I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
PHAN THI P
HNG THANH
BảO Vệ, THúC ĐẩY MộT Số QUYềN DÂN Sự
CủANGƯờI KHUYếT TậT ở VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Phỏp lut v Quyn Con Ngi
Mó s: Chuyờn ngnh o to thớ im
LUN VN THC S LUT HC
Can bụ hng dn khoa hc: PGS. TS. HA THI MAI HIấN
HA NI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN
Phan Thị Phƣơng Thanh
TẾ VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM...........................17
1.2.1.
Nội dung các quyền dân sự cơ bản của ngƣời khuyết tật trong luật quốc tế .....17
1.2.2.
Vấn đề nội luật hóa các điều ƣớc quốc tế về quyền của Ngƣời khuyết
tâṭ ở Việt Nam .............................................................................................30
1.3.
CÁC BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY VÀ BẢO VỆ QUYỀN DÂN SỰ CỦA
NGƢỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM ..........................................................36
1.3.1.
1.3.2.
Biện pháp xã hội..........................................................................................37
1.3.3.
Biện pháp pháp lí.........................................................................................45
1.4.
CÁC CƠ CHẾ QUỐC TẾ VÀ QUỐC GIA VỀ BẢO VỆ VÀ THÚC ĐẨY
Biện pháp kinh tế.........................................................................................44
bảo trợ xã hội đối với Ngƣời khuyết tâṭ ..........................................66
THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUYỀN DÂN SỰ CƠ BẢN CỦA
NGƢỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM ...............................................................69
2.2.1.
2.2.2.
Về quyền đƣợc chăm sóc sức khỏe, y tế và phục hồi chức năng chỉnh hình ....70
2.2.3.
Trong việc tiếp cận các công trình công cộng, công nghệ thông tin của
Việc thực hiện quyền trợ giúp pháp lí cho Ngƣời khuyết tâṭ ......................70
Ngƣời khuyết tâṭ ..........................................................................................71
2.2.4.
2.2.5.
Về vấn đề hôn nhân và gia đình ..................................................................72
2.3.
CÁC PHƢƠNG PHÁP THÚC ĐẨY VÀ BẢO VỆ CÁC QUYỀN DÂN SỰ
Về vấn đề bảo trợ xã hội .............................................................................72
CỦA NGƢỜI KHUYẾT TẬT THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH ..................73
2.3.1.
2.3.2.
V T
V
N
KẾT
LUẬN ..............................................................................................................85
A
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM
M
KHẢO...............................................................87
....
....
....
....
....
....
....
....
....
....
....
....
....
....
HĐQT
: Hội đồng quản thác
ICCPR
: Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị
năm 1966
ICJ
: Toà án công lý
ILO
: Tổ chức Lao động thế giới
NKT
: Ngƣời khuyết tật :
TGPL
Trợ giúp pháp lý :
UN
Liên Hợp Quốc
tổn thƣơng nhiều hơn. Chính vì vậy mà trong thời gian dài những NKT không
đƣợc xã hội tôn trọng và các quyền lợi của họ với tƣ cách là một công dân đã bị
tƣớc đoạt. Hiện nay, trong xu thế chung của hội nhập kinh tế quốc tế toàn cầu,
đất nƣớc đang ngày càng phát triển và yêu cầu chung của quá trình đó là sự phát
triển đất nƣớc cũng nhƣ về mặt con ngƣời một cách toàn diện. Trong quá
trình phát triển toàn diện đó thì việc quan tâm đến lợi ích quyền lợi của NKT
lại càng quan trọng hơn, làm thế nào để NKT có thể hòa nhập cộng đồng để
họ có thể theo kịp dòng chảy của sự phát triển chung là một yếu tố quan trọng
vì đất nƣớc phát triển thì nhân dân là đối tƣợng làm nên điều đó trong đó có
những NKT, chính họ đang đóng góp phần quan trọng vào quá
1
trình hội nhập đó. Họ là nhóm ngƣời tuy khiếm khuyết về mặt thể chất hoặc
tinh thần nhƣng họ không đƣợc coi là những ngƣời vô dụng và không phải là
gánh nặng của xã hội. Chính vì vậy, việc quan tâm đến quyền và lợi ích của
NKT mà cụ thể là quyền dân sự của NKT giúp họ hòa nhập với cộng đồng xã
hội là điều cần phải làm bởi vì họ cũng là chủ thể của quyền con ngƣời và họ
cũng có những quyền và nghĩa vụ bình đẳng với mọi ngƣời trong xã hội.
