Lời nói đầu
Tỷ giá hối đoái là một vấn đề hết sức quan trọng nhng cũng hết sức phức tạp.
Ngày nay, tỷ giá là một vũ khí lợi hại trong cuộc chiến tranh thơng mại hết sức
khốc liệt trên thế giới, nhất là giữa Mỹ - Nhật - Tây Âu. ở Việt Nam, từ khi
chuyển sang nền kinh tế thị trờng, mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới, tỷ giá
cũng là một vấn đề hết sức nóng bỏng và đợc nhiều ngời quan tâm. Chính sách tỷ
giá đã đợc nhà nớc ta sử dụng nh một công cụ quản lý vĩ mô. Nếu không có quyết
sách về tỷ giá kịp thời phù hợp sễ gây ảnh hởng tiêu cực, kìm hãm quá trình đầu t
trong nớc làm thâm hụt cán cân thơng mại và khó có thể thực hiện thành công
những mục tiêu và nhiệm vụ của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất n-
ớc. Vì vậy, em đã chọn đề tài Tìm hiểu về công cụ tỷ giá ở Việt Nam
Qua đó nghiên cứu ảnh hởng về chế độ điều hành tỷ giá đến sự phát triển
kinh tế đất nớc và đa ra một số kiến nghị nhằm từng bớc hoàn thành chính sách tỷ
giá ở Việt Nam để hoàn thành bài viết này em xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn
của các thầy cô trong khoa. Do kiến thức còn hạn chế kinh nghiệm thực tế cha
nhiều, do vậy bài tiểu luận này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em mong
nhận đợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để bài tiểu luận của em đạt kết
quả cao hơn.
1
Ch ơng I
những lý luận chung về tỷ giá và thị trờng tỷ giá
1. Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là một nội dung quan trọng trong chính sách quản lý ngoại
hối. Theo quan điểm cổ điển, tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là tỷ lệ so sánh ngang
giá(vàng) giữa đồng tiền của hai nớc, là hệ số chuyển đổi giữa đơn vị tiền tệ này
sang đơn vị tiền tệ khác. Theo quan điểm kinh tế hiện đại, TGHĐ là giá ngời ta trả
khi mua hoặc nhận đợc khi bán một ngoại tệ, trên thị trơng ngoai hối tỷ giá là giá
cả của tiền tệ nớc này tính bằng đơn vị tiền tệ của nớc khác. Nếu theo quan hệ
giữa ngoại tệ với nội tệ thì tỷ giá đợc hiểu là giá cả của đồng ngoai tệ đợc thể hiện
bằng đồng nội tệ. TGHĐ là một phạm trù kinh tế quan trọng trong đời sống kinh
Nh vậy TGHĐ là một công cụ quản lý vĩ mô hết sức lợi hại, Chính phủ các n-
ớc luôn quan tâm tìm cách điều chỉnh tỷ giá, can thiệp vào tỷ giá trên thị trờng hối
đoái với ý đồ sử dụng nó làm công cụ để quản lý, điều tiết những mất cân đối lớn
trong hoat động kinh tế trong nớc, cũng nh những mất cân đối trong kinh tế đối
ngoại. Đồng thời, TGHĐ còn đợc xem nh là tìn hiệu của thực trạng mối quan hệ
kinh tế đối ngoai, mà thông qua nó chính phủ có thể đa ra các biện pháp hoặc sử
dụng những công cụ của chính sách kinh tế một cách phù hợp, hữu hiệu để đáp
ứng kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế nói chung và kinh tế đối ngoại nói riêng.
TGHĐ chính là nhan tố hết sức quan trọng trong chính sách quản lý ngoại
hối của mỗi nớc. Không thể không thừa nhận vai trò trên đây của tỷ giá, vấn đề là
ở chỗ phải có một chế độ tỷ giá phù hợp để đảm bảo thực hiện đợc vai trò của tỷ
giá thì cho đến nay các nhà kinh tế tiền tệ còn có những ý kiến khác nhau.
Các nhà kinh tế theo trờng pháI chính thống (orthodox) cho rằng nên áp dụng
tỷ giá linh hoạt. Theo họ, tỷ giá thực chất là một loại giá cả, do cung - cầu về
ngoại tệ trên thị trờng quyết định, Nhà nớc không nên can thiệp vào. lợi thế chủ
yếu của chế độ tỷ giá linh hoạt là với chế độ tỷ giá này cán cân thanh toán quốc tế
sẽ do cung - cầu thị trờng xác lập thế cân bằng nhà nớc không cần phải dùng tới
dự trữ ngoại hối chínhthức để can thiệp, nhà nớc không cần đến những biện pháp
quản lý hành chính khác nhằm tác động vào tỷ giá. Mặt hạn chế của chế độ tỷ giá
linh hoạt là mọi hoạt động trong nền kinh tế thị tròng kể cả tỷ giá không phải lúc
nào cũng vận hành vận hành một cách thuận lợi, mà luôn xảy ra những mâu
thuẫn, cạnh tranh dẫn đến sự biến động. Khi có sự biến động dữ dội thì bà tay
ddieeuf tiết của chính phủ vào thị trờng, nhất là lĩnh vựec TGHĐ là hết sức quan
trọng và cần thiết.
