1 Luận Văn
Tìm hiểu về công cụ tỷ giá ở Việt Nam
2
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 4
CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ
VÀ THỊ TRƯỜNG TỶ GIÁ 6
1. Tỷ giá hối đoái 6
4
LỜI NÓI ĐẦU
Tỷ giá hối đoái là một vấn đề hết sức quan trọng nhưng cũng hết sức phức
tạp. Ngày nay, tỷ giá là một vũ khí lợi hại trong cuộc chiến tranh thương mại hết
sức khốc liệt trên thế giới, nhất là giữa Mỹ - Nhật - Tây Âu. ở Việt Nam, từ khi
chuyển sang nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới, tỷ
giá cũng là một vấn đề hết sức nóng bỏng và được nhiều người quan tâm. Chính
sách tỷ giá đã được nhà nước ta sử dụng như một công cụ quản lý vĩ mô. Nếu
không có quyết sách về tỷ giá kịp thời phù hợp sễ gây ảnh hưởng tiêu cực, kìm
hãm quá trình đầu tư trong nước làm thâm hụt cán cân thương mại và khó có thể
thực hiện thành công những mục tiêu và nhiệm vụ của sự nghiệp công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nước. Vì vậy, em đã chọn đề tài “Tìm hiểu về công cụ tỷ
giá ở Việt Nam”
Qua đó nghiên cứu ảnh hưởng về chế độ điều hành tỷ giá đến sự phát triển
5
kinh tế đất nước và đưa ra một số kiến nghị nhằm từng bước hoàn thành chính
sách tỷ giá ở Việt Nam.
phải bán đắt mới bù đủ chi phí và phải cạnh tranh vớia nàng hoá trong nước.
Ngược lại, nếu TGHĐ trong nước có xu thế giảm, tức là đồng nội tệ lên giá
so với đồng tiền nước ngoài, nghĩa là một ngoại tệ sẽ đổi được ít nội tệ hơn so
với trước. Trong trường hợp này sẽ hạn chế xuất khẩu và khuyến khích hàng
nhập khẩu. Rõ ràng công cụ tỷ giá hối đoái có thể tác đọng khuyến khích hay
hạn chế việc xuất –nhập khẩu háng hoá, dịch vụ.
- Tỷ giá hối đoái tác động mạnh mẽ tới kinh tế trong nước và gây ảnh
hướng trực tiếp tỷ lệ lạm phát. Chẳng hạn, khi đồng nội tệ giảm giá so với đồng
ngoại tệ, tức là TGHĐ tăng, thì hàng nhập khẩu sẽ đắt hơn, toàn bộ hàng hoá, tư
liệu sản xuất, vật tư nhập khẩu…, chuyển đổi sang đồng nội tệ sẽ bị đội giá làm
cho giá thành sản phẩm tăng, đẩy mặt bằng giá cả trong nước lên gây ra sức ép
đối với lạm phát. Ngược lại khi TGHĐ giảm, đồng nội tệ có xu hướng lên so với
đồng ngoại tệ, thì hàng nhập khẩu vào nước đó sẽ rẻ hơn trước, kéo mặt bằng
giá cả xuống làm cho tình trạng lạm phát trong nước được cải thiện, tỷ lệ lạm
8
phát giảm dần.
Như vậy TGHĐ là một công cụ quản lý vĩ mô hết sức lợi hại, Chính phủ
các nước luôn quan tâm tìm cách điều chỉnh tỷ giá, can thiệp vào tỷ giá trên thị
trường hối đoái với ý đồ sử dụng nó làm công cụ để quản lý, điều tiết những mất
cân đối lớn trong hoat động kinh tế trong nước, cũng như những mất cân đối
trong kinh tế đối ngoại. Đồng thời, TGHĐ còn được xem như là tìn hiệu của
thực trạng mối quan hệ kinh tế đối ngoai, mà thông qua nó chính phủ có thể đưa
ra các biện pháp hoặc sử dụng những công cụ của chính sách kinh tế một cách
phù hợp, hữu hiệu để đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế nói chung và
kinh tế đối ngoại nói riêng.
