Tài nguyên du lịch biển Việt Nam cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*******

MAI HIÊN TÀI NGUYÊN DU LỊCH BIỂN VIỆT NAM
CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH NGHỈ DƢỠNG
CHUYÊN NGÀNH: DU LỊCH HỌC
(CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN PHÚ ĐỨC

29
Tiểu kết chương 1
35
CHƢƠNG 2. TÀI NGUYÊN DU LỊCH NGHỈ DƢỠNG BIỂN VIỆT NAM

2.1. Khái quát về biển và tài nguyên biển Việt Nam
37
2.2. Tài nguyên du lịch nghỉ dƣỡng biển Việt Nam
43
2.2.1. Khí hậu hải dƣơng
46
2.2.2. Bãi tắm và mặt nƣớc ven bờ
52
2.2.3. Phong cảnh vùng ven bờ
58
2.2.4. Hải đảo
63
2.2.5 Đánh giá chung
67
Tiểu kết chương 2
82
CHƢƠNG 3. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC
TÀI NGUYÊN DU LỊCH NGHỈ DƢỠNG BIỂN VIỆT NAM

3.1. Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nghỉ dƣỡng biển
84
3.1.1. Khai thác chƣa tƣơng xứng với tiềm năng và chƣa hiệu quả
84
3.1.2. Các khu nghỉ dƣỡng biển cao cấp hạn chế về số lƣợng và khả
năng cạnh tranh


Bảng phân loại khí hậu tốt - xấu đối với sức khoẻ
Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con ngƣời
Nhiệt độ trung bình các vùng địa lý của Việt Nam tại
một số thời điểm trong năm
Lƣợng vi khuẩn, lƣợng bụi, lƣợng CO
2
trong không khí
tại một số vùng biển Việt Nam
Các chỉ tiêu đánh giá bãi tắm
Những điều kiện tốt cho một bãi tắm
Bảng nhiệt độ bình quân tháng
Bảng phân bố lƣợng mƣa trong năm
Số lƣợt khách du lịch quốc tế đến các tỉnh ven biển
giai đoạn 1995 - 2003
Lƣợng khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995-
2003
Số lƣợt khách du lịch nội địa đến các tỉnh ven biển giai
đoạn 1995 - 2003
Thu nhập xã hội từ hoạt động du lịch biển giai đoạn
1995 - 2003
Số lƣợng resort ở Việt Nam tính đến hết năm 2005


1. Lý do chọn đề tài
Biển và đại dƣơng chiếm khoảng 71% diện tích bề mặt trái đất. Con
ngƣời thực chất đang sống trên những hòn đảo khổng lồ giữa các đại d-
ƣơng mênh mông của một quả cầu nƣớc. Đƣợc sinh ra và tiến hoá trên bề
mặt các hòn đảo đó, từ lâu con ngƣời vẫn sống chủ yếu dựa vào diện tích
canh tác hạn chế trên đất liền. Ngày nay, con ngƣời đang đứng trong tƣ thế
tiến chiếm các vùng nƣớc mênh mông, giàu có và khai thác biển trở nên
bức thiết khi các giá trị tài nguyên trên lục địa ngày càng bị suy thoái, cạn
kiệt trƣớc sức ép của gia tăng dân số và tốc độ khai thác. Những hoạt động
của con ngƣời trên biển đã tạo ra một hình thái kinh tế mới - kinh tế biển.
Hội nghị lần thứ tƣ Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá X năm
2007 đã ra "Nghị quyết về chiến lƣợc biển đến năm 2020" xác định: "
phấn đấu đưa kinh tế biển đóng góp khoảng 53% - 55% GDP và 55% -
60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước", trong đó mức đóng góp của du
lịch biển trong tổng GDP của nền kinh tế biển vào khoảng 14 - 15%. "Trở
thành một nước mạnh về biển là mục tiêu chiến lược xuất phát từ yêu cầu
và điều kiện khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam". (Nghị quyết 03 NQ/TW của Bộ Chính trị - khoá VII). Nếu không
phát triển kinh tế biển thì Việt Nam sẽ có nguy cơ tụt hậu ngày càng xa so
với các nƣớc trong khu vực đang vƣơn mạnh ra biển.
Trên phạm vi toàn thế giới, du lịch biển và hải đảo có vị trí đặc biệt
quan trọng trong hoạt động phát triển du lịch và các ngành kinh tế biển.
Theo thống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới, hàng năm số lƣợng khách du
lịch quốc tế tham gia vào các hoạt động du lịch biển chiếm khoảng 80% tổng số khách. Các nƣớc có du lịch biển phát triển nhƣ Pháp, Mỹ, Tây Ban
Nha, Italia là những nƣớc đứng đầu về lƣợng khách quốc tế. Mặt khác,
do sự phân bố về mặt địa lý kinh tế, phần lớn trung tâm công nghiệp, đô thị
lớn ở các nƣớc đều tập trung ở vùng ven biển. Chính vì vậy, ngoài lƣợng