Nguyên tắc tự do, bình đẳng của pháp luật tạo cơ hội ngang nhau cho tất cả
mọi ngƣời trong việc thực hiện các quyền con ngƣời, quyền công dân về dân
sự. Tuy nhiên, đối với NKT, khả năng hiện thực hóa các quyền đó là không dễ
dàng, họ cần có sự hỗ trợ, giúp đỡ từ phía nhà nƣớc và xã hội.
Nhằm tìm hiểu rõ hơn quy định của pháp luật về vấn đề trên cũng nhƣ
đƣa ra một số ý kiến để hoàn thiện pháp luật liên quan đến NKT, tác giả đã
lựa chọn đề tài: "Bảo vệ, thúc đẩy một số quyền dân sự của người khuyết tật ở
Việt Nam" để làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn hƣớng tới mục đích làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn
sánh, phƣơng pháp lịch sử, phƣơng pháp logic và phƣơng pháp bình luận.
5. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Quyền của ngƣời khuyết tật là một vấn đề còn khá mới ở Việt Nam.
Mặc dù gần đây đã có một số đề tài nghiên cứu về ngƣời khuyết tật nhƣng
mới chỉ đề cập đến những vấn đề chung, chƣa có đề tài nào tập trung nghiên
cứu các quyền dân sự của nhóm xã hội này ở Việt Nam. Vì vậy, luận văn sẽ
góp phần khỏa lấp khoảng trống về nghiên cứu, qua đó nhằm bảo đảm tốt hơn
các quyền này của ngƣời khuyết tật trong thực tế.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nƣớc
trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật có liên quan đến quyền của ngƣời
khuyết tật. Ngoài ra luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt
động giảng dạy, nghiên cứu luật nhân quyền ở Khoa Luật ĐHQG Hà Nội và
các cơ sở đào tạo khác ở Việt Nam.
3
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục tài
liệu tham khảo thì luận văn có kết cấu 3 chƣơng.
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về thúc đẩy, bảo vệ quyền dân sự
của ngƣời khuyết tật ở Việt Nam.
Chƣơng 2: Thực trạng thúc đẩy và bảo vệ quyền dân sự của ngƣời
khuyết tật tại Việt Nam.
Chƣơng 3: Giải pháp thực hiện việc bảo vệ, thúc đẩy các các quyền
dân sự của ngƣời khuyết tật ở Việt Nam.
4
dễ bị tổn thƣơng. Họ "dễ bị tổn thƣơng" trong cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng
của từ này.
Trƣớc đây, khi xã hội chƣa phát triển, nhận thức của con ngƣời còn hạn
chế, hầu nhƣ mọi ngƣời trong xã hội đều có cái nhìn chƣa tốt về NKT. Xã hội
coi những NKT là gánh nặng cho xã hội, coi họ là những đối tƣợng cần sự
thƣơng cảm, giúp đỡ của ngƣời khác, việc bảo vệ hỗ trợ họ chủ yếu dựa trên
cách tiếp cận của tình thƣơng và lòng nhân đạo, chính vì vậy mà họ không có
quyền, không phải là chủ thể của quyền công dân. Cách tiếp cận này không
những không đảm bảo cho NKT đƣợc hƣởng đầy đủ các quyền con ngƣời mà
còn ngăn cản họ tham gia, hội nhập có hiệu quả vào đời sống xã hội.
