Pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam Luận văn ThS. Luật - Pdf 28


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM THỊ THỦY
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG
Ở VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



Người hướng dẫn khoa học: TS. Doãn Hồng Nhung

HÀ NỘI - 2014 3
Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn Phạm Thị Thủy


LUẬT VỀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG Ở VIỆT NAM
6
1.1.
Khái niệm rừng và tài nguyên rừng
6
1.1.1.
Khái niệm rừng
6
1.1.2.
Khái niệm tài nguyên rừng
8
1.2.
Phân loại rừng
10
1.2.1.
Phân loại rừng căn cứ vào mục đích sử dụng
10
1.2.2.
Phân loại rừng căn cứ theo nguồn gốc hình thành
11
1.3.
1.3.1.

1.3.2.

1.4.
1.4.1.
1.4.2.
Vai trò và ý nghĩa của bảo vệ tài nguyên rừng
Bảo vệ rừng và tài nguyên rừng góp phần bảo vệ môi trường

2.1.3.
Quản lý nhà nước về bảo vệ tài nguyên rừng
31
2.1.4.
Quy định trách nhiệm bảo vệ tài nguyên rừng của chủ rừng
40
2.1.5.
Bảo vệ hệ sinh thái rừng
42
2.1.6.
Bảo vệ động vật rừng và thực vật rừng
43
2.1.7.
Quy định về phòng trừ sinh vật gây hại rừng
55
2.1.8.
Thanh tra, kiểm tra trong bảo vệ tài nguyên rừng
57
2.1.9.
2.1.10.
2.1.11.
Xử lý vi phạm trong bảo vệ tài nguyên rừng
Quy định pháp luật về phòng cháy chữa cháy rừng
Hợp tác quốc tế về bảo vệ tài nguyên rừng
59
60
62
2.2.
Thực trạng áp dụng pháp luật bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt
Nam

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng
84
3.2.1.
Hoàn thiện quy phạm pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng
85
3.2.2.
Hoàn thiện phương thức tổ chức thực hiện về bảo vệ tài
nguyên rừng
90
3.2.3.
Hoàn thiện các biện pháp bổ trợ về bảo vệ tài nguyên rừng
93

6

KẾT LUẬN
99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
101 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
ASEAN
Association of Southeast Asia Nations

Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên
nhiên 8

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ thuở xa xưa, con người đã biết sử dụng nguồn tài nguyên
thiên nhiên để phục vụ cho cuộc sống của mình. Xã hội thay đổi, đời sống con
người ngày càng được cải thiện, nhu cầu của con người không ngừng nâng
lên. Việc khai thác các nguồn tài nguyên nói chung và tài nguyên rừng nói
riêng ngày càng được con người quan tâm khai thác triệt để. Hậu quả của việc
khai thác triệt để đó là ngày nay con người đang phải đối mặt với sự suy giảm
mạnh các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong đó có tài nguyên rừng. Tài
nguyên rừng đang từng ngày, từng giờ bị tàn phá, sự tái tạo, tính cân bằng tự
nhiên của các cánh rừng gần như không còn nữa. Vai trò của rừng là duy trì
cân bằng hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh chúng ta, duy trì
tính ổn định, độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn
đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của thiên tai, bảo tồn nguồn nước mặt,
nước ngầm và làm giảm mức ô nhiễm không khí và nước. Rừng còn là nơi
cung cấp những cây gỗ quý, sản vật thiên nhiên, cây thuốc… cho con người.
Tuy nhiên trên thực tế nguồn tài nguyên rừng đang dần bị suy thoái. Những
năm qua, ở Việt Nam nạn phá rừng, mất rừng, cháy rừng… ngày càng nghiêm
trọng, hàng ngàn hécta rừng bị thu hẹp lại. Mất rừng và suy thoái rừng gây
nên hiện tượng sa mạc hóa, làm nghèo đất tại nhiều địa phương. Tình trạng đó
đã tạo ra hàng loạt các tác động tiêu cực và thách thức sự phát triển kinh tế, xã
hội và môi trường như gây ra lũ lụt, hạn hán, gây khó khăn trong việc cung
ứng lâm sản, làm giảm diện tích đất trồng khiến tình trạng nghèo đói và thất