phát triển kinh tế biển và toàn bộ nền kinh tế - xã hội.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục tiêu nêu trên, đề tài tập trung nghiên cứu và làm rõ
những vấn đề chính sau:
- Lý luận về loại hình du lịch nghỉ dƣỡng; thành phần, đặc điểm,
tính chất của tài nguyên du lịch nghỉ dƣỡng biển. Đây là những vấn đề lý
luận làm căn cứ để nhận diện tài nguyên du lịch nghỉ dƣỡng biển ở Việt
Nam.
- Tài nguyên du lịch nghỉ dƣỡng biển Việt Nam: liệt kê, đánh giá sự
phù hợp, sự hấp dẫn của những loại tài nguyên cơ bản; chỉ ra khu vực có
nhiều thuận lợi về mặt tài nguyên; đánh giá điều kiện khai thác tài nguyên.
- Thực trạng khai thác, sử dụng tài nguyên du lịch nghỉ dƣỡng biển.
- Định hƣớng nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng tài nguyên bền
vững.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là tài nguyên du lịch nghỉ dƣỡng
biển Việt Nam.
Đây là một vấn đề tƣơng đối rộng. Vì vậy, phạm vi nghiên cứu đƣợc
giới hạn là những loại tài nguyên thiên nhiên có giá trị khai thác cho loại
hình du lịch nghỉ dƣỡng của vùng bờ biển (coastal zone) Việt Nam.
Có rất nhiều cách xác định vùng bờ biển dựa trên các quan điểm địa
động lực, địa sinh thái, quản lý phát triển Theo quan điểm phát triển du
lịch thì "vùng bờ biển" là khoảng không gian hẹp trong phạm vi tƣơng tác
biển - lục địa mà tại đó có các tài nguyên du lịch thu hút du khách. Đó
thƣờng là vùng bờ biển cát có bãi tắm, các vách biển và dải đất hẹp ven biển dùng để phát triển cơ sở hạ tầng du lịch, rừng ngập mặn, ám tiêu san
hô, vùng vịnh, đầm phá, cồn cát [25] Các loại tài nguyên du lịch nghỉ
dƣỡng biển chủ yếu đƣợc xác định bao gồm: khí hậu hải dƣơng, bãi tắm,

