Phân tích các nguyên tắc bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật. Các nguyên tắc đó được thể hiện như thế nào trong quy định của pháp luật bảo trợ xã hội với người khuyết tật - Pdf 35

MỤC LỤC
MỤC LỤC................................................................................................................................................1
MỞ ĐẦU.................................................................................................................................................1
NỘI DUNG..............................................................................................................................................2
KẾT LUẬN.............................................................................................................................................16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................................16

MỞ ĐẦU
Người khuyết tật mặc dù chỉ là một nhóm thiểu số trong xã hội nhưng họ
là một bộ phận dân cư cấu thành nên cộng đồng xã hội. Trong suốt một thời
gian dài, mọi người đều có cảm giác ái ngại khi nhắc đên người khuyết tật với
những khiếm khuyết trên cơ thể cản trở các hoạt động, gây cho họ những bất
lợi, thiệt thòi. Các chính sách, quy định của pháp luật thường nghiêng về khía
cạnh bảo trợ xã hội đối với đối tượng rủi ro, bất hạnh cần được nâng đỡ. Đến
khi Luật người khuyết tật ra đời, quan điểm về người khuyết tật cùng các quan
điểm khác đã được thay đổi phần nào, tạo nên cách nhìn nhận mới về một bộ
phận dân cư có đặc điểm như thế. Các nguyên tắc bảo trợ xã hội đối với người

1


khuyết tật được Nhà nước và các cơ quan có trách nhiệm liên quan thực hiện
thông qua các văn bản luật, dưới luật. Để hiểu rõ hơn phần này, em đã chọn đề
tài “Phân tích các nguyên tắc bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật. Các
nguyên tắc đó được thể hiện như thế nào trong quy định của pháp luật bảo trợ
xã hội với người khuyết tật” để làm bài học kỳ của mình.
NỘI DUNG
I.
1.

Một số khái niệm

Như vậy thì mới có các cách tiếp cận, các phương án đề ra để có thể chữa trị,
hoàn thiện chức năng cho NKT đồng thời cũng giúp học hòa nhập với cộng
đồng, vượt qua các rào cản xã hội, giảm bớt sự tự ti, suy nghĩ là phần thừa của
gia đình và xã hội. Với cách tiếp cận đó, ta có thể đưa ra định nghĩa, khái niệm
NKT như sau: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ
phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu
dài trong việc tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở
bình đẳng với những chủ thể khác”.



2. Khái niệm bảo trợ xã hội và bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Khái niệm bảo trợ xã hội

Bảo trợ xã hội là biện pháp tương trợ cộng đồng đầu tiên mà con người nghĩ đến
khi cần đến sự giúp đỡ giữa người với người khi họ gặp phải những rủi ro, bất
hạnh, biến cố trong cuộc sống. Dù vì nguyên nhân gì, khi gặp khó khăn, họ cần
có được sự giúp đỡ để bảo đảm cuộc sống tối thiểu, khắc phục khó khăn và có
cơ hội vươn lên hòa nhập cộng đồng. Họ cần trợ giúp, và bảo trợ xã hội chính là
biện pháp tương trợ cơ bản, phổ biến và giữ vai trò quan trọng trong hệ thống an
sinh xã hội mỗi quốc gia. Bên cạnh những hình thức tương trợ cộng đồng truyền
thống như từ thiện, phát chẩn, cứu đói,… sự can thiệp của nhà nước đối với một
bộ phận dân cư có hoàn cảnh khó khăn trong xã hội như một sự đảm bảo có tính
ổn định và an toàn hơn
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của BTXH, hầu hết các nước
đều tổ chức thực hiện BTXH bằng cách xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện
3


phù hợp với các điều kiện kinh tế, chính trị, phong tục, tập quán… của mình.

