hoàn thiện chính sách về quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản ở việt nam - Pdf 21

Đề tài: Hoàn thiện chính sách về quản lý nhà nước Thực hiện: Nhóm II
về tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam
Đề tài
Hoàn thiện chính sách về quản lý nhà nước
về tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam
Mục lục
Sự cần thiết nghiên cứu đề tài 3
Chương I. Các vấn đề chung và Chính sách quản lý nhà nước 5
về tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam 5
1.1. Tình hình chung về quản lý, sử dụng tài nguyên khoáng sản 5
1.2. Các khái niệm chung 12
1.2.1. Khoáng sản 12
1.2.2. Chính sách quản lý 16
1.2.3. Sự cần thiết quản lý 19
1.3. Chính sách, pháp luật hiện hành về quản lý tài nguyên 24
1.3.1. Quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản 24
1.3.2. pháp luật (luật tài nguyên khoáng sản) 26
1.4. Các công cụ khác 34
1.4.1. Quyết định cá biệt 34
1.4.2. Công văn 40
1.4. Một số chính sách thuế đối với hoạt động khai thác tài nguyên 42
Chương II. Thực trạng quản lý tài nguyên khoáng sản 46
2.1. Tình hình quản lý về tài nguyên khoáng sản 46
2.1.1. Công tác điều tra thăm dò 47
2.1.2. Công tác lập quy hoạch, chiến lược 47
2.1.3. Công tác cấp phép hoạt động khoáng sản 47
2.1.4. Sử dụng công nghệ trong ngành khai khoáng 48
2.2. Quản lý nhà nước về một số loại khoáng sản đặc biệt 49
2.2.1. Nhóm khoáng sản năng lượng gồm có dầu khí, than khoáng, urani và địa nhiệt 49
2.2.2. Nhóm khoáng sản kim loại 50
2.2.3. Nhóm khoáng chất công nghiệp 51

có hiệu quả tài nguyên khoáng sản trong lòng đất.
Khoáng sản là tài nguyên có hạn, hầu hết không tái tạo. Vì vậy, trong
nhiều thập kỷ gần đây, Chính phủ cũng như các nhà nghiên cứu nhiều nước trên
thế giới đã đưa ra những lời cảnh báo về tình trạng cạn kiệt tài nguyên khoáng
sản. Trong số các nguyên nhân làm cho tài nguyên khoáng sản cạn kiệt nhanh
chóng có những nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Nguyên nhân khách quan đó là tài nguyên không tái tạo được, trong khi
đó nhu cầu về nguyên liệu khoáng cho sự phát triển đòi hái ngày càng tăng. Để
hạn chế nguyên nhân này, nhiều nước trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu và
đưa vào ứng dụng các sản phẩm thay thế. Nhưng, giải pháp này cũng chỉ giải
quyết được một phần rất nhá yêu cầu đặt ra. Lý do cơ bản là nhu cầu của thế
giới về sản phẩm từ nguyên liệu khoáng ngày càng tăng với tốc độ rất nhanh,
nước ta cũng không phải là ngoại lệ.
Về nguyên nhân chủ quan, do chúng ta ban hành một số chính sách tài
chính chưa thực sự phù hợp với đặc thù của tài nguyên khoáng sản, chưa được
nghiên cứu đầy đủ cơ sở khoa học và thực tiễn dẫn đến tổn thất đáng kể tài
nguyên khoáng sản. Thông thường, khi quyết định phương án đầu tư vào hoạt
động khoáng sản (HĐKS), nhà đầu tư căn cứ vào các khoản thu của Nhà nước
(theo quy định), các chi phí cần thiết và giá cả thị trường của sản phẩm nguyên
liệu khoáng.
Trong trường hợp nhà đầu tư quyết định phương án khai thác thì họ sẽ
chọn phương án có thu nhập cao nhất, thu hồi vốn đầu tư nhanh nhất. Như vậy,
3
Đề tài: Hoàn thiện chính sách về quản lý nhà nước Thực hiện: Nhóm II
về tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam
họ sẽ chọn khai thác khu vực (điểm) có điều kiện khai thác thuận lợi (đất phủ ít,
điều kiện địa chất thủy văn, địa chất công trình ít phức tạp, điều kiện giao thống,
các dịch vụ khác thuận lợi nhất) và quặng có chất lượng tốt nhất (quặng giàu,
tính khả tuyển cao).
Theo đó, tài nguyên thu hồi được là thấp nhất dẫn đến sản phẩm cung cấp

