính vì vậy, nó không thể tách rời với pháp luật du lịch.
Thứ hai, phạm vi điều chỉnh của pháp luật về bảo vệ tài nguyên du lịch
rất rộng, liên quan đến nhiều loại tài nguyên du lịch khác nhau; nhiều chủ thể
khác nhau trong việc bảo vệ tài nguyên du lịch và được thể hiện trong nhiều
văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Chẳng hạn: Luật Di sản văn hóa năm
2001 quy định về các hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hóa, xác định
quyền và nghĩa vụ của các tổ chức cá nhân đối với di sản văn hóa; Luật Bảo
vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định về bảo vệ các khu rừng đặc dụng,
các Vườn quốc gia, khu bảo tồn cảnh quan; quy định quyền và nghĩa vụ của
cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ di sản thiên nhiên;… Giữa các
văn bản trên luôn có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau tạo thành hệ
thống pháp luật chung bảo vệ tất cả các nguồn tài nguyên du lịch, từ tài
nguyên du lịch tự nhiên đến tài nguyên du lịch nhân văn.
Thứ ba, các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ tài nguyên du lịch
yếu trong việc duy trì sự tồn tại của các nguồn tài nguyên du lịch. Tôn tạo là
việc sửa chữa những chỗ bị hư hỏng, mai một của một tài nguyên du lịch nào
đó, khôi phục lại những giá trị vốn có của tài nguyên du lịch khiến cho tài
nguyên du lịch đó được bảo lưu lâu dài hơn, bền vững hơn.
Không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch một cách
thụ động, các hoạt động khai thác các nguồn tài nguyên du lịch cũng cần được
chú ý. Khai thác hợp lý tài nguyên du lịch là việc con người sử dụng các
nguồn tài nguyên vào mục đích phục vụ cho phát triển kinh tế du lịch, song