TGHĐ chính là nhan tố hết sức quan trọng trong chính sách quản lý ngoại
hối của mỗi nước. Không thể không thừa nhận vai trò trên đây của tỷ giá, vấn đề
là ở chỗ phải có một chế độ tỷ giá phù hợp để đảm bảo thực hiện được vai trò
của tỷ giá thì cho đến nay các nhà kinh tế –tiền tệ còn có những ý kiến khác
10
(đồng đôla Mỹ) lên làm đồng tiền dự trữ và thanh toán quốc tế. Ngay từ những
năm 1960, nhà kinh tế mỹ Robert triffin đã vạch ra nghịch lý đó. Để cho dự trữ
thế giới tăng theo sự tăng trưởng của thươngmại quốc tế, nước Mỹ, người cung
ứng dự trữ quốc tế, buộc phải bội chi cán cân thanh toán của mình. Nước Mỹ có
bội chi cán cân thanh toán quốc tế, thì các nước khác mới có thể tích luỹ được
dự trữ đôla, đó là điều kiẹn cần thiết. Thế nhưng số đôla trong dự trữ của các
nước càng tăng lên thì khả năng chuyển đổi đôla ra vàng cuả Mỹ càng giảm
theo, vảtên thị trường đôla càng mất giá.
Đó là chưa nói đến ý đồ lạm dụng của nước có đồng tiền làm phương tiện
dự trữ quốc tế, họ có thể dùng đồng tiền của nước mình để chi tiêu, thao túng
các sự việc nhằm mục đích chính trị, kinh tế, quân sự ở nước ngoài, như mỹ đã
từng làm trong những năm sau chiến tranh thế giới lần thứ hai. Mặt khác, trong
khi cán cân thanh toán quốc tế của Mỹ thường xuyên bội chi, thì cán cân thanh
toán quốc tế của các nước Nhật Bản, Cộng Hoà Liên Bang Đức…, thường
xuyên bội thu, chế đọ tỷ giá cố định không thể tự điều chỉnh để lập lại thế cân
bằng, chính phủ các nước kẻ cả Mỹ không thể tung vàng, tung ngoại tệ ra can
thiệp để giữ ổn định mãi một tỷ giá mà thị trường không chấp nhận. Cuối cùng
các nước buộc phải thả nổi đồng đôla Mỹ, cũng có nghĩa là chế độ tỷ giá cố định
bretton woods sụp đổ.
Một số nhà kinh tế khác lại cho rằng, chế độ tỷ giá cố định thích hợp với
nền kinh tế khép kín, “hướng nội “. Còn chế độ tỷ giá linh hoạt thích hợp với
11
nền kinh tế “hướng ngoại “.
Như vậy, cuộc tranh luận giữa hai trường pháI duy trì chế độ tỷ giá cố định
hay chế độ tỷ giá linh hoạt vẫn còn đang tiếp diễn. Vì mỗi chế độ tỷ giá đều có
những ưu thế riêng, đồng thời kèm theo những mặt hạn chế.
Xu thế hiện nay là nhiều nước thực hiện theo chế độ tỷ giá linh hoạtcó
Tỷ giá;tại thời điểm
=
Tỷ giá;tại thời điểm;t-1
x Error!
Thứ hai, cán cân thanh toán quốc tế phản ánh mức cung - cầu ngoạitệ của
một nước, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến TGHĐ.
Theo quan hệ của quy luật cung - cầu thì khi có bội thu cán cân thanh toán
quốc tế sẽ làm cho tỷ giá giảm (nội tệ lên giá, ngoại tệ giảm giá) và ngược lại
khi có bội chi cán cân thanh toán quốc tế sẽ làm cho tỷ giá tăng (ngoại tệ lên giá,
nội tệ giảm giá).
Thứ ba, lãi suất, lượng cung ứng tiền.
13
Trong cơ chế thị trường, lãi suất và tỷ giá là hai công cụ quan trọng nhất
trong việc điều hành chính sách tiền tệ. Chính sách lãi suất và chính sách tỷ giá
luôn gắn bó với nhau và hỗ trợ nhau. Việc đề ra một chính sách lãi suất hợp lý
cùng với việc điều hành lượng cung ứng tiền phù hợp vơí tốc độ tăng trưởng của
nền kinh tế đó và chỉ số lạm phát sẽ góp phần ổn định sức mua của đồng tiền, là
yếu tố ổn định tỷ giá.
