Tiểu luận Tìm hiểu về tài nguyên khoáng sản ở Việt nam - Pdf 14

Tiểu luận

TÌM HIỂU VỀ TÀI NGUYÊN
KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM

MỞ ĐẦU
Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú bao gồm: tài nguyên đất, tài

Sơn đứt gãy đồng Mỏ - Thái nguyên, đứt gãy sông Hồng, đứt gãy sông
Cả,v…v…các vùng bị siết ép mạnh khi xảy ra vận động uốn nếp cũng là nơi tập
trung mỏ như vùng giữa sông Cầu và sông Gấm, giữa sông Đà và sông Mã.
Đối với mỏ ngoại sinh, quan trọng nhất là than và dầu khí. than đá Quảng
Ninh có nguồn gố
c biển cạn, bị biến chất mạnh thành antraxit. Than nâu hình
thành tại các vũng hồ đệ tam, than bùn hình thành tại các đầm lầy đệ tứ. dầu mỏ và
khí đốt tập trung tại các trầm tích đệ tam tại các vùng trũng sông Hồng, sông Cửu
Long và thềm lục địa, nhất là thềm lục địa Nam Bộ.

ĐẶC ĐIỂM VÀ TÌNH HÌNH KHAI THÁC
KHOÁNG SẢN Ở VIỆT NAM
1. Than đá:
1.1.Đặc điểm:
Bể than Antraxit Quảng Ninh : Nằm về phía Đông BẮc Việt Nam, dài
khoảng 130 Km, rộng từ 10 đến 30 Km, có tổng trữ lượng than khoảng 10,5 tỉ tấn.
Than Antraxit Quảng Ninh có chất lượng tốt, phân bố gần các cảng biển, đầu mối
giao thông rất thuận lợi cho khai thác và tiêu thụ sản phẩm. Than Antraxit
Quảng Ninh đã được triều đình nhà Nguyễn khai thác từ năm 1820 và người Pháp
khai thác từ năm 1888-1955. T
ừ năm 1955 đến nay do chính phủ Việt Nam quản
lý và khai thác.
Mỏ than khai thác lộ thiên ở Quảng Ninh
Bể than Đồng bằng sông Hồng : nằm trọn trong vùng đồng bằng châu thổ
sông Hồng, có đỉnh là Việt Trì và cạnh đáy là đường bờ biển kéo dài từ Ninh Bình
đến Hải Phòng và dự kiến còn kéo dài ra vùng thềm lục địa của biển Đông Việt
Nam Với diện tích khoảng 3500 Km2, với tổng trữ lượng than dự báo khoảng
210 tỷ tấn. Các vỉa than thường được phân bố ở độ sâu -100 đến -3500m và có khả
năng còn sâu hơn nữa. Than thuộc loại Ábitum B (Subbituminous B), rất thích hợp
với công nghệ nhiệt điện, xi măng, luyện thép và hoá chất.


Khoan thăm dò trữ lượng than tại khu vực Khoái Châu (tỉnh Hưng Yên)

1.3. Xu thế trong tương lai:
Trong Tờ trình Chính phủ về dự án Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và
hiệu quả, Bộ Công thương dự báo, đến cuối thế kỷ này, các nguồn năng lượng của
Việt Nam sẽ trở nên khan hiếm, các mỏ dầu và khí đốt sẽ dần cạn kiệt.
Trong khi đó, tình trạng lãng phí năng lượng trong sản xuất công nghiệp,
xây dựng dân dụng và giao thông v
ận tải (GTVT) của nước ta hiện nay là rất lớn.
Hiệu suất sử dụng nguồn năng lượng trong các nhà máy nhiệt điện đốt than, dầu
của nước ta chỉ đạt được từ 28 – 32%, thấp hơn so với các nước phát triển khoảng

chúng ta cần phải:
- Đổi mới công nghệ và phương pháp khai thác để đạt hiệu suất cao trong
khai thác.
- Khai thác phải đi đôi với hoạt động bảo vệ môi trường: phá vỡ cân bằng
về địa chất, gây sụt lún ở các hầm mỏ, làm ô nhiểm nguồn nước, phá vỡ
mạch nước ngầm, ô nhiểm không khí
-
Các chế tài và luật khai khoáng phải bám sát hoạch định chiến lược của Nhà
nước về việc khai thác.
- 2. Dầu khí:
Dầu mỏ là một trong những nhiên liệu quan trọng nhất của xã hội hiện đại
dùng để sản xuất điện và cũng là nhiên liệu của tất cả các phương tiện giao thông
vận tải. Hơn nữa, dầu cũng được sử dụng trong công nghiệp hóa dầu để sản xuất
các chất dẻo và nhiều sản phẩm khác. Vì thế dầu thường được ví như là "vàng
đen".
Ngành dầu khí nước ta hôm nay có vị trí trong cộng đồng các quốc gia khai thác
dầu trên thế giới và đứng thứ tư ở khu vực Ðông - Nam Á. Dầu khí được dùng lam
nhiên liệu cho các nhà máy thuỷ điện và nhiệt điện và các ngành công nghiệp
khác.
2.1. Đặc điểm
Phân bố:Dầu khí được tập trung ở các bể trầm tích Sông Hồng (chủ yếu là
khí); Cửu Long (chủ yếu là dầu); Nam Côn Sơn, Malay-Thổ Chu (có cả dầu và
khí); Phú Khánh, Tư Chính, Vũng Mây, Trường Sa….


