ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÀO THỊ KIM DUNG
PH¸P LUËT VÒ D¹Y NGHÒ §èI VíI NG¦êI KHUYÕT TËT
ë VIÖT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. MAI VĂN THẮNG
HÀ NỘI - 2014LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
1.3. Tính cần thiết và vai trò của pháp luật về dạy nghề đối với
ngƣời khuyết tật ở Việt Nam 28
1.3.1. Tính cần thiết của pháp luật về dạy nghề đối với ngƣời khuyết
tật ở Việt Nam 28
1.3.2. Vai trò của pháp luật về dạy nghề đối với ngƣời khuyết tật 31
1.4. Những quy định, tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế về
ngƣời khuyết tật và dạy nghề đối với ngƣời khuyết tật 33
1.4.1. Những quy định, tiêu chuẩn của Công ƣớc quốc tế về ngƣời
khuyết tật và dạy nghề đối với ngƣời khuyết tật 33
1.4.2. Những quy định, tiêu chuẩn của Tổ chức lao động quốc tế (ILO)
về ngƣời khuyết tật và dạy nghề đối với ngƣời khuyết tật 37
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 39
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DẠY NGHỀ ĐỐI
VỚI NGƢỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
Ở VIỆT NAM 40
2.1. Thực trạng pháp luật về dạy nghề đối với ngƣời khuyết tật
ở Việt Nam 40
2.1.1. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dạy nghề đối với ngƣời
khuyết tật 40
2.1.2. Hiện trạng các quy định pháp luật về dạy nghề đối với ngƣời
khuyết tật 43
2.1.3. Đánh giá chung về thực trạng các quy định của pháp luật về
dạy nghề đối với ngƣời khuyết tật ở Việt Nam hiện nay 52
2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật về dạy nghề đối với ngƣời
khuyết tật ở Việt Nam hiện nay 56
2.2.1. Thực trạng chung trong hoạt động áp dụng pháp luật về dạy
nghề đối với ngƣời khuyết tật 56
2.2.2. Những thành tựu và hạn chế trong áp dụng pháp luật về dạy
nghề đối với ngƣời khuyết tật ở Việt Nam hiện nay 66
NTT
Ngƣời tàn tật
USAID
Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ.
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1.
Tỉ lệ ngƣời tàn tật đƣợc học nghề
73
Bảng 2.2.
Lý do không tham gia các lớp học nghề
76
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
Biểu đồ 2.1.
Số ngƣời khuyết tật đƣợc dạy nghề giai đoạn
2006 – 2010 (ngƣời)
cộng đồng mà còn là hoạt động mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và
nhân văn sâu sắc.
Là mắt xích quan trọng trong chính sách an sinh xã hội, với truyền
thống nhân đạo của dân tộc, ngƣời khuyết tật luôn nhận đƣợc sự quan tâm của
Đảng và Nhà nƣớc ta. Ngay từ Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội (tháng 6-1991) đã khẳng đinh: "Chính sách xã hội bảo
đảm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất của mọi thành viên trong xã
hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh…Chăm lo đời sống những
người già neo đơn, tàn tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi" [19]. Đến Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI chỉ rõ:
Từng bƣớc xây dựng chính sách bảo trợ xã hội đối với toàn
dân, theo phƣơng châm Nhà nƣớc và nhân dân cùng làm, mở rộng
và phát triển sự nghiệp bảo trợ xã hội, tạo lập nhiều hệ thống và 2
hình thức bảo trợ xã hội cho những ngƣời có công với cách mạng
và những ngƣời gặp khó khăn. Nghiên cứu bổ sung chính sách, chế
độ bảo trợ xã hội phù hợp với quá trình đổi mới và cơ chế quản lý
kinh tế, quản lý xã hội [18].
Thể chế hóa các quan điểm của Đảng, Hiến pháp và nhiều văn bản pháp
luật đã đƣợc ban hành tạo hành lang và cơ sở pháp lý để NKT thực hiện những
quyền cơ bản của con ngƣời, tham gia vào đời sống và sự phát triển của xã hội.
Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và lần sửa đổi gần đây nhất là Hiến
pháp năm 2013 đều khẳng định NKT là công dân, thành viên của xã hội. Họ có
quyền đƣợc xã hội trợ giúp để thực hiện đƣợc quyền bình đẳng và tham gia tích
cực vào các hoạt động của xã hội, đồng thời đƣợc miễn trừ một số nghĩa vụ
công dân. Đặc biệt, công tác dạy nghề và giải quyết việc làm cho NKT đƣợc
quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi từ phát triển hạ tầng cơ sở cho đến các chính
sách trợ giúp đối tƣợng tham gia học nghề. Bộ luật lao động 2012 ra đời, thay
NKT, nhận xét đánh giá thực tiễn áp dụng, tìm ra nguyên nhân của những tồn
tại để từ đó đƣa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
trong việc dạy nghề đối với NKT, góp phần nâng cao tính hiệu quả trong
chăm sóc, bảo vệ quyền của họ nhƣ là nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng trong bối
cảnh và xu thế hiện nay ở nƣớc ta là cần thiết. Xuất phát từ những lý do trên,
tác giả luận văn đã chọn đề tài nghiên cứu "Pháp luật về dạy nghề đối với
người khuyết tật ở Việt Nam" làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Tôn trọng và bảo đảm quyền của ngƣời khuyết tật không chỉ là vấn đề
mang tính xã hội mà còn có ý nghĩa về kinh tế và pháp lý cần đƣợc xã hội quan
tâm. Đã có một số bài báo và một số công trình nghiên cứu về vấn đề này nhƣ:
- Luận văn thạc sỹ (1999), "Pháp luật về lao động tàn tật ở Việt Nam",
Phạm Thị Thanh Việt. 4
- Luận văn thạc sỹ, "Dạy nghề và tạo việc làm cho NKT: Thực trạng và
những vấn đề đặt ra"
- Luận án tiến sỹ, "Hoàn thiện pháp luật về quyền của NKT ở Việt Nam
hiện nay" của Nguyễn Thị Báo, đăng trên trang Thông tin khoa học và xã hội,
số 8(320), 2009.
- Khóa luận tốt nghiệp (2000), “Chế độ lao động đối với người tàn
tật” của Trần Thị Hoa.
- Khóa luận tốt nghiệp (2004), “Chế độ lao động đối với người tàn tật
ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Kim Oanh.
- Luận văn thạc sỹ (2010), “Pháp luật về lao động tàn tật ở Việt Nam”
của Phạm Thị Thanh Việt.
Ngoài ra, còn một số bài báo cũng đề cập đến lao động tàn tật nhƣ:
“Tạo cơ hội cho người khuyết tật hòa nhiệp và tiếp cận đầy đủ trong quá
trình phát triển” của TS Đàm Hữu Đắc đăng trên Tạp chí Lao động và Xã hội
Nghiên cứu của luận văn nhằm mục đích làm sáng tỏ hệ thống lý luận
pháp luật về dạy nghề cho NKT hiện nay, đồng thời, phân tích thực trạng
pháp luật liên quan đến vấn đề dạy nghề cho NKT ở Việt Nam. Trên cơ sở đó
đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định, chính sách pháp luật,
cũng nhƣ việc tổ chức thực hiện trong thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả trong
việc dạy nghề đối với NKT ở Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định liên
quan đến pháp luật về dạy nghề đối với ngƣời khuyết tật và thực trạng của
vấn đề pháp lý, thực tiễn áp dụng, thực thi các quy định, chính sách pháp luật
đối với dạy nghề đối với NKT. 6
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu chế độ dạy
nghề đối với ngƣời khuyết tật trên lãnh thổ Việt Nam từ trƣớc năm 2006 đến
nay. Với lý do, năm 2006 là mốc thời gian Quốc hội khóa XI ban hành Luật
Dạy nghề, trong đó dành riêng một chƣơng cho vấn đề dạy nghề đối với NKT.
5. Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn đã góp phần làm rõ hệ thống lý luận, từ đó có những nhận
thức mới, sâu sắc hơn về những vấn đề pháp lý cơ bản đối với pháp luật dạy
nghề cho NKT trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, từng bƣớc tạo nên
môi trƣờng lao động hài hòa, không rào cản cho NKT phù hợp với Công ƣớc
về quyền của NKT.