4


Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật quy định cụ thể chế độ BTXH
với phạm vi đối tượng, điều kiện hưởng, mức hưởng… và các tổ chức thực
hiện. Do vậy, có thể hiểu, dưới góc độ pháp luật, chế độ BTXH là tổng thể các
quy phạm pháp luật có quan hệ chặt chẽ với nhau, xác định quyền và nghĩa vụ
của Nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc hỗ trợ về vật chất và tinh thần cho
các thành viên trong xã hội khi bị lâm vào hoàn cảnh bất hạnh, rủi ro, nghèo
đói,.. không đủ khả năng đảm bảo cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình.
 Đặc điểm bảo trợ xã hội
 Về đối tượng: tham gia vào quan hệ BTXH bao gồm Nhà nước, các đối
tượng BTXH và các chủ thể khác như tổ chức, cá nhân khác trong hoạt động
chug mang tính nhân đạo này. Trong đó:
- Đối tượng bảo trợ: là mọi người dân trong xã hội khi rơi vào hoàn cảnh
khó khăn, rủi ro, bất hạnh cần có sự giúp đỡ để tồn tại. Đó có thể là những cá
nhân có mức sống dưới mức sống tối thiểu của xã hội, hoặc gặp rủi ro về vật
chất; có thể là những người bị rơi vào vị thế bất lợi, thiệt thòi, ít có cơ may
trong cuộc sống, không có khả năng tự lo liệu cho cuộc sống của bản thân và
gia đình… Nhà nước cùng với Bộ Lao động thương binh xã hội, các Bộ, ban,
Ngành như Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và toàn thể các thành viên trong xã hội xác
định trách nhiệm với tư cách là một chủ thể trong quan hệ BTXH, xác định
được nghĩa vụ của mình về bảo trợ xã hội cho các đối tượng như đã phân tích ở
trên.
 Về mục đích: nhằm duy trì cuộc sống cho đối tượng mà không nhằm khôi
phục lại mức sống trước khi gặp sự kiện rủi ro, bất hạnh, giúp họ vượt qua khó
khăn, vượt lên hòa nhập với cộng đồng và vượt qua các rào cản xã hội, phát huy
khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình hoặc gia đình.
 Mức hưởng thường thấp và linh hoạt, phụ thuộc và khả năng tài chính của
Nhà nước, khả năng huy động nguồn lực, và tình trạng thực tế của đối tượng,…

hết và cơ bản là khoản trợ cấp, hỗ trợ nuôi dưỡng trong chế độ BTXH.

6


Từ những cách tiếp cận khác nhau về phạm vi nôi dung rộng và hẹp cho thấy ý
nghĩa của BTXH đối với các thành viên xã hội, đặc biệt là NKT có sự khác
nhau nhất định.
Dưới góc độ kinh tế:
Do những hạn chế về sức khỏe, hầu hết NKT phải phụ thuộc vào gia đình, xã
hội, bản thân họ gặp phải những trở ngại khi muốn tham gia kinh tế giúp đỡ gia
đình. Có những khiếm khuyết trên cơ thể khiến họ phải phụ thuộc một phần hay
toàn bộ vào các thành viên trong gia đình, đôi khi vì sức khỏe yếu nên phải có
nhiều đợt phục hồi chức năng, sức khỏe, gia đình vì chăm sóc cho họ cũng hạn
chế thời gian để tham gia lao động. Có thể thấy, hầu hết các gia đình có NKT có
kinh tế khá eo hẹp, đôi khi dưới mức chi tiêu cho nhu cầu tối thiểu trong cuộc
sống.
BTXH có ý nghĩa thiết thực với đời sống của NKT và gia đình họ thông qua
khoản trợ cấp xã hội. Nếu không có sự giúp đỡ, hỗ trợ thì không thể duy trì
được mức sống tối thiểu và có nguy cơ không trụ được trong cuộc sống. Với
tình thế đó, BTXH như “lưới đỡ” kinh tế cuối cùng về miếng cơm manh áo cho
sự tồn tại, giúp họ vượt qua khó khăn, túng quẫn của cuộc sống thường nhật.
Không dừng lại ở đó, từ việc góp phần bảo đảm cuộc sống cho NKT, các khoản
trợ cấp của BTXH còn tạo cơ hội thuận lợi cho họ vươn lên đảm bảo và nâng
cao đời sống.
Dưới góc độ chính trị xã hội
BTXH đối với NKT không chỉ thể hiện thái độ của Nhà nước đối với bộ phận
dân chúng mà còn là biện pháp hỗ trợ tích cực của xã hội đối với mỗi thành viên
của mình khi gặp rủi ro, hạn chế về sức khỏe. Trên phương diện xã hội, BTXH
cho NKT còn làm giảm thiểu những bất ổn xã hội, góp phần ổn định xã hội, ổn

Xuất phát từ việc đảm bảo quyền con người được quy định trong pháp luật
quốc tế, các quốc gia đều nhận thức rõ vấn đề này và ghi nhận quyền hưởng
8