khả thi.
- Phƣơng pháp lấy ý kiến chuyên gia
Tác giả đã tham khảo ý kiến đánh giá của TS Phạm Trung Lƣơng -
Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch và PGS.TS Nguyễn Chu Hồi - Viện
Kinh tế & Quy hoạch Thuỷ sản, Bộ Thuỷ sản - những tác giả có nhiều
công trình nghiên cứu về biển - về tiềm năng du lịch nghỉ dƣỡng của Việt
Nam và hiện trạng khai thác. Những nhận định của các chuyên gia định
hƣớng nghiên cứu cho tác giả.
- Phƣơng pháp xử lý bằng công cụ tin học
5. Lƣợc sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về biển Đông có lịch sử lâu đời. Các kết quả nghiên cứu
đã đƣợc ghi chép và mô tả trong sử sách nhƣ: Dƣ địa chí của Nguyễn Trãi
(1435), Toản tập thiên nam tứ chí lộ đồ của Đỗ Bá (1630), Phủ biên tạp lục
của Lê Quý Đôn (1776), Lịch triều hiến chƣơng loại chí của Phan Huy
Chú (1821), Phƣơng đình dƣ địa chí của Nguyễn Siêu (1900) Năm 1927,
Viện Hải dƣơng học đƣợc thành lập ở Nha Trang với vị giám đốc đầu tiên
là A.Krempf - một nhà sinh vật học nổi tiếng - đã đánh dấu bƣớc tiến trong
công cuộc nghiên cứu biển Đông. Các công trình nghiên cứu của Viện Hải
dƣơng học tập trung về thuỷ triều, sinh vật và cá biển. Hệ thống cơ quan
quan trắc đƣợc dựng lên ở ven bờ và trên biển có nhiệm vụ thƣờng xuyên
nhiệt độ và độ muối. Năm 1954 thành lập thêm Trạm Nghiên cứu biển ở
Hải Phòng. Kết quả nghiên cứu về biển Đông ngày càng nhiều nhƣ:
"Nguồn lợi sinh vật biển Đông" (1979), "Biển Đông tài nguyên thiên nhiên
và môi trƣờng" của Vũ Trung Tạng (1997); "Thuỷ triều vịnh Bắc
Bộ"(1976), "Thuỷ triều vùng biển Việt Nam" (1984), "Thiên nhiên vùng
biển nƣớc ta" (1978) của tác giả Nguyễn Ngọc Thụy; "Địa lý tự nhiên biển
Đông" (1999) của Nguyễn Văn Âu Thông tin về biển Đông đƣợc cập nhật phong phú qua báo cáo định kỳ hàng năm của các cơ quan nghiên cứu

thái Cù Lao Chàm", "Thực trạng và định hƣớng phát triển du lịch khu vực
từ Thanh Hoá đến Quảng Trị" (phối hợp với Đại học Quốc gia Hà Nội);
"Cơ sở khoa học phát triển du lịch vũng - vịnh ở Việt Nam" (phối hợp với
Phân viện Hải dƣơng học Hải Phòng) Kết quả của các nghiên cứu này
không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà bƣớc đầu đã phát huy tác dụng
trong thực tế quy hoạch và phát triển du lịch biển, đặc biệt là trong việc
xây dựng phát triển các khu du lịch, các tuyến điểm du lịch, các sản phẩm
du lịch biển. Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch đã tiến hành lập "Quy
hoạch tổng thể phát triển du lịch tiểu vùng duyên hải Đông Bắc giai đoạn
2000 - 2020" với các nội dung chính: xác định vai trò của hệ thống đảo ven
bờ Đông Bắc, xác định tiêu chuẩn, chức năng du lịch của hệ thống đảo ven
bờ Đông Bắc, chiến lƣợc phát triển thị trƣờng, chiến lƣợc đầu tƣ phát triển
sản phẩm du lịch, định hƣớng tổ chức không gian du lịch. Tuy nhiên, bản
quy hoạch này chƣa đánh giá đƣợc hết thực tế giá trị của khu vực đảo còn
ở dạng tiềm ẩn, định hƣớng bảo tồn và khai thác các giá trị còn chƣa toàn
diện. Năm 2003, Tổng cục Du lịch đã phối hợp với chuyên gia của Tổ
chức Thƣơng mại Thế giới WTO triển khai giai đoạn đầu dự án Quy hoạch
tổng thể phát triển du lịch đảo Phú Quốc. Ngày 25/7/2007, tại Mũi Né
(Phan Thiết) Tổng cục Du lịch Việt Nam và Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình
Thuận tổ chức hội thảo “Quản lý và phát triển du lịch biển đảo” để thu
thập thêm thông tin nhằm hoàn chỉnh đề án phát triển du lịch biển đảo
trình chính phủ vào cuối năm 2007.
Các công trình đánh giá tài nguyên biển đảo Việt Nam có chung kết
luận về sự đa dạng, phong phú, giá trị sử dụng cao của tài nguyên biển đảo
Việt Nam và khẳng định tiềm năng về tài nguyên cho phép Việt Nam phát
triển nhiều loại hình du lịch biển. Những nhận định còn chung chung và
định tính nhƣ "có thể nói dọc ven bờ biển nƣớc ta, hầu nhƣ quanh năm và
khắp nơi đều có thể tìm đƣợc những nơi nghỉ mát khá tốt, những bãi tắm
đẹp hay những cảnh đồng núi, hang động ngoạn mục ". Tuy nhiên rõ ràng