- Luận văn cũng đã phân tích và đánh giá hệ thống pháp luật về dạy
nghề cho ngƣời khuyết tật; chỉ ra đƣợc những điểm tích cực, hạn chế, nguyên
nhân những hạn chế cơ bản của hệ thống văn bản hiện hành và thực tiễn thi
hành pháp luật dạy nghề cho NKT.
- Trên cơ sở những nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực
thi, luận văn đã đề xuất các giải pháp, phƣơng hƣớng hoàn thiện các quy định,
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY NGHỀ ĐỐI VỚI NGƢỜI KHUYẾT TẬT Ở
VIỆT NAM
1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về ngƣời khuyết tật và quyền của
ngƣời khuyết tật
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm người khuyết tật
1.1.1.1. Khái niệm người khuyết tật
Hiện nay ở nƣớc ta tồn tại nhiều quan niệm về NKT. Mỗi một quan
niệm đều đứng trên một góc nhìn khác nhau và có mục đích riêng. Trƣớc khi
Luật Ngƣời khuyết tật năm 2010 có hiệu lực, pháp luật Việt Nam nhìn nhận
ngƣời khuyết tật dƣới góc độ “Ngƣời tàn tật” (NTT). Điều này đƣợc ghi nhận
tại Điều 1 của Pháp lệnh Ngƣời tàn tật năm 1998:
Ngƣời tàn tật theo quy định của Pháp lệnh này không phân biệt
nguồn gốc gây ra tàn tật là ngƣời bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ
phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dƣới những dạng tật khác
nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh
hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn [53].
Theo Điều 1 Nghị định số 81- CP ngày 23/11/1995 quy định chi tiết và
hƣớng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động là ngƣời tàn
tật thì “Người tàn tật là người mà khả năng lao động bị suy giảm từ 21% trở
lên do tàn tật, được Hội đồng giám định y khoa xác nhận” [11, Điều 1].
Trong quy định này khái niệm NTT mới chỉ đƣa ra một cách chung
dụng thuật ngữ trẻ em khuyết tật thay cho thuật ngữ trẻ em tàn tật: “Nhà nước
và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn khác được học văn hóa và học nghề phù hợp” [33, Điều 59]. Với sự
thay thế cách hiểu và cách sử dụng thuật ngữ trong Hiến pháp này, lần đầu
tiên NKT đã đƣợc nhìn nhận và đánh giá phù hợp với tâm lý và thực tế tránh
quan niệm kỳ thị phân biệt đối xử đối với nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng này. 10
Trên cơ sở Hiến pháp 1992 sửa đổi, ngày 17/6/2010, Quốc hội Việt
Nam đã thông qua Luật Ngƣời khuyết tật và tại đây chính thức sử dụng khái
niệm “Ngƣời khuyết tật” thay cho khái niệm “tàn tật” trƣớc đây. Thuật ngữ
này, thiết nghĩ phù hợp với khái niệm và xu hƣớng nhìn nhận của thế giới về
vấn đề khuyết tật. Theo quy định của Luật này thì NKT đƣợc hiểu là “Người
bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng
được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao đô
̣
ng , sinh hoạt, học tập gặp khó
khăn”. Đây là sự thể hiện quan điểm và nhận thức của Đảng và Nhà nƣớc ta
về NKT. Rõ ràng, NKT có thể là ngƣời có những khiếm khuyết nhƣng không
phải đã tàn phế. Theo cách hiểu này thì NKT bao gồm cả những ngƣời bị
khuyết tật bẩm sinh, ngƣời bị khiếm khuyết do tai nạn, thƣơng binh, bệnh
binh. Trong bản Hiến pháp 2013, khái niệm ngƣời khuyết tật đã đƣợc sử dụng
và không chỉ còn nói đến trẻ em khuyết tật mà còn nói đến trách nhiệm của
nhà nƣớc đối với ngƣời khuyết tật nói chung [41, Điều 61].