Thứ tư, các chính sách kinh tế vĩ mô.
Khi nhà nước có những thay đổi về chính sách kinh tế _ xã hội, thì lập tức
sẽ tác động đến các chỉ kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số thất
nghiệp, bội chi ngân sách, . . . điều này cũng gián tiếp ảnh hưởng tơí tỷ giá.
Thứ năm, yếu tố tâm lý.
Khi tình hình kinh tế, chính trị có thay đổi, thì tất yếu sẽ tác động đến tâm
lý con người làm cho tỷ giá có thể đột biến lên xuống trên thị trường.
Đối với các nước có nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh với cơ chế tỷ giáthả
nổi, thì tỷ giá hình thành và biến động theocácyếu tố cơ bản trên đây, và theo quy
luật cung - cầu, tất nhiên là luôn có sự tách biệt giữa tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá
phạm vi toàn cầu, xuất phát từ châu á sang châu âu, đóng cửa ở châu mỹ cũng
15
đồng thời là mởi cửa ở châu á. Với phạm vi toàn cầu và thời gian hoạt động như
vậy, thị trường hối đoái là nơi phản ánh kịp thời mọi diễn biến của tỷ giá, của lãi
suất các loại tiền tệ trên thế giới.
Trong phạm vi một quốc gia, thị trường hối đoái được xem như một dạng
thị trường liên ngân hàng. Nó là nơi giao dịch mua, bán, chuyển đổi các ngoại tệ
được chấp nhận ra nội tệ, hoặc giữa các loại ngoại tệ dựoc hoán đổi cho nhau
trên cơ sở các điều kiện được xác định (tức là giá cả và giao vốn).
Dù là thị trường hối đoái quốc tế hay thị trường hối đoái quốc gia, những
thành viên tham ra trực tiếp hay gián tiểptên thị trường đều là ngân hàng trung
ương, Ngân hàng thương mại và người môi giới. Tuỳ theo luật định của mỗi
nước, cơ cấu tổ chức và người tham gia vào thị trường hối đoái được qui định cụ
thể.
Ví dụ, ở cộng hoà Pháp các thành viên tham gia vào thị trường hối đoái bao
gồm ngân hàng trung ương Pháp, các ngân hàng thương mại tương đối
lớn(khoảng 30 ngân hàng) và các nhà môi giới. Họ đều lànhững thành viên tham
gia trực tiếp vào kinh doanh hối đoái trên thị trường. Còn ở Vương quốc Anh,
trên thị trường hối đoái người giao dịch trực tiếp mua, bán, trao đổi, vay mượn
đồng bảng Anh(GBP) với các ngoại tệ khác chỉ là người môi giới hoặc công ty
kinh doanh lớn(không phải nghề ngân hàng), còn các ngân hàng thương mại và
ngân hàng trung ương tham gia gián tiếp, họ muốn trao đổi, mua, bán, ngoại tệ
thì phải thông qua người môi giới.
16
Tuy nhiên dù tham gia trực tiếp haygián tiếp, chức năng cúa các ngân hàng
thương mại ở đây vẫn là kinh doanh cho bản thân và cho khách hàng của họ.
Ngân hàng trung ương tham gia trên thị trường hối đoái một mặt nhằm phục vụ
khách hàng của mình(chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước và các tổ
trước.
Cho đến giai đoạn hiện nay ngươì ta hoàn toàn không dùng vàng để thanh
toán trong thương mại quốc tế, tuy vậy, vàng vẫn chiếm một vị trí xứng đáng
trong kho dự trữ của mỗi quốc gia, và được sử dụng như một chiếc “phao cứu
hộ” đắc lực cho việc cân bằng Cán cân thanh toán quốc tế. Đồng thời, sự can
thiệp của vàng vào thị trường sẽ tác động tích cực lên TGHĐ trong trường hợp
cần thiết. Chính vì lẽ đó, vấnđề vàng, bạc, đá quý nói chung và vàng nói riêng
được các quốc gia hết sức coi trọngvà chú ý, đươc đề cập đến như một đối tưọng
trong chính sách quản lý ngoại hối.
Ngày nay vàng là hàng háo phi tài chính duy nhất được mua bán tự do liên
18
tục 24/24 giờ trong ngày trên thế giới. Bởi vậy, thị trường vàng quốc tế và thị
trường vàng khu vực luôngluôn tác động vào thị trường vàng của mỗi quốc gia.