1.1. Tình hình chung về quản lý, sử dụng tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản là nguồn lực quan trọng để công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nước, là nguyên liệu cho rất nhiều ngành kinh tế như sản xuất năng
lượng, vật liệu xây dựng, các kim loại, các khoáng chất công nghiệp phục vụ
công nghiệp và nông nghiệp. Trên thế giới, một số nước và vùng lãnh thổ đã cạn
kiệt tài nguyên khoáng sản như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Pháp, Bỉ…,
một số nước, vùng lãnh thổ nghèo tài nguyên khoáng sản như Singapo, Hồng
Kông, Bangladesh đã phải chi khoản kinh phí rất lớn hàng năm để nhập khẩu
khoáng sản.
Trên các diễn đàn quốc tế bên cạnh thuật ngữ an ninh năng lượng và
an ninh lương thực đã được sử dụng rộng rãi, thuật ngữ an ninh nguyên
liệu khoáng bắt đầu xuất hiện. Các nhà kinh tế học trên thế giới cho rằng tài
nguyên khoáng sản có vai trò rất quan trọng cho sự phát triển nói chung và đặc
biệt quan trọng cho các nước đang phát triển. Do đó, các quốc gia cần thực thi
những chính sách hợp lý để quản lý tài nguyên khoáng sản và bảo tồn di sản địa
chất. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều chung quan điểm cho rằng các
nguồn tài nguyên thiên nhiên là lợi thế xuất phát điểm cho sự nghiệp phát triển
của đất nước. Do vậy, để bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng
sản trước hết cần đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản về địa chất - khoáng sản
làm căn cứ cho việc định hướng các hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản.
- Vai trò của việc điều tra cơ bản địa chất khoáng sản
Để góp phần đảm bảo”an ninh khoáng sản”cho công cuộc công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước theo hướng bền vững, việc điều tra, khảo sát, đánh
giá chính xác các loại khoáng sản của đất nước có một vai trò hết sức quan
trọng. Từ những kết quả điều tra đó, chúng ta có thể hoặch định được những
chiến lược, chính sách, quy hoạch phát triển có tính khả thi phục vụ cho khai
thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên khoáng sản cho từng thời kỳ phát triển của đất
nước.
5
Đề tài: Hoàn thiện chính sách về quản lý nhà nước Thực hiện: Nhóm II

6
Đề tài: Hoàn thiện chính sách về quản lý nhà nước Thực hiện: Nhóm II
về tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam
quyền thăm dò và khai thác. Hơn nữa, chủ giấy phép phải đầu tư chi phí thăm dò
tối thiểu.
Tại Philippin:Cách đây 15 năm, năm 1995 Philippin đã thông qua luật
khai thác khoáng sản mới. Tuy được đánh giá là quốc gia đứng thứ 5 trong số
các nước có nhiều khoáng sản nhất trên thế giới, nhưng môi trường luật pháp và
chính sách của Philippin lại bị chỉ trích rất nhiều vì tính không nhất quán trong
luật và tính không chắc chắn liên quan đến áp dụng các điều khoản của luật. Cụ
thể, Luật Khai khoáng Philippin quy đinh rằng cả đất công và đất tư, kể cả đất
rừng đều có thể được đưa vào khai thác. Thế nhưng điều khoản trên đã bị chỉ
trích rằng luật dường như cho phép thực hiện các hoạt động khai khoáng trên
toàn bộ diện tích đất nước không loại trừ cả các khu vực được coi là thiết yếu về
sinh thái. Giấy phép thăm dò ở Philippin được cấp với thời hạn 2 năm và có thể
gia hạn. Luật quy đinh rằng, giấy phép thăm dò sẽ đảm bảo cho chủ giấy quyền
vào, chiếm giữ và thăm dò khu vực liên quan. Theo nhiều chuyên gia, cách diễn
đạt này không nói gì đến độc quyền nào liên quan đến thăm dò, chính vì vậy mà
sự độc quyền thăm dò không được khẳng định rõ ràng.