Thanh Huyền, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004; "Quản lý nhà
nước bằng pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng", Luận án tiến sĩ Luật học, của
Hà Công Tuấn, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2006; "Hoàn
thiện pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay", Luận
án tiến sĩ Luật học, của Nguyễn Thanh Huyền, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà

10
Nội, năm 2012; "Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ các loài động, thực vật nguy
cấp, quý, hiếm", Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật, của Hoàng Hiền Lương,
Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2009; "Pháp luật về buôn bán động, thực vật
hoang dã", Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật, của Nguyễn Thị Hoa, Trường
Đại học Luật Hà Nội, năm 2012. Ngoài ra, còn phải kể đến các bài viết về bảo
vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam và bảo vệ các loài động vật, thực vật rừng nguy
cấp, quý, hiếm như: "Quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng", của TS.
Nguyễn Huy Dũng, Tạp chí Bảo vệ môi trường, số 12/2008; "Sử dụng luật tục
hương ước một chiến lược quản lý rừng", của ThS. Hà Công Tuấn, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 03/2006; "Nghiên cứu một số tội phạm xâm hại môi
trường rừng được quy định tại chương XVII- Các tội xâm phạm môi trường
trong Bộ luật hình sự năm 1999", của Nguyễn Thanh Huyền, Tạp chí Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, tháng 6/2008; "Nghiên cứu chính sách thuế
trong phát triển lâm nghiệp", của Nguyễn Thanh Huyền, Tạp chí Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, tháng 5/2007; "Bàn về tội hủy hoại rừng theo
điều 189 Bộ luật hình sự", của Nguyễn Văn Dũng, Tạp chí Tòa án nhân dân,
số 9/2009; "Vướng mắc cần giải quyết trong việc áp dụng điều 190 bộ luật
hình sự về tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm",
của Nguyễn Duy Giảng, Tạp chí Kiểm sát, số 4/2009; "Hương ước, quy ước
trong quản lý bảo vệ rừng và tài nguyên thiên nhiên", của Bàn Văn Trung,
Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số chuyên đề tháng 6/2010; "Một số khó khăn,
vướng mắc khi áp dụng các quy định về quản lý, khai thác và bảo vệ rừng",
của Cao Anh Đức, Tạp chí Kiểm sát, số 22/2010; "Về tội vi phạm các quy

4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu "Pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam".
Tuy nhiên, trong luận văn này tác giả không có tham vọng đi sâu nghiên cứu
toàn bộ nội dung điều chỉnh của pháp luật hiện hành về bảo vệ tài nguyên
rừng ở Việt Nam, mà tác giả nghiên cứu một số quy định của pháp luật về bảo
vệ tài nguyên rừng nói chung và pháp luật về bảo vệ động vật và thực vật
rừng nói riêng. Thông qua đó đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật để tìm ra

12
vướng mắc, từ đó mạnh dạn đưa ra một số đánh giá và kiến nghị hoàn thiện.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Trong việc nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp bình luận, phân
tích, so sánh, thống kê… nhằm giải quyết các yêu cầu của luận văn đặt ra.
Ngoài ra, đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những nguyên tắc, quan điểm
chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình hội nhập kinh tế, quốc tế.
Đồng thời tác giả cũng có sự tham khảo các công trình nghiên cứu liên
quan đến vấn đề này, nhằm hoàn thành bài luận văn.
6. Kết quả và ý nghĩa nghiên cứu
Luận văn phân tích một cách khái quát một số các quy định của pháp
luật về vấn đề bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam.
Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật của công tác bảo vệ tài nguyên
rừng ở Việt Nam. Thông qua đó đánh giá một số những bất cập của pháp luật
Việt Nam hiện hành về vấn đề này.
Kết quả nghiên cứu, những định hướng giải pháp của đề tài góp phần
nhỏ vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng
ở Việt Nam.
Đồng thời kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu
tham khảo cho các sinh viên, những người nghiên cứu chuyên hoặc không
chuyên về pháp luật.