22.000m3 khí/ ngày. Lô 15.1, giếng Sư Tử Vàng – 2X cho kết quả 820 tấn dầu và
giếng Sư Tử Đen – 4X cho kết quả 980 tấn dầu/ngày. Triển khai tìm kiếm thăm dò
mở rộng các khu mỏ Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng cho kết quả 650.000m3 khí ngày
đêm và dòng dầ
u 180 tấn/ngày đêm(giếng R-10, 05- ĐH-10 ) ; Giếng R-10 khoan
tầng móng đã cho kết quả 500.000 m3 khí/ngày đêm và 160 tấn Condensate/ngày
đêm.
Tính chung, 2 năm đầu thế kỷ mới, ngành Dầu khí nước ta đã thăm dò phát
hiện gia tăng thêm trữ lượng trên 70 triệu tấn dầu thô và hàng chục tỷ m3 khí để
tăng sản lượng khai thác trong những năm tiếp theo.
Năm 2006, Tổng công ty Dầu khí Việt Nam bố trí kế hoạch khai thác 20,86
triệu tấn dầu thô quy đổi (tăng 1,5 triệu tấn so với mức đã thực hiện trong năm
2002). Đây là năm đầu tiên nước ta khai thác trên 20 triệu tấn dầu thô quy đổi.
Trong đó có 17,6 triệu tấn dầu thô và 3,7 tỷ m3 khí thiên nhiên. Dự kiến đến năm
2010, ngành Dầu khí nước ta sẽ khai thác từ trên 30 đến 32 triệu tấn dầu thô quy
đổi, nhằm đáp
ứng các ngành năng lượng và sản xuất công nghiệp của cả nước.
Dầu khí Việt Nam đang trở thành một trong những lĩnh vực đầu tư nước
ngoài sôi động: Nhiều tập đoàn dầu khí lớn đang có kế hoạch đầu tư và mở rộng
hoạt động tại Việt Nam. Ngoài số hợp đồng thăm dò khai thác được Tổng công ty
Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam) ký với các nhà thầu nước ngoài từ
đầu năm đến
nay, hai tập đoàn dầu khí lớn nhất đang hoạt động tại Việt Nam là BP và
ConocoPhillips cũng đang xúc tiến các kế hoạch mở rộng hoạt động.
Những triển vọng phát triển ngành năng lượng trong nước của Việt Nam có
vẻ hứa hẹn hơn, khi các công ty dầu mỏ lớn của nước ngoài có kế hoạch đưa
những mỏ dầu mới vào khai thác nhằ
m đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng
tăng trong nước, đồng thời tiến hành thăm dò thêm nhiều vỉa dầu khác.


ta.
Đào tạo và cung cấp kỹ sư giàn khoan cho cả ngành công nghiệp dầu khí
trong nước và nước ngoài.
Phải có chế tài, luật để định hướng khai thác và sử dụng. 3. Khoáng sản kim loại:
Khoáng sản kim loại luôn được đánh giá là nguồn tài nguyên quý hiếm và
có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế.
Có thể nói, ngành khai thác và chế biến khoáng sản kim loại trong nhiều
thập kỷ qua chưa phát triển đúng với tiềm năng, với vị trí, vai trò trong quá trình
phát triển kinh tế đất nước.
3.1. Đặc điểm:
Qua thăm dò khai thác những năm qua, Việt Nam đã phát hiện ra nhiều mỏ
quặng kim loại có giá trị và phân bố rải rác ở nhiều nơi. Quặng sắt được phát hiện
và khoanh định trên 200 vị trí, tập trung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc.
3.2. Về tình hình khai thác và sử dụng:
. Khai thác khoáng sản kim loại luôn đem lại cho doanh nghiệp những
nguồn lợi đáng kể. Hiện nay, cả nước có hàng trăm nghìn cơ sở khai thác, chế biến
các sản phẩm khoáng sản, trong đó chỉ có khoảng 2.000 điểm khai thác khoáng
sản có đăng ký hợp pháp.
Vừa qua, Văn phòng Chính phủ mới có Công văn số 1707 thông báo ý kiến
của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đồng ý về nguyên tắc cho phép tiếp tục xuất
khẩu tinh quặng ilmenite đến hết năm 2010 trên cơ sở tính toán, cân đối nhu cầu
đối với th
ị trường trong nước. Riêng kiến nghị giảm thuế, vẫn phải tiếp tục chờ Bộ
Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xem xét