Di sản địa chất (DSĐC) là phần tài nguyên địa chất có giá trị nổi bật về
khoa học, giáo dục, thẩm mỹ và kinh tế. Chúng bao gồm các cảnh quan địa mạo,
các miệng núi lửa đã tắt hoặc đang hoạt động, các hang động, hẻm vực sông, hồ
tự nhiên, thác nước, các diện lộ tự nhiên hay nhân tạo của đá và quặng, các di
chỉ cổ sinh; các thành tạo, cảnh quan còn ghi lại những biến cố, bối cảnh địa
chất đặc biệt; các địa điểm mà tại đó có thể quan sát được các quá trình địa chất
đã và đang diễn ra hàng ngày, thậm chí cả các khu mỏ đã ngừng khai thác v.v…
Hội nghị quốc tế lần thứ hai về Bảo tồn di sản địa chất và cảnh quan thiên
nhiên họp tại Malvern (nước Anh) vào tháng 7/1973 đã đi đến một Hiệp ước về
Bảo tồn DSĐC. Việc phân loại DSĐC được thực hiện theo Tiêu chuẩn phân loại

thành viên, đưa tổng số Công viên Địa chất Toàn cầu lên 63 của 19 quốc gia.
Cũng tại hội nghị ở Osnabruek tháng 6/2008, UNESCO đã chính thức ra mắt
mạng lưới DSĐC và Công viên Địa chất khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
(APGN).
8
Đề tài: Hoàn thiện chính sách về quản lý nhà nước Thực hiện: Nhóm II
về tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam
- Tổng quan nghiên cứu về điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng
sản và di sản địa chất ở Việt Nam.
 !

Năm 1852, trên tập Báo cáo Viện Hàn lâm Khoa học Pháp xuất hiện bài
báo”Ghi chép về địa chất xứ Nam Kỳ (Notes sur la géologie de la
Cochinchine)”của C.J. Arnoux, đánh dấu bước đầu tiên của việc nghiên cứu địa
chất trên lãnh thổ nước ta
Từ những năm 20 của thế kỷ XX, bắt đầu xuất hiện các công trình khảo
sát địa chất khu vực từng miền của nước ta cùng với việc khảo sát để thành lập
bản đồ địa chất tỷ lệ 1:500.000. Từ kết quả của các công trình khảo sát này, năm
1937 tờ Bản đồ Địa chất Đông Dương tỷ lệ 1:2.000.000 đã ra đời do Fromaget J.
thành lập với sự cộng tác của F. Bonelli, J. Hoffet và E. Saurin.
Sau khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc nước ta, năm 1954 Sở Địa chất
được thành lập trên cơ sở Nha Khoáng chất và Kỹ nghệ ra đời từ năm 1946, sau
đó, năm 1959 chuyển thành Cục Địa chất và năm 1960, thành Tổng cục Địa
chất. Hàng loạt các bản đồ đo vẽ địa chất tỷ lệ 1:500.000, 1:200.000 được hoàn
thành ở Miền Bắc. Sau khi thống nhất đất nước, việc lập bản đồ địa chất các tỷ
lệ 1:200.000 và 1:50.000 đã gần như phủ kín lãnh thổ nước ta, đem lại rất nhiều
tài liệu mới về địa tầng và các thành tạo magma, từ đó có thể đưa đến nhiều luận
giải mới về kiến tạo và sự hình thành khoáng sản ở nước ta.
Năm 2006 một tập thể các nhà địa chất Việt Nam với sự chủ trì của các
GS Trần Văn Trị và Vũ Khúc và tổ chức biên soạn công trình”Địa chất và tài