Có thể thấy, khái niệm NKT trong Luật Ngƣời khuyết tật so với khái
niệm ngƣời tàn tật nói trong Pháp lệnh trƣớc đây đã có bƣớc phát triển mới,
tiếp cận với quan niệm thông thƣờng và chuẩn mực quốc tế về NKT (Công
ƣớc năm 2006) mà Việt Nam đã ký kết. Việc sử dụng từ ngữ “Ngƣời khuyết
tật” thay cho từ ngữ “Ngƣời tàn tật” nhằm bảo đảm tính nhân văn, không
cuộc sống bi quan, cô lập với mọi ngƣời và thế giới xung quanh. Họ cho rằng
mình là gánh nặng cho gia đình và xã hội nên thƣờng có tâm lý chán nản, thái
độ bất cần vì có cố gắng nỗ lực cũng khó đƣợc ghi nhận. Ở những ngƣời mà
khuyết tật nhìn thấy đƣợc, chẳng hạn nhƣ khuyết chi, họ có các biểu hiện tâm
lý giống nhƣ mặc cảm ngoại hình, tức là sự chú trọng quá mức đến khiếm
khuyết cơ thể đến nỗi gây khổ đau lớn.Họ thƣờng mang tâm lý trốn tránh và
sợ hãi khi thực hiện các hoạt động mang tính cộng đồng nhƣ giao lƣu gặp gỡ
ở chỗ đông ngƣời. Họ cảm thấy mình là ngƣời thừa, không còn có ích cho xã 12
hội, thậm chí cảm thấy bị Nhà nƣớc bỏ rơi. Vì vậy một bộ phận không nhỏ
NKT mang tâm lý căm ghét chế độ, căm hận cuộc sống hoặc có xu hƣớng
sống thu mình, không quan tâm tới mọi hoạt động xung quanh. Do có cuộc
sống khó khăn hơn bình thƣờng và tâm lý cùng điều kiện khác mà một số
lƣợng không nhỏ NKT không gia đình, không có nơi để làm chỗ dựa nên rất
cần Nhà nƣớc có những chính sách hỗ trợ riêng cho họ, những con ngƣời kém
phần may mắn ngoài những trợ cấp về vật chất khi cần thiết. Chính những
chính sách phù hợp này sẽ tạo cho NKT cơ hội để hòa nhập cộng đồng, thuận
lợi trong việc tìm kiếm việc làm, có thu nhập đảm bảo cuộc sống và hơn cả là
giải phóng sự ức chế về mặt tâm lý cho họ.
- Về hoạt động xã hội, xuất phát từ những đặc thù về tâm lý, NKT đƣợc
xếp vào đối tƣợng dễ bị tổn thƣơng nhất trong nhóm dễ bị tổn thƣơng, là
những ngƣời yếu thế trong xã hội, họ tham gia hoạt động xã hội rất hạn chế.
Khuyết tật là nguyên nhân chính gây ra nhiều khó khăn cho NKT trong việc
tham gia các hoạt động xã hội. Những khó khăn càng trở nên trầm trọng hơn
do thái độ tiêu cực của cộng đồng đối với NKT. Trong cộng đồng nhiều ngƣời
có suy nghĩ coi NKT là “đáng thƣơng”, không có cuộc sống “bình thƣờng”, là
“gánh nặng” của xã hội…
- Về nhận thức pháp luật:NKT là đối tƣợng chịu sự kỳ thị, phân biệt
tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ; khuyết tật khác. Mỗi
loại khuyết tật này có những đặc điểm nhất định về tâm, sinh lý. Qua đó tác động
đến các nhu cầu và sự hòa nhập của ngƣời khuyết tật. Tiêu biểu là:
- Khuyết tật vận động: Là những ngƣời có cơ quan vận động bị tổn
thƣơng, biểu hiện dễ nhận thấy là có khó khăn trong ngồi, nằm, di chuyển,
cầm, nắm… Do đó, ngƣời khuyết tật vận động gặp rất nhiều khó khăn trong
sinh hoạt cá nhân, vui chơi, học tập và lao động. Tuy nhiên, đa số ngƣời
khuyết tật vận động có bộ não phát triển bình thƣờng nên họ tiếp thu đƣợc 14
chƣơng trình học tập, làm đƣợc việc có ích cho gia đình, bản thân và xã hội.