thành phần hệ sinh thái rừng một cách đa dạng và phong phú gồm cả thực vật,
động vật, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác. Tuy nhiên,
cây gỗ, tre nứa, thực vật hoặc hệ thực vật đặc trưng phải thỏa mãn điều kiện
về độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên.
Để có thể hiểu cặn kẽ hơn cho khái niệm về rừng trong Luật Bảo vệ
và phát triển rừng năm 2004 thì Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã
ban hành Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/6/2009 quy định về
tiêu chí xác định rừng và phân loại rừng. Cụ thể, tại Điều 3 của Thông tư này
đã nêu rõ, một đối tượng được xác định là rừng nếu đạt được cả 3 tiêu chí sau:

15
Tiêu chí thứ nhất: Là một hệ sinh thái, trong đó thành phần chính là
các loài cây lâu năm thân gỗ, cau dừa có chiều cao vút ngọn từ 5,0 mét trở lên
(trừ rừng mới trồng và một số loài cây rừng ngập mặn ven biển), tre nứa,…có
khả năng cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các giá trị trực tiếp và gián tiếp
khác như bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và cảnh quan. Rừng
mới trồng các loài cây thân gỗ và rừng mới tái sinh sau khai thác rừng trồng
có chiều cao trung bình trên 1,5m đối với loài cây sinh trưởng chậm, trên
3,0m đối với loài cây sinh trưởng nhanh và mật độ 1.000cây/ha trở lên được
coi là rừng. Các hệ sinh thái nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản có rải rác một
số cây lâu năm là cây thân gỗ, tre nứa, cau dừa…không được coi là rừng [5].
Với tiêu chí này thì đã quy định cụ thể với các loài cây thân gỗ, cau
dừa, tre nứa…thì chiều cao phải đảm bảo từ 5,0 mét trở lên, rừng cây thân gỗ,
rừng tái sinh phải đảm bảo chiều cao trung bình trên 1,5m với cây sinh trưởng
chậm và 3,0m đối với loài cây sinh trưởng nhanh và các loài cây này phải
mang lại giá trị trực tiếp và gián tiếp về vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học, bảo
vệ môi trường cảnh quan thì thỏa mãn tiêu chí thứ nhất để xác định là rừng.
Tiêu chí thứ hai: Độ tàn che của tán cây rừng là thành phần chính của
rừng phải từ 0,1 trở lên[5]. Với tiêu chí thứ hai này để xác định một đối tượng
là rừng được hiểu, cây rừng là thành phần chính của rừng phải có mức độ che

tài nguyên tái tạo được. Nhưng nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên rừng có
thể bị suy thoái không thể tái tạo lại" [57].
Rừng theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Bảo vệ và phát triển rừng
năm 2004 quy định "rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng,
động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong
đó cây gỗ, tre nứa, thực vật hoặc hệ thực vật đặc trưng …" [31].
Tài nguyên rừng có vai trò rất quan trọng đối với khí quyển,
đất đai, mùa màng, cung cấp các nguồn gen động thực vật quý hiếm
cùng nhiều lợi ích khác. Rừng giúp điều hòa nhiệt độ, nguồn nước

17
và không khí. Con người có thể sử dụng tài nguyên thiên nhiên này
để khai thác, sử dụng hoặc chế biến ra những sản phẩm phục vụ cho
nhu cầu đời sống. Ở những vùng khí hậu khác nhau thì tài nguyên
rừng cũng khác nhau [57].
Thông qua khái niệm về rừng có thể thấy tài nguyên rừng gồm: Thực
vật rừng trước hết phải kể đến những loài cây thân gỗ đây là một loại tài
nguyên chính mà rừng cung cấp phục vụ cho đời sống con người.
Sơ bộ thống kê hiện nay trên thế giới có khoảng trên 100
ngành dùng gỗ làm nguyên, vật liệu với trên 22.000 công việc khác
nhau và sản xuất ra hơn 20.000 loại sản phẩm. Gỗ là nguyên liệu,
vật liệu được con người sử dụng lâu đời và rộng rãi, là một trong
những vật tư chủ yếu của nền kinh tế quốc dân. Gỗ được sử dụng rất
rộng rãi trong công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, kiến
trúc, xây dựng, khai khoáng. Ngoài ra gỗ còn được dùng làm văn
phòng phẩm, nhạc cụ, dụng cụ thể dục thể thao, đóng toa tầu, thùng
xe, thuyền, phà, cầu cống, bàn ghế và dụng cụ học sinh, đồ dùng
gia đình, công sở và chuyên dùng như bệnh viện, thư viện [44].
Ngoài ra, các loài cây thân gỗ còn là nhân tố quan trọng trong việc bảo
vệ đất, bảo vệ nước và điều hòa khí hậu, lưu lượng nước. Ngoài gỗ rừng còn

hòa khí hậu, chống ô nhiễm môi trường trong các khu dân cư, khu đô thị và
khu du lịch [58].
Thứ hai là rừng đặc dụng: Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Bảo
vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định:
Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên,
mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng;
nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam
thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần
bảo vệ môi trường, bao gồm: Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên

19
nhiên gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh; khu
bảo vệ cảnh quan gồm khu di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng
cảnh; khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học [31].
Theo như mục đích sử dụng của rừng đặc dụng thì nơi đây được sử
dụng là nơi nghiên cứu khoa học, là nơi để học tập, thực tập, bảo tồn nguồn
gen, bảo vệ nguồn nước, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn những nét văn
hóa. Đó là chức năng, vai trò, hiệu quả sử dụng của rừng đặc dụng.
Thứ ba là rừng sản xuất: Theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Bảo
vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định:
Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh
doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ
môi trường, bao gồm: rừng sản xuất là rừng tự nhiên; rừng sản xuất
là rừng trồng; rừng giống gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình
tuyển, công nhận [31].
Mục đích của rừng sản xuất để phát triển kinh doanh, sản xuất đồng
thời góp phần vào gìn giữ và bảo vệ môi trường. Tùy từng loại rừng sản xuất
là rừng tự nhiên hay rừng trồng mà được đưa vào sử dụng để quản lý, kinh
doanh bảo vệ và phát triển.
Như vậy tùy theo mục đích sử dụng mà pháp luật quy định về việc

lượng cây đứng dưới 10 m
3
/ha. Ngoài ra đối với rừng tre nứa thì rừng được
phân theo loài cây, cấp đường kính và cấp mật độ [5].
Như vậy, tùy theo nguồn gốc hình thành, rừng được phân thành các
loại như rừng tự nhiên, rừng trồng, rừng núi đất, rừng núi đá, rừng ngập mặn,
rừng trên cát và cách phân loại rõ ràng này đã thể hiện được cụ thể các loại
rừng ở nước ta hiện nay.
1.3. VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG
1.3.1. Bảo vệ rừng và tài nguyên rừng góp phần bảo vệ môi trƣờng
và nâng cao chất lƣợng sống của con ngƣời
1.3.1.1. Góp phần bảo vệ môi trường sống của con người
Bảo vệ rừng và tài nguyên rừng là góp phần bảo vệ nguồn nước:
Rừng góp phần duy trì chất lượng nguồn nước sạch. Hơn
3/4 lượng nước sạch trên trái đất bắt nguồn từ rừng. Chất lượng
nước suy giảm cùng với sự suy giảm chất lượng và diện tích che
phủ của rừng, thiên tai như lũ lụt, lở đất và thoái hóa đất đã gây ra
những tác động nghiêm trọng tới cuộc sống của con người và các
sinh vật trên trái đất [53].

21
Không chỉ bảo vệ chất lượng của nguồn nước mà rừng còn điều hòa
dòng chảy trong các sông ngòi và dòng chảy dưới lòng đất hạn chế thiên tai
hạn hán và lũ lụt:
Nước mưa rơi xuống vùng có rừng bị giữ lại nhiều hơn trong
tán cây và trong đất, do đó lượng dòng chảy do mưa trong mùa lũ
giảm đi. Rừng cản không cho dòng chảy mặt chảy quá nhanh, làm
cho lũ xuất hiện chậm hơn, giảm mức độ đột ngột và ác liệt của
từng trận lũ. Nước thấm xuống đất rừng vừa là nguồn dự trữ nuôi
cây và các sinh vật sống trong đất, vừa chảy rất chậm về nuôi các