Mới đây, sau khi xem xét kiến nghị của Thái Nguyên, Bộ Công Thương đã
cho phép Công ty liên doanh Luyện kim màu Việt Bắc xuất khẩu sang Trung

bạc (99,95%) từ điện phân bùn đồng.
Từ nay, Nhà máy luyện đồng Lào Cai sẽ đáp ứng được 1/3 nhu cầu sử dụng
nguyên liệu đồng trong nước, giảm được ngoại tệ nhập khẩu đồng từ
nước ngoài. Nhà máy luyện đồng Lào Cai
4.2. Tình hình khai thác và sử dụng: ( Bổ sung phần tình hình khai
thác, hình ảnh nếu có)
Nhìn chung trong những năm gần đây, công nghệ luyện kim và chế biến
sâu ở nước ta mặc dù đã được đẩy mạnh cải tiến về công nghệ nhưng vẫn thuộc
vào diện các nước có nền công nghệ luyện kim lạc hậu, điều này đã dẫn đến năng
suất và hệ số thu hồ
i thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao.

Băm nát rừng để khai thác vàng _Khai thác quặng titan tại miền Trung
Các làng nghề tái chế kim loại màu đều có lịch sử phát triển từ lâu đời, nằm
đan xen với các khu vực dân cư. Loại hình sản xuất của những làng nghề này có
quy mô vừa và nhỏ, công nghệ cũ theo kiểu “cha truyền con nối”, sử dụng nhiên
liệu hoá thạch (than đá) là chủ yếu. Đây là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm môi
trường, đặc biệt là môi trường không khí.
Theo báo cáo củ
a Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, tình trạng ô nhiễm
môi trường tại 3 làng nghề tái chế kim loại màu (Văn Môn, Đại Bái, Quảng Bố)
ngày càng trở nên nghiêm trọng. Không khí bị ô nhiễm nặng, trong khu vực dân
cư sinh sống, nồng độ khí Oxit cácbon (CO), lưu huỳnh dioxit (SO2) vượt 1,05-
1,68 lần so với tiêu chuẩn, còn trong các xưởng sản xuất nồng độ các loại khí này
vượt từ 10-400 lần, nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1- 5,3 lần. Tác động
của ô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ cộng đồng, người
dân các làng nghề này thường mắc các chứng bệnh như: bệnh đường hô hấp, bệnh

lượng mỏ nhưng trữ lượng không đồng đều. Số mỏ có trữ lượng lớn ít, số mỏ có
trữ lượng nhỏ thì nhiều.
Tài nguyên khoáng sản của Việt Nam đang được Chính phủ quan tâm khai
thác, sử dụng và xem đây như là một nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh
tế xã h
ội Đất nước.
Các mỏ có trữ lượng lớn đã và đang được khai thác, các mỏ có trữ lượng
lớn ở dạng tiềm năng cũng đang được nghiên cứu để đưa vào khai thác thí điểm.
Bên cạnh đó, các mỏ trữ lượng nhỏ chưa được sự quan tâm của các cơ quan có
thẩm quyền đang bị khai thác manh múng để bán nguyên liệu thô.
Vấn đề môi trường luôn là vấn đề nóng b
ỏng tại các khu mỏ khai khoáng.
2.Kiến nghị:
Để giải quyết những điểm chưa được, chúng ta cần có Luật khai khoáng để
đảm bảo rằng: Các mỏ đang được Nhà nước quan tâm phải đạt hiệu quả trong khai
thác; vấn đề môi trường luôn được các tập đoàn, doanh nghiệp khai khoáng quan
tâm đúng mức; tình trạng khai thác manh múng, nhỏ lẻ phải được chấm dứt.
Một khi tiến hành đầu tư khai thác mới thì phả
i tuân thủ quy tắc của một
nước đang phát triển là “ Đi tắt đón đầu “ trong việc đầu tư dây chuyền công nghệ.
Chúng ta không nhất thiết phải khai thác khoáng sản bằng mọi giá.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status