NKT về vận động cần đƣợc sự hỗ trợ về phƣơng tiện đi lại (xe lăn, gậy
chống…) và đặc biệt là không gian cần thiết, thuận tiện, phù hợp để di chuyển
khi làm việc, đảm bảo các nhu cầu cuộc sống bình thƣờng của con ngƣời và
tham gia các hoạt động xã hội.
- Khuyết tật nghe, nói (khuyết tật ngôn ngữ): Là ngƣời có khó khăn đáng
kể về nghe, nói, đọc, viết làm ảnh hƣởng tiêu cực đến quá trình giao tiếp và học
tập. Khó khăn về nói, nghe, đọc của ngƣời khuyết tật ngôn ngữ ảnh hƣởng trực
tiếp đến giao tiếp từ đó làm hạn chế sự làm việc, học tập, hòa nhập cộng đồng
của họ. Điều này làm họ dễ cảm thấy mất tự chủ, thiếu tự tin trong giao tiếp với
ngƣời xung quanh - nếu nhƣ khiếm khuyết của họ thay vì nhận đƣợc sự cảm
thông lại vấp phải thái độ giễu cợt hoặc thiếu kiên nhẫn của ngƣời nghe.
- Khuyết tật nhìn (khuyết tật thị giác, khiếm thị): Là những ngƣời có tật
về mắt nhƣ: hỏng mắt, không đủ sức nhận biết thế giới hữu hình bằng mắt
hoặc nhìn thấy không rõ ràng. Tổ chức y tế thế giới (1992) còn đƣa ra các
khái niệm để phân biệt mức độ khuyết tật nhìn khác nhau: Khiếm thị, nhìn
kém, mù (hoàn toàn) [7]. Ngƣời khuyết tật nhìn có trí tuệ phát triển bình
thƣờng, có hai cơ quan phân tích thƣờng rất phát triển: thính giác và xúc giác,
nếu đƣợc huấn luyện sớm và khoa học hoàn toàn có thể thay thế cơ quan thị
hội (đa phần ngƣời khuyết tật trí tuệ yếu kém về các kỹ năng xã hội, rất ít
thậm chí không có nhu cầu giao tiếp); cuối cùng là về hành vi (ngƣời khuyết
tật trí tuệ thƣờng có những hành vi làm cho họ khó hòa nhập: hành vi tự lạm
dụng, quá hiếu động, quá ù lì…) [52].
- Khiếm thính: Theo quan điểm y tế (lâm sàng) thì ngƣời khiếm thính là
những ngƣời bị mất hoặc suy giảm về sức nghe kéo theo những hạn chế về
phát triển ngôn ngữ nói cũng nhƣ khả năng giao tiếp [26]. Đặc điểm của
những ngƣời khó khăn về nghe (khiếm thính) là những ngƣời bị phá hủy cơ 16
quan thính giác ở các mức độ khác nhau dẫn đến việc ngƣời khiếm thính
không có khả năng tri giác thế giới âm thanh đặc biệt ngôn ngữ âm thanh. Hỗ
trợ cần thiết với họ là phát hiện, chẩn đoán, chữa trị sớm; cung cấp phƣơng
tiện trợ giúp (máy trợ thính); giao tiếp tổng hợp.
Ngoài các dạng trên còn có một số dạng khuyết tật khác nhƣ: ngƣời bị
rối loạn hành vi cảm xúc, ngƣời mắc hội chứng tự kỷ, ngƣời bị rối loạn ngôn
ngữ, ngƣời đa tật.
b) Mức độ khuyết tật
Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới, có ba mức độ suy giảm là:
khiếm khuyết, khuyết tật và tàn tật. Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc
không bình thƣờng của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc và sinh
lý. Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự
khiếm khuyết [26]. Còn tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của
ngƣời mang khiếm khuyết do tác động của môi trƣờng xung quanh lên tình
trạng khuyết tật của họ (WHO, 1999). Theo quan điểm của Tổ chức Quốc tế
ngƣời khuyết tật, ngƣời khuyết tật trở thành tàn tật là do thiếu cơ hội để tham
gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống nhƣ thành viên khác. Do
vậy, khuyết tật là một hiện tƣợng phức tạp, phản ánh sự tƣơng tác giữa các
tính năng cơ thể và các tính năng xã hội mà trong đó ngƣời khuyết tật sống.