CHƢƠNG 1
DU LỊCH NGHỈ DƢỠNG VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NGHỈ
DƢỠNG
1.1. Du lịch nghỉ dƣỡng (leisure tourism)
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm loại hình du lịch nghỉ dƣỡng
Theo tác giả Trƣơng Sỹ Qu‎ý, loại hình du lịch đƣợc định nghĩa nhƣ
sau:
"Loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có
những đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thoả mãn những nhu cầu, động
cơ du lịch tương tự, hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc
vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc đ-
ược xếp chung theo một mức giá bán nào đó". [20]
Có thể dựa vào các tiêu thức: mục đích chuyến đi; thời gian đi du
lịch, vị trí địa lý của nơi đến du lịch; phƣơng tiện lƣu trú đƣợc sử dụng
để phân chia thành các loại hình du lịch. Cũng có thể căn cứ vào các tiêu
chí trên để làm sáng tỏ khái niệm về một loại hình du lịch cụ thể và để
phân biệt với các loại hình du lịch khác.
Loại hình du lịch nghỉ dƣỡng là tập hợp các sản phẩm du lịch
nhằm thoả mãn nhu cầu, động cơ du lịch để nghỉ ngơi, an dƣỡng, phục
hồi sức khoẻ.
Chuyến đi của con ngƣời có thể có mục đích thuần túy du lịch tức là

Học tập nghiên cứu
Thể thao
Kinh doanh
Công tác
Chữa bênh
Thăm thân
Tín ngƣỡng
Khác học giả xếp du lịch nghỉ dƣỡng và du lịch chữa bệnh vào cùng một nhóm
du lịch sức khoẻ (heath tourism).
Song khác với việc đi điều dƣỡng thông thƣờng, khách hàng của du
lịch nghỉ dƣỡng hay du lịch chữa bệnh mang tâm lý của ngƣời muốn h-
ƣởng thụ, ngƣời đi chơi nhiều hơn tâm lý của một ngƣời có bệnh cần điều
trị. Họ là ngƣời nêu ra yêu cầu và đòi hỏi sự phục vụ chu đáo. Địa điểm họ
lựa chọn không phải là những trạm điều dƣỡng hay bệnh viện "lạnh ngắt"
mà họ tìm đến những nơi vừa có thể nằm dài tắm nắng dƣới hàng cọ ven
biển, thăm thú các cảnh đẹp xung quanh vừa có thể nghỉ dƣỡng, chữa
bệnh. Trên phạm vi thế giới hiện tại, dòng khách du lịch chữa bệnh chảy từ
các nƣớc Bắc Mỹ, Trung Đông, Tây Âu sang Ấn Độ, các nƣớc Đông Ấn
và Nam Mỹ vì đó là ba khu vực không chỉ có chất lƣợng y tế, chăm sóc
sức khoẻ ngang bằng với bất cứ nơi nào trên thế giới, giá cả thấp mà còn
có nhiều điểm du lịch hấp dẫn, nhiều địa chỉ để mua sắm, khám phá và
những bãi biển lý tƣởng. Mặt khác, nếu khách du lịch nghỉ dƣỡng coi
trọng yếu tố khí hậu, chất lƣợng môi trƣờng, mức độ tiện nghi của cơ sở hạ
tầng và sự đồng bộ của các dịch vụ thì với khách đi du lịch chữa bệnh, mối
quan tâm số một là sự an toàn, hiệu quả của các phƣơng pháp điều trị, tiếp
theo mới là các ƣu tiên khác.
Địa chỉ cho các chuyến nghỉ dƣỡng thƣờng các bãi biển, các vùng