Ngợc lại các nhà kinh tế sau chiến tranh thế giới lần thứ hai lại tán đồng thực
hiện chế độ tỷ giá cố định (hiệp ớc bretton woods), với quan điểm cho rằng, muốn
phục hồi và phát triển kinh tế trớc hết phải pphục hồi thơng mại quốc tế, muốn th-
ơng mại quốc tế phát triển phải có một chế độ tỷ giá cố định. Trong chế độ tỷ giá
cố định Bretton woods, đồng đôla mỹ đựoc gắn với vàng, đổi đợc ra vàng và trở
thành đồng tiền dự trữ và thanh toán quốc tế chủ yếu. Các đồng tiền khác phải xác
chế độ tỷ giá linh hoạt vẫn còn đang tiếp diễn. Vì mỗi chế độ tỷ giá đều có những
u thế riêng, đồng thời kèm theo những mặt hạn chế.
Xu thế hiện nay là nhiều nớc thực hiện theo chế độ tỷ giá linh hoạtcó quỷan
lý. Đây là một chế độ hỗn hợp giữa chế độ tỷ giá cố định và chế độ tỷ giá linh
hoạt. Với chế độ này tỷ giá đợc xác định theo cơ chế thị trờng cho phép nó đợc
biến động trong biên độ nhất định. Nếu vợt biên độ nàychính phủ thông qua chính
sách tiền tệ để điều tiết nhằm giữ cho tỷ giá biến động trong phạm vi quy định.
Nh vậy vấn đề cốt lõi cần quan tâm là chính sách tiền tệ, chính sách quản lý ngoại
hối nh thế nào. Nếu chính sách tiền tệ không đúng đắn thì mọi biện pháp can thiệp
vào tỷ giá đều ít có hiệu quả, vấn đề bội chi ngân sách là khó tránh khỏi và có tầm
quan trọng hơn. ngợc lại, nếu chính sách tiền tệ trong nớc đó đúng đắn và có hiệu
4
quả, nền kinh tế tăng trởng ổn định, phát triển hàI hoà giữa kinh tế đối nội và kinh
tế đối ngoại, đồnh tiền quốc gia ổn định, lành mạnh, thì sự can thiệp của chính
phủ vào tỷ giá chỉ là việc rất hãn hữuvà có thể khong cần thiết. Bởi vậy, việc xác
định một chính sách tiền tệ đung đắn, trong đó có chính sác ngoại hối hữu hiệu là
một vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết đối với bất cứ loại hình kinh tế nào
Chúng ta có thể rút những nhận định rằng, chế độ tỷ giá hỗn hợp kết hợp giữa
tỷ giá linh hoạt theo cơ chế thị trờng với sự quản lý điều tiết của Nhà nớc là phù
hợp và đạt hiệu quả tối u hơn cả, nhất là đối với các nớc có nền kinh tế đang
chuyển đổi sang cơ chế thị trờng. ĐIều quan trọng trong việc thực hiện chế độ tỷ
giá hỗn hợp là quá trình xây dựng và xác định tỷ gía. Thông thờng ngờita dựa vào
năm yếu tố cơ bản sau đây để xác định tỷ giá hối đoái.
Thứ nhất, sức mua của đồng tiền biểu thị qua chỉ số lạm phát
Sức mua của đồng nội tệ và đồng ngoại đợc biểu thị qua chỉ số lạm phát là
một nhân tố quan trọng ảnh hởng trực tiếp tới TGHĐ. Trên thế giới có hai cách
xác định tỷ giá trên cơ sở cân bằng sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ, đó
là :
- Cân bằng sức mua tuyệt đối:
Tỷ giá = =
= x
Đây chính là tỷ giá mà các nhà kinh tế quan tâm.
Nhìn chung TGHĐ thực tế có mục đích điều chỉnh, hay nói một cách khác là
sửa chữa tác động lạm phát và để phản ánh những biến đổi thực tế trong khả
năng cạnh tranh của hàng hoá nhập khẩu của một quốc gia.
Ví dụ: Nếu TGHĐ danh nghĩa ở mức :1USD = 10. 000 VND. Trong khi mức
tăng giá cả trong nớc tăng gấp đôi, mặc dù không có lạm phát trên thế giới, thì lúc
đó TGHĐ thực tế của VND sẽ ở mức
1USD = 5000 VND. Tỷ giá thực tế VND đã tăng gấp đôi so với tỷ giá danh
nghĩa. Rõ ràng, trong trờng hợp này ngời xuất khẩu sẽ bị thiệt thòi, tức là số tiền thu
đợc từ xuất khẩu sẽ mang lại ít nội tệ hơn, trong khi đó nhập khẩu lại có lợi.