cứu lẻ tẻ về khoáng sản ở các nước thuộc địa này phục vụ cho việc phát triển
nền công nghiệp của nước Pháp. Những năm gần đây, tiếp thu xu hướng mới
của thế giới về bảo tồn thiên nhiên, các nhà địa chất Việt Nam (thuộc Cục Địa
chất và Khoáng sản Việt Nam, Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, Bảo tàng
Địa chất, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Trường Đại học Khoa học Tự
nhiên Hà Nội) đã bắt đầu có những hoạt động điều tra, nghiên cứu các di sản địa
chất tiến tới thành lập các khu bảo tồn địa chất và xây dựng công viên địa chất.
Công tác nghiên cứu di sản địa chất (giai đoạn 1) được các nhà địa chất
Việt Nam thực hiện khá tốt, cách tiếp cận vấn đề và giải quyết vấn đề nghiên
10
Đề tài: Hoàn thiện chính sách về quản lý nhà nước Thực hiện: Nhóm II
về tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam
cứu di sản địa chất có cơ sở khoa học, phù hợp với cách làm của thế giới, đáp
ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Việc thành lập các khu bảo tồn địa chất (thuộc
giai đoạn 2 kế tiếp) mới chỉ đạt được mục tiêu quản lý di sản địa chất. Và xây
dựng công viên địa chất (thuộc giai đoạn 3) mới đạt được mục tiêu bảo tồn và
khai thác hiệu quả, hợp lý các giá trị của di sản địa chất cho sự phát triển bền
vững. Cả hai công việc này đã được các nhà địa chất đề xuất và bước đầu mới
chỉ có Cao nguyên đá Đồng văn mới gia nhập mạng lưới Công viên địa chất
toàn cầu.
Việt Nam có những khu vực địa chất cảnh quan kỳ thú như ghềnh đá đĩa
Tuy An (Phú Yên), bazan dạng cột Ba Làng An (Quảng Ngãi), bazan dạng cột
thác Trinh Nữ (Đắk Nông) Những cảnh quan này có giá trị khoa học độc đáo,
hấp dẫn du khách, nhưng từ trước đến nay chưa được quan tâm. Cục địa chất và
khoáng sản đang đề nghị xếp hạng quốc gia 20 di sản địa chất đầu tiên, đồng
thời thành lập những công viên địa chất để giới thiệu với du khách.
Đã triển khai điều tra, đánh giá tiềm năng DSĐC và triển vọng xây dựng
Công viên Địa chất ở 25 khu vực miền Bắc Việt Nam, qua đó xác định được 15
khu vực có triển vọng trở thành Công viên Địa chất quốc gia và/hoặc quốc tế.
Tổng cộng đã đánh giá được 1.168 DSĐC, trong đó 525 thuộc các tỉnh Đông

Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một khu vực gọi là mỏ
khoáng sản. Tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển
kinh tế của loài người và khai thác sử dụng tài nguyên khoáng sản có tác động
mạnh mẽ đến môi trường sống. Một mặt, tài nguyên khoáng sản là nguồn vật
chất để tạo nên các dạng vật chất có ích và của cải của con người. Bên cạnh đó,
việc khai thác tài nguyên khoáng sản thường tạo ra các loại ô nhiễm như bụi,
kim loại nặng, các hoá chất độc và hơi khí độc (SO2, CO, CH4 v.v ).
Tài nguyên khoáng sản được phân loại theo nhiều cách:
Theo dạng tồn tại: Rắn, khí (khí đốt, Acgon, He), láng (Hg, dầu, nước
khoáng).
Theo nguồn gốc: Nội sinh (sinh ra trong lòng trái đất), ngoại sinh (sinh ra
trên bề mặt trái đất).
12
Đề tài: Hoàn thiện chính sách về quản lý nhà nước Thực hiện: Nhóm II
về tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam
Theo thành phần hoá học: Khoáng sản kim loại (kim loại đen, kim loại
màu, kim loại quý hiếm), khoáng sản phi kim (vật liệu khoáng, đá quý, vật liệu
xây dựng), khoáng sản cháy (than, dầu, khí đốt, đá cháy
Theo Từ điển onlie wikimedia thì Khoáng sản là thành tạo khoáng vật
của lớp vá Trái đất, mà thành phần hóa học và các tính chất vật lý của chúng cho
phép sử dụng chúng có hiệu quả và lợi ích trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật
chất của nền kinh tế quốc dân.
Khoáng sản là từ Hán-Việt, trong đó theo Hán-Việt thì (quáng/khoáng)
nghĩa là "#$%và phàm vật gì lấy ở mỏ ra đều gọi là ", người Việt quen
đọc là 
Các dạng khoáng sản:
Theo mục đích và công dụng người ta chia ra thành các dạng khoáng sản
sau:
- Khoáng sản nhiên liệu (hay nhiên liệu hóa thạch): dầu mỏ, hơi đốt, đá
phiến dầu, than bùn, than….