kinh tế phát triển rất đa dạng. Bên cạnh nhu cầu giải trí cuối tuần, hàng
năm nhân dân còn đòi hỏi những đợt nghỉ dài ngày ở vùng biển, trên núi,
trong nƣớc hoặc ở nƣớc ngoài. Mức lƣơng, phúc lợi, chính sách xã hội của
ngƣời dân ở các nƣớc phát triển thuận lợi ngay cả cho những ngƣời có mức
thu nhập trung bình cũng có thể thực hiện những kỳ nghỉ dài ngày, sang
trọng tại các nƣớc kinh tế chậm phát triển hơn.
Căn cứ theo độ tuổi thì khách hàng tiềm năng nhất của loại hình du
lịch nghỉ dƣỡng là nhóm đối tƣợng trong độ tuổi thứ ba. Đó là những ng-
ƣời về hƣu có nhiều thời gian rỗi, có tiền tích lũy, kinh tế độc lập lại ở độ tuổi mà sức khoẻ giảm sút nên rất quan tâm tới sức khoẻ, đặc biệt có nhu
cầu đi du lịch nghỉ dƣỡng.
Khách hàng tiềm năng của du lịch nghỉ dƣỡng ngoài ra còn phải kể
đến những đôi tình nhân có nhu cầu đi hƣởng tuần trăng mật, kỷ niệm đám
cƣới bạc, vàng ở những khu nghỉ dƣỡng đẹp và tiện nghi để đƣợc thêm
nhiều thời gian bên nhau và tăng thêm "gia vị" cho cuộc sống lứa đôi.
Du khách nghỉ dƣỡng thƣờng yêu cầu nhiều dịch vụ, các dịch vụ
có chất lƣợng cao và sự đồng bộ về chất lƣợng giữa các dịch vụ.
Với một số loại hình du lịch nhƣ du lịch nghiên cứu khoa học, du
lịch sinh thái, để đạt đƣợc mục đích tìm hiểu về thế giới tự nhiên và những
nền văn hoá bản địa, du khách không đặt cao vấn đề ăn uống hay chỗ ở, họ
có thể chấp nhận sự thiếu thốn về cơ sở vật chất. Song đối với du lịch nghỉ
dƣỡng, họ quan tâm đến chất lƣợng bữa ăn, chất lƣợng của giấc ngủ, chất
lƣợng của các bài tập vận động vì từng yếu tố đều có ảnh hƣởng tới sức
khoẻ của họ và sự đồng bộ của chúng làm nên chất lƣợng của kỳ nghỉ. Khu
nghỉ dƣỡng ngoài việc phải toạ lạc ở nơi có phong cảnh thiên nhiên đẹp,
còn cần phải có thiết bị và tiện nghi phù hợp nhƣ bể bơi, phòng massage,
phòng điều dƣỡng đƣợc xây dựng trên một cơ sở hạ tầng đảm bảo.
Trong thời gian nghỉ dƣỡng tƣơng đối dài, du khách có thể không

(có những resort có diện tích bằng cả một thành phố nhỏ) với hoạt động
tổng hợp của nhiều loại dịch vụ nhƣ phục vụ ăn uống, phòng nghỉ, thể
thao, giải trí và mua sắm. Tại các resort, ngƣời ta nỗ lực làm tất cả để cung
cấp đầy đủ các phƣơng tiện và tiện nghi nhằm giữ chân khách trong suốt
kỳ nghỉ dài mà không cần phải tìm đến một dịch vụ nào khác.
Resort thƣờng là những khu biệt lập, nằm ở những khu vực xa trung
tâm thành phố, xa khu vực tập trung đông dân cƣ, khí hậu trong lành. Trên
thực tế, chúng ta thấy rằng tại trung tâm đô thị lớn nhƣ Hà Nội có rất
nhiều lợi thế về các cơ sở lƣu trú cao cấp nhƣng không xây khu nghỉ
dƣỡng, trong khi tỉnh phụ cận nhƣ Hoà Bình lại có thể mở rộng các khu
nghỉ dƣỡng. Resort có các loại: seaside resort nằm ven biển; ski resort toạ lạc
trong vùng núi cao có tuyết phủ dày thích hợp để làm các đƣờng trƣợt
tuyết; golf resort với các sân golf đi kèm; mega resort tổng hợp các loại
hình dịch vụ lƣu trú đƣợc trang trí và thiết kế tuân theo một chủ đề nào
đó 1.1.2 Lịch sử và triển vọng phát triển du lịch nghỉ dƣỡng
Du lịch xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài ngƣời, buổi ban đầu
thƣờng đi kèm với các hoạt động truyền giáo, buôn bán hoặc thám hiểm
các vùng đất mới. Từ cuối thế kỷ XVII, do thành quả của cuộc đại cách
mạng khoa học kỹ thuật dẫn đến sự bắt đầu của hình thái xã hội công
nghiệp. Hoạt động sản xuất của con ngƣời đƣợc thay đổi tận gốc. Lao động
chân tay giảm xuống với tốc độ nhanh chóng song cƣờng độ, sự căng
thẳng trong lao động lại tăng lên với tốc độ tƣơng ứng. Sự tập trung quá
đông số ngƣời trong các trung tâm công nghiệp lớn, bầu không khí bị các
xí nghiệp công nghiệp làm bẩn, ô nhiễm tiếng ồn làm các bệnh trầm cảm,