Biến động trong quan hệ cung - cầu vàng trên thị trường gây ra giá vàng lên,
xuống sẽ tác động vào giá trị tiền tệ, lam TGHĐ biến động. Ngược lại, khi tỷ giá
biến động ở một chừng mực nhất định sẽ tác động lên giá vàng.
Như vậy nếu chính phủ thực hiện đượcviệc quản lý, điều tiết và khống chế
thị trường vàng trong nước, thì trong một mức độ nhất định có thể tác động tích
cực ổn định được tỷ giá theo mong muốn. Điều đó khẳng định thị trường vàng
có tầm quan trọng, và việc quản lý vàng, bạc, đá quý là không thể thiếu được
trong chính sách quản lý ngoại hối của mỗi quốc gia.
19
CHƯƠNG II
DIỄN BIẾN TỶ GIÁ
I. DỊCH CHUYỂN TỶ GIÁ MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN GIẢI THÍCH
Thực tế tốc độ tăng tỷ giá VND/USD trong năm 2000 đến thời điểm hiện
nay cũng không lớn hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng trong năm 1999. Nhưng
12/09/00
19/09/00
26/09/00
3/10/00
10/10/00
17/10/00
24/10/00
20
Nếu trong năm 1999, đồng Việt Nam chỉ giảm giá 1%, thì đến tháng
9/2000, đã giảm 1, 33% so với cuối năm 1999. Tuy nhiên, tốc độ dịch chuyển tỷ
giá VND/USD thời gian gần đây tăng cao. Tỷ giá tăng dồn dập đã đặt ra câu hỏi
Tại sao chênh lệch tỷ giá NHNN công bố giữa 2 ngày giao dịch có chênh lệch
lớn như vậy? Nếu duy trì tỷ giá ổn định, có điều chỉnh tăng dần như thời gian tù
tháng 7/2000 trở về trước có hợp lý hay không trong tình hình cung cầu ngoại tệ
căng thẳng? Những nhân tố nào có thể giải thích sự dịch chuyển tỷ giá cao hơn
mức bình thường trong tháng 9?
1. Chênh lệch tỷ giá có kỳ hạn và kỳ vọng mong đợi sự thay đổi tỷ giá
giả sử tỷ giá giao ngay vào ngày 31/5/2000 là 14071 VND/USD, các ngân hàng
mua kỳ hạn một tháng với tỷ giá 1410 - 14120 VND/USD
- Như vậy chênh lệch tỷ giá giữa 2 kỳ hạn trên khoảng 20 – 30 đồng/USD.
Nếu thị trường ngoại tệ hoạt động hoàn hảo, kiểm soát ngoạitệ không có thì tỷ
giá giao ngay đến 30/6/2000 có thể lên tới 14120 VND/USD. Tuy nhiên, tỷ gía
giao ngay thực tế ngày 30/6/2000 chỉ là 14087 VND/USD, thấp hơn tỷ giá mong
đợi 45 đồng/USD. Nhưng trong tháng 9/200, tỷ giá tăng nhanh hơn đã phần nào
lý giả được sứcép của tỷ giá giao dịch có kỳ hạn lên tỷ giá giao dịch ngay theo
quy định của NHNN. Việc điều chỉnh tỷ giá với tần suất nhỏ trong tình trạng
cung cầu ngoại tệ căng thẳng càng làm cho chênh lệch tỷ giá giao ngay và có kỳ
hạn khó thu hẹp. Chính vì vậy, giảm giá đồng việt nam nhanh hơn trong thời
gian gần đây cóthể được giả thích trên cơ sở quan hệ giữa kỳ vọng tỷ giá mong
đợi với tỷ giá giao dịch có kỳ hạn.