( khoáng sản là một phần lớn lớp vá Trái Đất, tương quan với nền địa
chất, các đới uốn nếp hay đáy đại dương, với các mỏ khoáng sản phân bố trong
phạm vi của nó và vốn có của nó.
)*+,-./0 khoáng sản chiếm một phần của tỉnh và được đặc
trưng bằng một tập hợp các mỏ khoáng sản xác định về thành phần và nguồn
gốc, được xếp vào một và chỉ một nhóm thành phần kiến tạo bậc nhất (nếp lồi
ghép, nếp lâm v.v). Các đới khoáng sản có thể là thuần nhất mà cũng có thể là
không thuần nhất theo thành phần khoáng sản, kích thước của nó dao động trong
các giới hạn rộng. Các bể khoáng sản tạo thành các vùng có sự phổ biến liên tục
hay gần như liên tục của các khoáng sản dạng vỉa.
1 khoáng sản tạo thành một phần của vùng và thường được đặc trưng
bằng sự tập trung cục bộ của các mỏ, và liên quan tới điều này, khu khoáng sản
không hiếm khi được gọi là đầu mối khoáng sản.
23"# là một nhóm các mỏ đồng nhất về nguồn gốc và thống nhất về
cấu trúc địa chất. Bãi khoáng sản cấu thành từ các mỏ, còn các mỏ cấu thành từ
các thân quặng.
14
Đề tài: Hoàn thiện chính sách về quản lý nhà nước Thực hiện: Nhóm II
về tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam
4"# hay ("# là sự tích tụ cục bộ của nguyên liệu khoáng vật
thiên nhiên, có thành phần cấu trúc-thạch học xác định hay tổ hợp của các thành
phần này.
Vùng, khu, bãi mỏ có thể lộ ra hoàn toàn trên bề mặt đất và được nói tới
như là mỏ lộ thiên; nó cũng có thể bị phủ một phần bởi các loại đất đá khác
nhau, thuộc về loại mỏ bán kín hoặc có thể bị vùi lấp hoàn toàn thì được xếp vào
loại mỏ kín.
Các nhóm trữ lượng khoáng sản rắn theo giá trị kinh tế-thương mại
Các trữ lượng khoáng sản rắn và hàm lượng của các thành phần hữu ích
có trong chúng theo giá trị kinh tế được chia ra thành 2 nhóm chính, theo các
kiểm định và tính toán riêng biệt:

giá thành sản xuất của khoáng sản đó.
Các trữ lượng không cân đối được kiểm định và tính toán trong trường
hợp, nếu các tính toán kinh tế-kỹ thuật đưa ra khả năng hoặc là bảo tồn nó trong
lòng đất để khai thác sau này; hoặc chỉ ra sự hợp lý của việc vừa khai thác hiện
tại vừa lưu giữ và bảo tồn để sử dụng trong tương lai.
Trong tính toán các trữ lượng không cân đối người ta chia chúng ra thành
các tiểu thể loại, phụ thuộc vào nguyên nhân làm chúng trở thành không cân đối
( kinh tế, kỹ thuật, kỹ thuật khai mỏ, sinh thái, môi trường …).
Đánh giá tính chất cân đối của các trữ lượng khoáng sản được thực hiện
trên cơ sở các luận chứng kinh tế-kỹ thuật chuyên môn, được thẩm định bởi các
chuyên gia trong các lĩnh vực khác nhau. Trong các luận chứng này cần phải dự
kiến trước các phương pháp khai thác mỏ có hiệu quả nhất, đánh giá về mặt giá
thành và đề xuất các tham số tiêu chuẩn, đảm bảo việc sử dụng đầy đủ và tổng
hợp nhất đối với các trữ lượng, với sự tính toán tới các yêu cầu của luật pháp
trong lĩnh vực bảo vệ và phục hồi môi trường-sinh thái trong và sau khi khai
thác.
1.2.2. Chính sách quản lý
Khái niệm về quản lý:
Là sự tác động có ý thức của chủ thể QL lên đối tượng QL nhằm chỉ huy,
điều hành, hướng dẫn các quá trình XH và hành vi của cá nhân hướng đến mục
đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan. Quản lý về cơ bản và
trước hết là tác động đến con người để họ thực hiện, hoàn thành những công
16
Đề tài: Hoàn thiện chính sách về quản lý nhà nước Thực hiện: Nhóm II
về tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam
việc được giao; để họ làm những điều bổ ích, có lợi. Điều đó đòi hái ta phải hiểu
râ và sâu sắc về con người
+ Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết,
phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền. Biểu hiện cụ
thể qua việc, lập kế hoặch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm

– xã hội.
+ Chính sách công là những gì NN nên làm hay không nên làm.
- Cách tiếp cận thứ hai: Chính sách công là thái độ, quan điêm, lập
trườnưc của NN đối với các quá trình kinh tế xã hội được thể hiện bằng một hệ
thống các biện pháp nhằm thực hiện một mục tiêu cụ thể trong quá trình tiến tới
mục tiêu chung.
Chính sách công là những quy định về ứng xử của Nhà nước với những
hiện tượng nảy sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện dưới những hình
thức khác nhau một cách ổn định nhằm đạt được mục tiêu định hướng.
- Chính sách công có đặc điểm:
+ Do Nhà nước ban hành.
+ Chính sách công phải tác động đến đời sống của cộng đồng, có mục tiêu
và ổn định.
+ Chính sách công phải đựng cả mục tiêu và biện pháp chính trị và đặc
biệt là phải phù hợp với đường lối của Nhà nước.
- Chính sách công có cấu trúc gồm 2 bộ phận: đó là mục tiêu của chính
sách là những giá trị trong tươmg lai mà Nhà nước theo đuổi phù hợp với thái độ
ứng xử của Nhà nước, đây là bộ phận cơ bản của chính sách.
+ Biện pháp chính sách: là những cách thức, việc làm mà cơ quan quản lý
các cấp dựng, dựng để thực hiện mục tiêu của chính sách.
Tác dụng của loại cụng cụ này đối với đời sống xã hội là rất cụ thể, rõ
ràng. Dây là 1 công cụ mà các Nhà nước dùng để quản lý kinh tế xã hội bởi các
chính sách này tạo sự điều khiển đồng bộ, theo định hướng nhất định để Nhà
nước quản lý đất nước.
Đồng thời, chính sách có thể chuyển tải được ý chớ của Nhà nước đối với
các đối tượng quản lý, nghĩa là những mục tiêu của chính sách mà Nhà nước
đang theo đuổi, sẽ đến được với đối tượng trong xã hội và với mọi người biết
được nguyện vọng, mong muốn của Nhà nước có phù hợp với mình hay không.
18
Đề tài: Hoàn thiện chính sách về quản lý nhà nước Thực hiện: Nhóm II

hàng nghìn điểm mỏ và tụ khoáng của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau từ các
19
Đề tài: Hoàn thiện chính sách về quản lý nhà nước Thực hiện: Nhóm II
về tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam
khoáng sản năng lượng, kim loại đến khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây
dựng.
Có thể chia ngành khoáng sản của nước ta thành các nhóm sau:
Nhóm khoáng sản năng lượng nước ta có tiềm năng dầu khí đáng kể. Đến
ngày 2-9-2009, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đã đạt mốc khai thác 300
triệu tấn dầu quy đổi. Với sản lượng khai thác dầu khí hằng năm, hiện nay Việt
Nam đứng hàng thứ ba ở Đông - Nam Á, sau In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a. Than
biến chất cao (anthracit) ở nước ta phân bố chủ yếu ở các bể than Quảng Ninh,
Thái Nguyên, sông Đà, Nông Sơn, với tổng tài nguyên đạt hơn 18 tỷ tấn. Bể
than Quảng Ninh là lớn nhất, với trữ lượng đạt hơn ba tỷ tấn. Bể than Quảng
Ninh đã được khai thác từ hơn 100 năm nay, phục vụ tốt cho các nhu cầu trong
nước và xuất khẩu.
Các nhà khoa học địa chất đã phát hiện nhiều tụ khoáng u-ra-ni ở Đông
Bắc Bộ, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên. Tổng tài nguyên u-ra-ni ở Việt Nam
được dự báo hơn 218 nghìn tấn U308, có thể là nguồn nguyên liệu khoáng cho
các nhà máy điện hạt nhân trong tương lai. Việt Nam có nhiều nguồn nước
nóng, ở phần đất liền có 264 nguồn có nhiệt độ 300C trở lên. Các nguồn nước
nóng chủ yếu được phân bố ở Tây Bắc, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Ngoài
ra nhờ khoan thăm dò, khai thác dầu khí chúng ta cũng phát hiện được nhiều
nguồn nước nóng ở dưới sâu thuộc Bể Sông Hồng và Bể Cửu Long. Tiềm năng
địa nhiệt của Việt Nam không lớn nhưng có thể coi là nguồn năng lượng bổ
sung cho các nguồn năng lượng truyền thống, phục vụ nhu cầu CNH, HĐH đất
nước.
Nhóm khoáng sản kim loại nước ta có nhiều loại như sắt, man-gan, crôm,
ti-tan, đồng, chì, kẽm, cô-ban, ni-ken, nhôm, thiếc, vàng, bạc, v.v. Trong số
khoáng sản kim loại kể trên có các loại tài nguyên trữ lượng lớn tầm cỡ thế giới