Sau đó, có sự chia sẻ dòng khách nghỉ biển sang vùng bờ Đại Tây
Dƣơng của Bồ Đào Nha, bờ Đại Tây Dƣơng của Tây Ban Nha từ Costa de
Sol đến Costa Brava
Nửa sau thế kỷ XIX, đặc biệt từ năm 1880, các trạm nghỉ dƣỡng
biển không những phát triển dọc bờ biển của các nƣớc phát triển mà ở cả
một số nƣớc đang phát triển nhƣ Ai Cập, Giamaica, Mêhicô
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, chính sách về những kỳ nghỉ đông
có lƣơng ra đời, có thêm dòng khách nghỉ dƣỡng về các vùng tuyết phủ
trên dãy Alpes, Pirrénees, Jura, Carpate kéo theo sự ra đời của các trung
tâm nghỉ dƣỡng núi.
Sang thế kỷ XXI, với đà phát triển của khoa học kỹ thuật và công
nghệ, con ngƣời cố gắng làm cho cuộc sống cá nhân trở nên dễ chịu và
thuận tiện hơn bằng cách tạo ra những môi trƣờng kỹ thuật nhỏ bao quanh
mình, làm cho cuộc sống của chính mình ngày càng xa rời tự nhiên. Trong
khi đó với tƣ cách là một thực thể của tự nhiên, con ngƣời lại muốn quay về gần thiên nhiên. Môi trƣờng tự nhiên trong lành trở thành một mặt hàng
"xa xỉ" ao ƣớc với nhiều ngƣời. Các loại hình du lịch trở về với thiên nhiên
đang trở thành một xu thế và nhu cầu phổ biến của con ngƣời, đặc biệt khi
cuộc sống của họ ngày càng đầy đủ. Địa chỉ cho những chuyến trở về với
thiên nhiên đó thƣờng là những nơi có không khí trong lành, khí hậu dễ
chịu, phong cảnh ngoạn mục nhƣ các bãi biển, các vùng ven bờ nƣớc, vùng
núi, vùng nông thôn hay các khu rừng nguyên sinh Xu hƣớng giảm giờ
lao động, giảm tuổi về hƣu, tăng các phúc lợi xã hội tạo điều kiện cho du
khách thực hiện mong ƣớc về các chuyến nghỉ dƣỡng dài ngày. Cơ cấu độ
tuổi thay đổi, tỷ trọng dân ở độ tuổi thứ ba gia tăng tại các nƣớc có nền
kinh tế phát triển trên thế giới, cung cấp lƣợng khách lớn và ổn định cho
du lịch nghỉ dƣỡng.
Trên phạm vi toàn thế giới, hiện nay hƣớng vận động của khách du