Hiện nay, cùng với những nỗ lực của cộng đồng quốc tế việc thay đổi
nhận thức về vị trí và vai trò của NKT đã diễn ra một cách mạnh mẽ hơn, vị
trí của NKT ngày càng đƣợc nâng cao. Cùng với những thay đổi về vai trò
của NKT thì vị trí của họ cũng đƣợc ghi nhận và khẳng định trong hệ thống
các văn bản pháp luật của các quốc gia. Sự chuyển biến về nhận thức dẫn tới
thay đổi cả cách gọi tên của nhóm xã hội này. Nếu nhƣ trƣớc đây việc dùng
tên gọi là ngƣời tàn tật có hàm ý, miệt thị và hạ thấp, thì hiện nay đã đƣợc gọi
tên là những NKT. Với tên gọi mới này cho thấy rằng đây là nhóm ngƣời tuy
có những khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần, nhƣng họ không phải và
không đƣợc coi là những ngƣời vô dụng trong xã hội mà họ cũng là chủ thể
của quyền con ngƣời.
Cùng với những sự thay đổi đó thì đã có hai quan điểm khác nhau về
NKT đó là: Quan điểm khuyết tật cá nhân và quan điểm khuyết tật xã hội.
a. Quan điểm khuyết tật cá nhân hay quan điểm khuyết tật dưới góc độ y
tế. Quan điểm này cho rằng NKT là do hạn chế cá nhân, là ở chính con ngƣời
đó, chú trọng rất ít hoặc không để ý đến các yếu tố môi trƣờng xã hội và môi
trƣờng vật thể xung quanh NKT. Quan điểm này cho rằng NKT có thể
6
Các quyền dân sự này có những đặc điểm riêng so với các quyền khác.
9
Quyền dân sự thực chất là các quyền tự do cá nhân. Chủ thể quyền quyền dân
sự tự mình thực hiện quyền của mình một cách tự do và bình đẳng với các chủ
thể khác. Nhà nƣớc trong hầu hết các trƣờng hợp không cần chủ động thực
hiện các biện pháp hỗ trợ mà chỉ đơn thuần là không can thiệp vào việc thụ
hƣởng các quyền này của công dân. Việc bảo đảm thực hiện các quyền này
không đòi hỏi nhiều nguồn lực nên các quốc gia có thể thực hiện đƣợc ngay
và nhà nƣớc phải đảm bảo tất cả công dân của mình đều thực hiện đƣợc các
quyền này một cách đầy đủ nhất.
Đối với việc đảm bảo thực hiện các quyền dân sự của NKT do xuất
phát từ những đặc điểm khuyết tật của mình nên trong việc thực hiện các
quyền dân sự thì Nhà nƣớc cũng nhƣ xã hội cần có những biện pháp hỗ trợ cụ
thể để NKT có thể thực hiện đƣợc các quyền này. Việc hỗ trợ ở đây cũng chỉ là
mang tính chất hỗ trợ về mặt tinh thần và các điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo
phù hợp theo dạng khuyết tật của những NKT.
Nhƣ vậy, bản thân NKT họ cũng có đầy đủ các quyền dân sự nhƣ những
công dân khác của một quốc gia và nghĩa vụ của nhà nƣớc và xã hội là phải tạo
mọi điều kiện thuận lợi nhất để NKT thực hiện đƣợc các quyền dân sự này của
họ một cách đầy đủ nhất. Do xuất phát từ những khuyết tật của mình nên trong
việc thực hiện các quyền của NKT có những đặc trƣng riêng mà nhà nƣớc và
xã hội phải hỗ trợ họ để họ thực hiện đƣợc các quyền của mình.