Tuy nhiên, theo dự báo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nếu lơi lỏng
việc khai thác tài nguyên khoáng sản thì đến năm 2050 Việt Nam là nước phải
nhập khẩu nhiều loại khoáng sản.
Cũng theo báo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong 5 năm qua, Bộ
mới quyết định cấp trên 100 giấy phép hoạt động khai thác khoáng sản với quy
trình thẩm định và đánh giá rất kỹ càng. Đây là giấy phép cấp quốc gia, nhưng
21
Đề tài: Hoàn thiện chính sách về quản lý nhà nước Thực hiện: Nhóm II
về tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam
với sự phân cấp quản lý hiện nay, tại các địa phương cả nước đã cấp tới gần
5.000 giấy phép hoạt động khai thác khoáng sản.
Như vậy đồng nghĩa với gần 5.000 công trường ngày đêm khai thác
khoáng sản từ trong lòng đất, trên mặt đất, dưới lòng nước. Khai thác khoáng
sản kéo theo nhiều vấn đề phức tạp như phá vỡ cảnh quan tự nhiên, đa dạng sinh
học, ô nhiễm môi trường nặng nề, an toàn lao động, an ninh trật tự, nhất là tổn
hao và lãng phí tài nguyên khoáng sản do không được quản lý chặt chẽ.
Khi bàn về vấn đề sửa đổi, bổ sung Luật Khoáng sản tại nghị trường Quốc
hội, tư lệnh ngành Tài nguyên và Môi trường đã thẳng nhắn cảnh báo, nếu
không quản lý tốt, trong tương lai không xa, đất nước ta sẽ có nguy cơ lớn hết
tài nguyên khoáng sản.
Có thể nói, việc phân cấp cho các địa phương có thẩm quyền cấp phép
hoạt động khai thác khoáng sản vẫn chủ yếu là khai thác, xuất khẩu ồ ạt quặng
thô ra nước ngoài, gây bức xúc và lo lắng của cộng đồng.
Khoáng sản than là ví dụ. Hàng triệu tấn than được đưa nước ngoài qua
đường tiểu ngạch, gây thất thoát ngân sách nhà nước. Việt Nam vốn là quốc gia
được thế giới biết đến khoáng sản than, nhưng mới đây đã chính thức nhập khẩu
than để phục vụ nhu cầu sản xuất, hoặc như thời gian gần đây ở Tây Nguyên
đang nổi lên vấn đề được quan tâm – khai thác quặng Boxit, một loại tài nguyên
quý giá của quốc gia, hoạt động khai thác bôxit kéo theo những ảnh hưởng
nghiêm trọng đến các nguồn tài nguyên khác (rừng – nguồn tài nguyên lớn sẽ bị