Hawai, Mỹ
85.64
4
2
Kaui

Hawai, Mỹ
85.03
5
10
Great Barrier Reef
islands

84.50
6
*
Vancouver island

Canada
84.49
7
*
Cyclades
Hy Lạp
84.46
8
7

thƣởng ngoạn. Khải Định chọn Lăng Cô là nơi nghỉ mát và đặt tên là Hành
cung Tịnh Viên. Còn Bảo Đại xây biệt thự nghỉ dƣỡng ở hầu khắp những
nơi có cảnh đẹp và khí hậu ôn hoà nhƣ ở Hải Phòng, Đà Lạt Cho đến
những năm 60 của thế kỷ XX, ngành du lịch Việt Nam chƣa phát triển
nhiều loại hình du lịch, chủ yếu là loại hình tắm và nghỉ dƣỡng biển. Đối
tƣợng đƣợc hƣởng chế độ nghỉ dƣỡng hạn chế trong số ít quan chức nhà
nƣớc và một số chuyên gia nƣớc ngoài làm việc tại Việt Nam. Du lịch mới
chỉ thực sự đƣợc khuấy động từ khoảng 1990 đến nay. Trƣớc đó, tâm lý
nghi ngại ngƣời ngoại quốc (sự e ngại về sự nhập cảnh của các phần tử xấu
gián điệp ) làm cho cánh cửa mở ra thế giới không đƣợc rộng thoáng.
Còn du lịch trong nƣớc hầu nhƣ không tồn tại vì sự đi lại không dễ dàng.
Mỗi một bộ, ngành đều dùng công quỹ xây dựng cho mình những nhà nghỉ để hàng năm đến mùa hè đón tiếp những cán bộ công nhân viên chức đƣợc
phân phối đi nghỉ mát, mọi chi phí do công đoàn bao cấp. Những cải thiện
về chính sách đối ngoại đã giúp cho ngành du lịch phát triển nhanh.
Ngày nay, du lịch ngày càng đƣợc ghi nhận nhƣ một sở thích, một
hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con ngƣời. Đối với xã hội, du lịch có vai
trò giữ gìn, phục hồi sức khoẻ và tăng cƣờng sức sống cho ngƣời dân.
Trong một chừng mực nào đó du lịch có tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài
tuổi thọ và khả năng lao động của con ngƣời. Theo các công trình nghiên
cứu về y sinh học của Crivosev, Dorin, 1981, nhờ chế độ nghỉ ngơi và du
lịch tối ƣu, bệnh tật của dân cƣ giảm trung bình 30%. Phát triển loại hình
du lịch nghỉ dƣỡng khơi dậy một trào lƣu nghỉ ngơi giải trí tích cực, góp
phần vào việc hồi phục sức khoẻ cũng nhƣ khả năng lao động, đảm bảo tái
sản xuất và mở rộng lực lƣợng lao động với hiệu quả kinh tế rõ ràng.
Việc tiếp xúc, tắm mình trong thiên nhiên, đƣợc cảm nhận một cách
trực giác sự hùng vĩ, trong lành, tƣơi mát và nên thơ của các cảnh quan tự
nhiên có ý nghĩa to lớn đối với du khách. Nó tạo điều kiện cho họ hiểu biết

thể tạo ra liên tục và đƣợc con ngƣời sử dụng lâu dài nhƣ rừng, các loài
thuỷ hải sản ở sông hồ, biển, độ phì nhiêu của đất Tài nguyên không có
khả năng tự phục hồi gồm các khoáng vật hay các nguyên nhiên vật liệu
nhƣ than, dầu mỏ, gas tự nhiên đƣợc tạo thành trong suốt quá trình hình
thành và phát triển của vỏ trái đất. Các tài nguyên này có một khối lƣợng
nhất định và bị hao hụt dần sau khi đƣợc khai thác để phục vụ cho sự phát
triển kinh tế, khoa học kỹ thuật của nhân loại. Trong suốt quá trình sống,
con ngƣời đã liên tục can thiệp vào giới tự nhiên, do đó một số trƣờng hợp
tài nguyên có khả năng phục hồi sẽ biến thành tài nguyên không có khả
năng phục hồi. Vì vậy, khái niệm tài nguyên có thể phục hồi và không thể
phục hồi chỉ mang ý‎nghĩa tƣơng đối mà thôi.
* Các nguồn tài nguyên biển

Trích đoạn Vai trũ của tài nguyờn du lịch Tiểu kết chƣơng Khớ hậu hải dƣơng Phong cảnh vựng ven bờ Tài nguyờn du lịch nghỉ dƣỡng vựng biển Việt Nam khụng chỉ phong phỳ, đa dạng mà cũn đặc sắc, độc đỏo làm cơ sở cho việc xõy
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status