Tuy nhiên để ngăn chặn các NHTM mở rộng khoảngcách giữa tỷ giá giao
ngay và có kỳ hạn và có lợi dụng nó là công cụ cạnh tranh đắc lực trong kinh
doanh ngoai tệ, NHNN đã điều chỉnh giảm mức tăng tỷ giá kỳ hạn so với giao
ngay. Chẳng hạn theo quyết định số 65/1999/QĐ_ NHNN7, NHTM được phép
23
tăng tối đa 0, 58%của tỷ giá giao ngay kịch trần để xác định tỷ giá kỳ hạn 1
tháng, nhưng nay theo quyết định 289/2000/QĐ _ NHNN7, ngày 30/8/2000, các
ngân hàng chỉ được phép tăngtối đa 0, 2%. Như vậy, các ngân hàng không lợi
dụng được chênh lệch lớn giữa tỷ giá giao ngay và có kỳ hạn cho cuộc cạnh
tranh mua bán ngoại tệ. Nhưng nếu chỉ thực hiện giải pháp này đơn lẻ thì sẽ
không hữu hiệu bởi tình trạng căng thẳng cung - cầu ngoại tệ. Giải pháp đi kèm
theo quyết định này là NHNN điều chỉnh tỷ giá giao ngay tăng nhanh cao hơn từ
đầu tháng 9/2000 so với các tháng trước. Như vậy, đây có phải là ngụ ý giải
thích sự điều chỉnh mạnh của tỷ giá VND/USD trong thời gian gần đây?
2. Bệnh lan truyền của việc phá giá các nước đang phát triển đều có
những mặt hàng xuất khẩu nằm trong danh mục hàng hoá xuất khẩu
cư thích sử dụng hàng ngoại.
4. Tiếp cận của fisher về tỷ giá và lãi suất quốc tế
Phương trình fisher quốc cho rằng, khi không có sự kiểm soát luồng vốn
hoặc tài khoản vốn thì kỳ vọng mong đợi tỷ giá thay đổi có mối quan hệ chặt
chẽ với sự khácbiệt lãi suất giữa hai quốc gia. Như vậy, các nhà đầu tư sẽ dịch
25
chuyển vốn tới nơi có mức lãi suất hấp dẫn hơn. Tuy nhiên, dưới sự kiểm soát
tài khoản vốn chặt chẽ, giá trị đồng Việt Nam có tính chuyển đổi thấp, các nhà
đầu tư lại lệch về khoản kiếm lợi nhuận ác – bít từ sự chênh lệch lãi suất đồng
USD trong nước và quôc tế. Trog khi quý 11/2000 lãi suất
Libor USD trênthị trường quốctế mà các ngân hàng có thểkiếm được
khoảng 7 -7, 1% / năm, chênh lệch với lãi suất trong nước khoảng 1, 5 - 1,
6%/năm. Hơn nữa, lãi suất vay VND trên thị trường liên ngân hàng ở mức 0, 5 -
o, 555%/tháng. TạI thời điểm 31/5/2000một số ngân hàng sẵn sàng bỏ ra 14110
triệu đồng mua giao ngay 1 triệu USD của doanh nghiệp thông qua các hình
thức đã đề cập. Như vậy, ngân hàng sẽ đồng thời gửu cho vay trên thị trường
quốc tế thời hạn một tháng, đồng thời bán kỳ hạn 1 thàng cho các doanh nghiệp
chấp nhận tỷ giá có kỳ hạn 14125 VND/USD. Qua giao dịch này, ngân hàng có
thể kiếm được ít nhất 24 triệu đồng. Tuy nhiên, trong thực tế ngân hàng có thể
kiếm được khá hơn. Để kiếm được lợi nhuận từ hành vi trên, ngoài hình thức sử
dụng giao dịch ngoại tệ để có nguồn đầu tư trên thị trường quốc tế, các ngân còn
huy động USD trên thị trường. Như vậy khoản sinh lời từ hoạt động đầu tư ra thị
rường quốc tế sẽ bù đắp khoản lỗ từ hoạt động giao dịch ngoại tệ. Với mức lợi
nhuạn hấp dẫn như vậy, để chớp thời cơ lợi nhuận trong ngắn hạn, nên cácngân
hàng đã cạnh tranh mạnh hơn nhằm mua được ngoại tệ lớn nhất có thể được.
Cuộc chạy đua này đã tạo sức ép lên thị trường ngoại tệ cũng là nhântố tiềm ẩn
đẩy kỳ vọng tỷ tăng lên. Tỷ già tăng sẽ giảm bớt được lỗ trong hoạt động giao
dịch ngoại tệ, ngân hàng vừa có lợi trong đầu tư quốc tế vừa đầu cơ mong tỷ giá