tài nguyên. Nhiều văn bản pháp lý đã được ban hành nhưng thực trạng khai thác
và lãng phí tài nguyên vẫn cứ tái diễn phức tạp.
Mới đây nhất, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ ngành, địa phương
dừng cấp phép hoạt động khai thác khoáng sản; tăng cường công tác rà soát,
kiểm tra, kiểm soát các hoạt động khai thác khoáng sản; đặc biệt là cấm xuất
khẩu thô khoáng sản ra nước ngoài. Đây là một động thái tích cực nhằm góp
phần ngăn chặn nguy cơ cạn kiệt tài nguyên khoáng sản, bảo vệ nguồn tài
nguyên thiên nhiên của đất nước.
Trong khoảng hơn nửa thế kỷ qua, nhu cầu của con người về tài nguyên
khoáng sản rất lớn. Tình trạng cạn kiệt tài nguyên khoáng sản của nhiều nước
trên thế giới trong những năm gần đây đó trở thành vấn đề nóng báng mà Việt
Nam không phải là ngoại lệ. Cùng với sự công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
23
Đề tài: Hoàn thiện chính sách về quản lý nhà nước Thực hiện: Nhóm II
về tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam
nước nhu cầu về tài nguyên khoáng sản ngày càng tăng dẫn đến việc khai thác
cạn kiệt tài nguyên khoáng sản. Do đó, để đất nước có điều kiện phát triển bền
vững, thế hệ sau có điều kiện và nguồn lực để xây dựng, bảo vệ đất nước; đáp
ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội không những cho trước mắt mà nhu
cầu ngày càng tăng trong tương lai, để vừa bảo vệ lợi ích quốc gia, vừa đảm bảo
nguồn lực tài nguyên cho công cuộc phát triển bền vững, tránh việc khai thác
bừa bãi gây sự bức xúc của xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người
dân, lãng phí tài nguyên quốc gia thì sự vào cuộc của các cấp, ngành, nâng cao
hoạt động quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản nói riêng là yêu cầu hết
sức cần thiết trước yêu cầu thực tế.
1.3. Chính sách, pháp luật hiện hành về quản lý tài nguyên
1.3.1. Quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản
Trong vài năm trở lại đây, hoạt động khoáng sản đã và đang thực hiện
theo quy hoạch, kế hoặch của Nhà nước; một số doanh nghiệp đã chú ý đầu tư
chiều sâu vào công nghệ khai thác, chế biến và tạo thêm nhiều công ăn việc làm,

dưới sâu nhằm gia tăng trữ lượng. Tuy nhiên điều này chưa được các doanh
nghiệp thực sự quan tâm đầu tư, một phần là do nguồn vốn đầu tư cho hoạt động
thăm dò của các doanh nghiệp còn hạn chế như đã nêu trên;
4. Đầu tư chế biến sâu là chủ trương đúng đắn của Nhà nước. Tuy nhiên,
do quy định của một số địa phương chưa phù hợp, yêu cầu doanh nghiệp khi xin
giấy phép khai thác phải gắn với dự án chế biến sâu loại khoáng sản đó, nhất là
đối với khoáng sản kim loại. Điều này đã và đang xảy ra thực trạng là, nhiều
doanh nghiệp đầu tư nhà máy chế biến sâu nhưng dựa trên cơ sở giấy phép khai
thác quy mô nhá (ngoài quy hoạch Trung ương), không có nguồn nguyên liệu
bảo đảm cho dự án chế biến sâu hoạt động ổn định, lâu dài. Dẫn tới tình trạng
thiếu nguyên liệu, tăng mức độ rủi ro đối với các dự án chế biến sâu; dễ gây ra
tình trạng tranh mua, tranh bán nguyên liệu;
5. Tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, cạnh tranh mua bán không
lành mạnh vẫn còn xảy ra ở một số địa phương, nhất là đối với khoáng sản quý
hiếm, khoáng sản kim loại. Hậu quả của tình trạng này là gây mất an toàn lao
động, trật tự trị an và ảnh hưởng đến môi trường, môi sinh. Mặc dù Nhà nước có
nhiều văn bản yêu cầu không xuất khẩu khoáng sản thô nhưng trong thực tế vẫn
25

Trích đoạn Nhóm khoáng sản kim loại Về tư duy, nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và người dân về bảo vệ tà Về xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước Biện pháp ngắn hạn Biện pháp dài hạn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status