1.3.2. Bảo vệ rừng và tài nguyên rừng góp phần vào sự phát triển
của kinh tế, giáo dục và khoa học
1.3.2.1. Góp phần vào sự phát triển về kinh tế
Ngay từ thuở sơ khai loài người đã thực hiện việc săn bắn, hái lượm
làm thức ăn cho con người và đã biết khai thác các sản phẩm của rừng để làm
thuốc chữa bệnh và phục vụ cho việc bồi dưỡng sức khỏe của con người. Sau
đó, nhiều loài động vật, thực vật rừng được con người mang về thuần hóa,
nuôi trồng để phục vụ cho đời sống con người. Nhiều loài động vật rừng và
thực vật rừng cung cấp cho các ngành công nghiệp như: công nghiệp chế
biến, sản xuất gỗ; công nghiệp da; thuốc nhuộm… và rừng cung cấp một sản
lượng lớn lâm sản phục vụ cho đời sống con người, như các loại tre, gỗ, nứa
là nguyên liệu sản xuất hàng trăm mặt hàng đồ mỹ nghệ, dụng cụ lao động,
những đồ gia dụng…Đồng thời rừng là nơi cung cấp nguồn dược liệu vô giá.
1.3.2.2. Góp phần vào sự phát triển về khoa học và giáo dục
Tài nguyên rừng trong đó có động vật và thực vật rừng được con người
sử dụng vào nghiên cứu khoa học và công tác giảng dạy ở một số trường. Các
loài động vật và thực vật rừng được sử dụng để nghiên cứu sự tiến hóa của
các loài, sử dụng các loài có cấu tạo cơ thể gần giống con người để thử
nghiệm các loại thuốc và phương pháp điều trị mới. Trong một số trường hợp

23
khác, các loài động vật và thực vật rừng còn là đối tượng nghiên cứu để tìm ra
những phương thức điều trị bệnh.
Nhiều sản phẩm từ động vật rừng và thực vật hoang dã được con
người sử dụng với mục đích làm dược liệu như những loài cây thuốc quý, mật
ong, mật gấu, sừng tê giác… nhiều chế phẩm sinh học được chiết xuất từ nuôi
cấy mô động vật hoặc thực vật (các loại vắcxin, hoócmôn…). Từ các loài
động vật rừng và thực vật rừng thì con người đã sử dụng để nghiên cứu, thử
nghiệm và tìm ra các loại thuốc mới, thử nghiệm các phương pháp điều trị
phục vụ cho ngành y học trực tiếp dùng để đảm bảo sự sống của con người.

Nhà nước sử dụng pháp luật để quản lý xã hội, đảm bảo tính công bằng
của xã hội, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân
dân, qua đó có thể thấy pháp luật đóng một vai trò quan trọng trong việc điều
chỉnh các mối quan hệ xã hội. Đồng thời, pháp luật là một hệ thống các quy
tắc xử sự có tính chất bắt buộc, là công cụ để hướng dẫn, đảm bảo để nhà
nước thực hiện việc quản lý xã hội, điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục
đích ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững. Đó là vai trò của pháp luật nói
chung, tùy từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể mà pháp luật các ngành, các lĩnh
vực đó đề ra các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ và thực
hiện tốt vai trò của mình.
Pháp luật quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng là một lĩnh vực pháp luật
bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh có liên quan đến hoạt động quản lý và bảo
vệ nguồn tài nguyên rừng [26, tr.30, 31]. Có thể thấy pháp luật về bảo vệ tài
nguyên rừng là một hệ thống các quy phạm pháp luật được sử dụng để điều
chỉnh các mối quan hệ xã hội, các vấn đề phát sinh liên quan đến hoạt động
bảo vệ tài nguyên rừng, chống các hành vi vi phạm pháp luật. Các quy phạm
pháp luật bao gồm các quy định về bảo vệ hệ sinh thái rừng; quy định về bảo
vệ thực vật rừng và động vật rừng; quy định về phòng cháy chữa cháy rừng;

25
quy định về phòng trừ sinh vật gây hại rừng; quy định về kinh doanh, vận
chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh
thực vật rừng, động vật rừng; quy định về thanh tra, kiểm tra trong công tác
bảo vệ tài nguyên rừng. Bên cạnh đó pháp luật về bảo vệ tài nguyên rừng còn
quy định rất cụ thể về các nguyên tắc bảo vệ tài nguyên rừng, quyền của nhà
nước về bảo vệ tài nguyên rừng, các vấn đề phát triển rừng và sử dụng rừng,
quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, lực lượng bảo vệ rừng là Kiểm lâm và vấn
đề giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng.
Pháp luật bảo vệ tài nguyên rừng được đặt ra để điều chỉnh các mối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status