2. Thị trờng hối đoái
Thị trờng hối đoái là nhân tố hết sức quan trọng nếu không nói là không thể
thiếu trong nền kinh tế thị trờng. Thị trờng hối đoái là nơi diễn ra các giao dịch
trao đổi, mua, bán, vay mợn ngoại tệ, là nơi thông qua sự cọ xát giữa cung và cầu
ngoại tệ để thoả mãn các nhu cầu cuả các chủ kinh tế, đồng thời xác định các điều
kiện giao dịch, tức là giả cả, thời hạn và giao vốn.
Thị trờng hối đoái hiểu theo nghĩa rộng là thị trờng có tính chất quốc tế, hoạt
động không có giờ giấc nhất định, liên tục suốt 24/24 giờ trong ngày trên phạm vi
toàn cầu, xuất phát từ châu á sang châu âu, đóng cửa ở châu mỹ cũng đồng thời là
mởi cửa ở châu á. Với phạm vi toàn cầu và thời gian hoạt động nh vậy, thị trờng
hối đoái là nơi phản ánh kịp thời mọi diễn biến của tỷ giá, của lãi suất các loại tiền
tệ trên thế giới.
Trong phạm vi một quốc gia, thị trờng hối đoái đợc xem nh một dạng thị tr-
ờng liên ngân hàng. Nó là nơi giao dịch mua, bán, chuyển đổi các ngoại tệ đợc
6
chấp nhận ra nội tệ, hoặc giữa các loại ngoại tệ dựoc hoán đổi cho nhau trên cơ sở
các điều kiện đợc xác định (tức là giá cả và giao vốn).
Dù là thị trờng hối đoái quốc tế hay thị trờng hối đoái quốc gia, những thành
viên tham ra trực tiếp hay gián tiểptên thị trờng đều là ngân hàng trung ơng, Ngân
3. Vàng, bạc, đá quý
Một nhân tố không thể không đề cập đến trong hoạt động kinh doanh của thị
trờng hối đoái và trong thị trờng quản lý ngoại hối đó là lĩnh vực vàng, bạc, đá
quý.
7
Thời kỳ đầu của chủ nghĩa t bản (thế kỷ XVII - XVIII) vang, bạc, đá quý nói
chung đợc coi nh là biểu tợng của sự giàu có của một quốc gia. Vàng đợc coi là mọi
của cải của xã hội, là phơng tiện thanh toán, trao đổi, dự trữ quốc tế duy nhất ở thời
kỳ này. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, các quan hệ kinh
tế cũng nh sự hiện đại hoá mọi lĩnh vực từ sản xuất, kinh doanh đến dịch vụ, đầu t
đã tạo ra những công ụ trong thanh toán, trao đổi và dự trữ quốc tế rất đa dạng,
khiến cho vàng không còn chiếm vị trí độc tôn nh trớc.
Cho đến giai đoạn hiện nay ngơì ta hoàn toàn không dùng vàng để thanh toán
trong thơng mại quốc tế, tuy vậy, vàng vẫn chiếm một vị trí xứng đáng trong kho
dự trữ của mỗi quốc gia, và đợc sử dụng nh một chiếc phao cứu hộ đắc lực cho
việc cân bằng Cán cân thanh toán quốc tế. Đồng thời, sự can thiệp của vàng vào
thị trờng sẽ tác động tích cực lên TGHĐ trong trờng hợp cần thiết. Chính vì lẽ đó,
vấnđề vàng, bạc, đá quý nói chung và vàng nói riêng đợc các quốc gia hết sức coi
trọngvà chú ý, đơc đề cập đến nh một đối tọng trong chính sách quản lý ngoại hối.
Ngày nay vàng là hàng háo phi tài chính duy nhất đợc mua bán tự do liên tục
24/24 giờ trong ngày trên thế giới. Bởi vậy, thị trờng vàng quốc tế và thị trờng
vàng khu vực luôngluôn tác động vào thị trờng vàng của mỗi quốc gia. Biến động
trong quan hệ cung - cầu vàng trên thị trờng gây ra giá vàng lên, xuống sẽ tác
động vào giá trị tiền tệ, lam TGHĐ biến động. Ngợc lại, khi tỷ giá biến động ở
một chừng mực nhất định sẽ tác động lên giá vàng.
Nh vậy nếu chính phủ thực hiện đợcviệc quản lý, điều tiết và khống chế thị
trờng vàng trong nớc, thì trong một mức độ nhất định có thể tác động tích cực ổn
định đợc tỷ giá theo mong muốn. Điều đó khẳng định thị trờng vàng có tầm quan
trọng, và việc quản lý vàng, bạc, đá quý là không thể thiếu đợc trong chính sách
quản lý ngoại hối của mỗi quốc gia.
8/08/00
15/08/00
22/08/00
29/08/00
5/09/00
12/09/00
19/09/00
26/09/00
3/10/00
10/10/00
17/10/00
24/10/00