1.1.2. Sự cần thiết phải thúc đẩy, bảo vệ quyền dân sự của ngƣời
khuyết tật
Từ định nghĩa NKT trên cho ta thấy đƣợc những đặc điểm riêng của
NKT, cùng tồn tại trong một xã hội nhƣng NKT mang những đặc điểm và đời
sống riêng. NKT trƣớc hết là những con ngƣời nên họ mang những đặc điểm
coi thƣờng, miệt thị của nhiều ngƣời trong xã hội đối với tình trạng khuyết tật
của họ. Quan niệm của xã hội đối với NKT vẫn còn tiêu cực, nhiều ngƣời trong
xã hội vẫn coi NKT là gánh nặng cho xã hội, coi thƣờng những khả năng của
11
chính NKT, nhiều ngƣời trong xã hội vẫn coi NKT là những đối tƣợng "đáng
thƣơng", coi NKT là những đối tƣợng của lòng thƣơng hại. Từ đó, chính
những ngƣời trong xã hội vẫn còn có thái độ kì thị, phân biệt đối xử với NKT,
nhiều khi nó còn diễn ra trong chính gia đình NKT. Chính bản thân những NKT
cũng có những suy nghĩ không tốt, khi một ngƣời ở vào trong hoàn cảnh bị
khiếm khuyết về thể chất và tinh thần thì chính họ cũng cảm thấy mặc cảm, từ
đó họ tự ti khi tham gia vào các hoạt động xã hội, họ cảm thấy chính bản thân
mình là gánh nặng cho gia đình và họ là NKT nên vì những khiếm khuyết của
chính bản thân mình mà cảm thấy không hòa nhập đƣợc vào đời sống xã hội,
họ coi mình là thành phần bỏ đi của xã hội. Hiện nay các hoạt động hỗ trợ NKT
còn rất hạn chế, thực tế cho thấy có sự khác biệt giữa nhu cầu của NKT và
những giúp đỡ mà họ nhận đƣợc, sự giúp đỡ của nhà nƣớc và cộng đồng mang
tính từ thiện nhiều hơn là phát triển con ngƣời.
NKT đƣợc chia thành nhiều dạng khác nhau dựa vào dạng khuyết tật
của họ và mỗi dạng khuyết tật có những đặc điểm riêng, chung về tâm sinh lí,
về khả năng qua đó tác động đến các nhu cầu của bản thân và có ảnh hƣởng
qua lại, tác động đáng kể đến môi trƣờng xung quanh làm xuất hiện những hệ
quả pháp lí trong quá trình hòa nhập cộng đồng.
Ở những NKT vận động, khuyết tật nghe nói, khuyết tật nhìn đều có bộ
não phát triển bình thƣờng. Nếu đƣợc quan tâm tạo môi trƣờng thuận lợi, rèn
luyện từ sớm và thƣờng xuyên thì họ vẫn có thể tiếp thu đƣợc chƣơng trình
học tập, làm việc, tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội của cộng đồng,
trở thành ngƣời có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Tuy nhiên, do hạn chế
không thể phản ánh hết đƣợc những gì mà bản thân NKT mong muốn thể
hiện ra bên ngoài, bên cạnh đó việc tiếp cận với ngôn ngữ kí hiệu không phải
là việc dễ dàng đối vơi những NKT, điều đó càng làm hạn chế khả năng giao
tiếp, hòa nhập của NKT trong đời sống, xã hội và việc làm.
Còn đối với các dạng khuyết tật khác nhƣ khuyết tật nhìn, khuyết tật trí
13
tuệ cũng làm ảnh hƣởng không nhỏ đến đời sống NKT. Đối với những ngƣời
không thể nhìn thấy thì việc họ tham gia vào đời sống xã hội cũng nhƣ học
tập gặp rất nhiều khó khăn, do không thể nhìn thấy nên họ không thể biết
đƣợc về cuộc sống xung quanh chính mình, họ bị hạn chế khi giao lƣu, tiếp
xúc với xã hội cũng cách họ tiếp cận với những gì đang xảy ra trong chính
môi trƣờng sống của họ. Mặc dù hiện nay,việc học tập của những ngƣời
khuyết tật về nhìn đã đƣợc khắc phục phần nào do họ đã có chữ viết riêng,
việc học tập của những ngƣời khuyết tật phần nào đã đƣợc quan tâm, xã hội
cũng đã có những chính sách ƣu tiên, quan tâm tạo điều kiện cho họ tiếp cận
với chữ viết, hệ thống các trƣờng học cũng đã có những chƣơng trình riêng
dành cho những NKT về khả năng nhìn, hệ thống chữ viết của họ đã đƣợc
nhân rộng trong các trƣờng học giúp cho những ngƣời này học tập và phát
huy đƣợc khả năng của mình tốt hơn.
Nhƣ vậy, qua phân tích trên chúng ta đã thấy đƣợc những ƣu điểm cũng
nhƣ nhƣợc điểm của từng dạng khuyết tật của những NKT, từ đó chúng ta có
thể thấy, mặc dù có những khiếm khuyết có thể là về thể chất hoặc tinh thần,
nhƣng bản thân những NKT họ vẫn có thể tham gia vào đời sống xã hội giống
nhƣ những ngƣời bình thƣờng nếu có sự hỗ trợ đúng mực. Bản thân những
NKT họ có những thế mạnh riêng mà chỉ cần xã hội cho họ cơ hội phát huy
thì chính những NKT họ hoàn toàn có thể chủ động trong cuộc sống của
mình, vƣơn lên khỏi những khó khăn mà họ đang gặp phải để chính họ có thể
ta giúp đỡ họ có thể phát huy đƣợc thế mạnh đó thì chính những NKT họ có
thể tự nuôi sống chính bản thân mình, có thể tự tham gia vào các hoạt động xã
hội mà không còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội nhƣ chúng ta vẫn
thƣờng nghĩ khi nói đến NKT. Bản thân những NKT đã đƣợc pháp luật công
nhận là một chủ thể của pháp luật thì họ cần đƣợc xã hội và Nhà nƣớc đảm
bảo phải thực hiện đƣợc tất cả các quyền mà một chủ thể pháp luật có nhƣ
những quyền về học tập, lao động, việc làm, kết hôn,...Bởi vì có đảm bảo
15
đƣợc rằng NKT họ có đầy đủ các quyền đó thì chúng ta mới thực sự làm đúng
tinh thần của pháp luật là coi ngƣời khuyết tật cũng là chủ thể của pháp luật.
Việc bảo vệ quyền của NKT cũng là việc rất cần thiết trong việc tạo
điều kiện cho NKT thực sự tham gia hội nhập vào đời sống văn hóa - xã hội
cũng nhƣ chính trị, giúp họ hòa nhập cộng đồng nhanh hơn đồng thời tạo
những điều kiện tốt nhất để NKT thực sự tiếp cận và phát huy những gì mà họ
có thể làm để có thể tự nuôi sống, chăm lo cho bản thân và gia đình mình, họ có
thể hoàn toàn tự chủ đƣợc trong đời sống của mình mà không cần phải trở
thành gánh nặng cho gia đình và xã hội, họ có thể tự chăm lo đƣợc cho cuộc
sống của riêng mình, giảm bớt đƣợc gánh nặng cho gia đình và xã hội, và một
khi có thể tham gia vào đời sống xã hội nhƣ những ngƣời bình thƣờng khác
thì chính bản thân những NKT họ sẽ cảm thấy tự tin hơn, họ thấy mình có ích
cho xã hội, đƣợc xã hội quan tâm và coi trọng, họ sẽ thoát khỏi cảm giác mặc
cảm, tự ti vốn có của NKT từ đó họ sẽ phát huy tốt những gì mà họ có để
đóng góp và cống hiến cho xã hội.
Việc bảo vệ tốt quyền của NKT cũng là một cách để giáo dục và thay
đổi nhận thức vốn có cũng nhƣ cách nhìn của mọi ngƣời trƣớc đây về ngƣời
khuyết tật. Giáo dục đƣợc cái tƣ tƣởng tôn trọng lẫn nhau giữa những con
ngƣời cùng tồn tại trong xã hội để mọi ngƣời hiểu rõ hơn về NKT và tôn
nƣớc trong hầu hết các trƣơng hợp, không cần chủ động thực hiện các biện
pháp hỗ trợ mà chỉ đơn thuần là kiềm chế không can thiệp vào việc thụ hƣởng
các quyền này của cá nhân, tuy nhiên trong một số trƣờng hợp nhà nƣớc cũng
phải thực hiện các nghĩa vụ chủ động để đảm bảo thực hiện hóa các quyền
này, việc bảo đảm thực hiện các quyền dân sự không đòi hỏi tiêu tốn nhiều
nhân lực, vật lực, nên các quốc gia có thể và cần phải thực hiên ngay.
Q u a đ â y t a t h ấ y đ ể b ảo v ệ cá c q u y ề n d ân s ự củ a N K T t h ì v i ệc b an h
àn h c ác q u y đ ị n h p h áp l u ật p h ù h ợp v ới đ ố i t ƣợn g N K T , t ạo h àn h l an g p h
á p l í c h o v i ệ c t h ự c h i ệ n mộ t c á c h n g h i ê m t ú c c á c q u y ề n n à y l à m ộ t t r o n g
những yêu cầu quan trọng trong quá trình bảo vệ và thúc đẩy các quyền dân s ự
c ủ a b ả n t h â n N KT .
17
Đối với những NKT thì chính thái độ kì thị của xã hội là một rào cản
rất lớn đẩy những NKT ra khỏi các hoạt động xã hội, tách biệt những NKT
thành những đối tƣợng, những gánh nặng chung của xã hội. Chính vì vậy,
thay đổi cuộc sống NKT trƣớc tiên bắt đầu từ thay đổi trong nhận thức của xã
hội. Trong thời gian dài NKT mới chỉ đƣợc coi là đối tƣợng của tình thƣơng,
việc bảo vệ, hỗ trợ chủ yếu dựa trên cách tiếp cận của lòng nhân ái chứ không
bắt nguồn từ nhận thức rằng họ cũng là chủ thể của quyền, bản thân NKT
cũng là một công dân bình đẳng cũng mang quyền và nghĩa vụ nhƣ những
công dân khác. Và chính là những công dân của xã hội nên các đối tƣợng
khác còn lại phải luôn có nghĩa vụ phải tôn trọng và bảo đảm cho NKT đƣợc
thực hiện các quyền công dân đó. Chính vì những suy nghĩ không tôn trọng,
kì thị NKT mà đã làm cho NKT không những không có đầy đủ các quyền con
ngƣời mà thêm vào đó còn ngăn cản họ tham gia, hội nhập có hiệu quả vào
đời sống xã hội.
Cùng với những thay đổi về nhận thức thì trong các văn bản pháp lý
trong xã hội, gây cản trở tốc độ của quá trình phát triển tiến bộ của xã hội...
Sự kì thị phân biệt của xã hội có thể dẫn đến nguy cơ tồn tại của những NKT
trong xã hội, thậm chí cực đoan tới mức đe dọa mạng sống của họ. Để bảo vệ
quyền của ngƣời khuyết tật, bên cạnh việc tái khẳng định quyền đƣợc sống
bình đẳng của họ, Công ƣớc của UN còn quy định trách nhiệm của các quốc
gia thành viên trong việc đảm bảo thực hiện quyền này cho ngƣời khuyết tật.
Theo đó các quốc gia cần:
Tiền hành các biêṇ pháp p hù hợp với nghĩa vụ của mình theo
luật quốc tế, trong đó có luật nhân đạo quốc tế và luật quốc tế về
quyền con ngƣời, các quốc gia thành viên phải tiến hành mọi biện
pháp cần thiết để bảo đảm sự bảo vệ và sự an toàn cho ngƣời
khuyết tật trong các tình huống nguy hiểm, trong đó có chiến tranh,
tình trạng khẩn cấp nhân đạo và thiên tai [13, Điều 11].
19