BTXH cho công dân trong văn bản pháp luật quốc gia. Đối với NKT, quyền
hưởng BTXH được ghi nhận tại điều 59 Hiến pháp 2013, trong đó có ghi “Nhà
nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển
hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết
tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác”. Tinh thần này đã được
cụ thể hóa trong các văn bản luật, dưới luật mà văn bản luật nổi bật là Luật
Người khuyết tật, bộ luật dành riêng cho NKT, giúp xã hội có cách nhìn mới về
một bộ phận đang chiếm một tỉ lệ không không nhỏ hiện nay.
Nguyên tắc này cũng là nội dung nguyên tắc cơ bản của An sinh xã hội thể
hiện ở việc quy định phạm vi và đối tượng áp dụng. Theo đó, mọi thành viên xã
hội bị khuyết tật đều có quyền được hưởng BTXH mà không có sự phân biệt về
địa vị kinh tế, tôn giáo, giới tính, thành phần xã hội… Tuy nhiên, có nhiều yếu
tố ảnh hưởng đến việc đảm bảo thực hiện quyền này như điều kiện kinh tế xã
hội của mỗi quốc gia hay giai đoạn mà quốc gia ấy phát triển. Tùy vào từng đối
tượng, mức độ hay hoàn cảnh mà mức BTXH sẽ khác nhau. Vì vậy, pháp luật
quy định cụ thể về điều kiện hưởng, mức lương các khoản trợ cấp, hỗ trợ cho
NKT đảm bảo công bằng và phù hợp với từng giai đoạn phát triển nhất định.
Điều này hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Công ước quốc tế về quyền người
khuyết tật mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Trong đó, khoản 1, 2 Điều 28 có
quy định về nguyên tắc thực hiện quyền hưởng bảo trợ xã hội đối với NKT
không có sự phân biệt theo tiêu chí nào được thể hiện có nội dung:
“1.Các quốc gia thành viên của Công ước này thừa nhận quyền của người
khuyết tật được hưởng mức sống thích đáng cho bản thân và gia đình, bao gồm
đủ ăn, có nhà ở, và được cải thiện điều kiện sống thường xuyên; và cam kết
thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo hộ và thúc đẩy việc thực hiện quyền

và ngược lại. Tiêu chí quan trọng để xác định mức hưởng trợ cấp cho NKT
chính là mức độ rủi ro khuyết tật khác nhau như nặng, đặc biệt nặng, khuyết tật
trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ khuyết tật mang thai…hay thậm chí cò cùng mức
10


độ khuyết tật nhưng hoàn chảnh sống có sự khác nhau nhất định như có người
chăm sóc, kinh tế gia đình khác giả hay không còn là những cứ quan trọng để
xác định mức trợ cáp, hỗ trợ cho phù hợp. Điều này phù hợp với ý nghĩa, mục
đích của trợ cấp và đảm bảo công bằng cho người thụ hưởng.
Điều này được thể hiện thông qua Điều 44 Luật Người khuyết tật 2010 quy định
về trợ cấp bảo trợ xã hội như sau:
“1.Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm:
a) Người khuyết tật đặc biệt nặng, trừ trường hợp quy định tại Điều 45 của
Luật này;
b) Người khuyết tật nặng.
2. Đối tượng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng bao gồm:
a) Gia đình có người khuyết tật đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm
sóc người đó;
b) Người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng;
c) Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này đang mang thai hoặc nuôi
con dưới 36 tháng tuổi.
3. Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này là trẻ em, người cao tuổi
được hưởng mức trợ cấp cao hơn đối tượng khác cùng mức độ khuyết tật.
4. Mức trợ cấp xã hội hàng tháng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng
đối với từng loại đối tượng theo quy định tại Điều này do Chính phủ quy định.”
Như vậy, theo quy định của pháp luật, điều kiện để hưởng mức trợ cấp xã hội
của NKT không hề phụ thuộc vào sự đóng góp, thu nhập hoặc mức sống của họ
mà phụ thuộc vào mức độ khuyết tật (nặng, nhẹ) và nhu cầu thực tế của họ. Các
khoản trợ cấp BTXH cho NKT không gắn với bất cứ yêu cầu gì về nghĩa vụ tài


12


nội lực và kìm hãm sức phát triển của các cơ chế bảo vệ khác. Ngược lại, nếu
mức trợ cấp, hỗ trợ cho NKT quá thấp sẽ không đảm bảo được ý nghĩa và mục
đích của BTXH bởi xét cho cùng, đây là “lưới đỡ” kinh tế cận kề nhất với cuộc
sống của NKT và cũng thể hiện rõ nét nhất thái độ của Nhà nước với nhóm
người “yếu thê” trong xã hội. Mặc dù vậy, về cơ bản, việc cân đối giữa nhu cầu
của NKT và khả năng đáp ứng của điều kiện kinh tế cũng phải hướng tới yêu
cầu đảm bảo nhu cầu tối thiểu cần thiết nhằm duy trì cuộc sống cho NKT trước
những khó khăn cuộc sống.
Việc xác định điều kiện hưởng trong các khoản trợ cấp được quy định tại Luật
khuyết tật 2010 như: đối tượng được hưởng trợ cấp hàng tháng; đối tượng được
hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng; mức trợ cấp xã hội hàng tháng; điều kiện
NKT được nuôi dưỡng trong cơ sở BTXH… cũng chính là việc thể hiện nguyên
tắc thực hiện BTXH phải cân đối giữa nhu cầu của NKT để phù hợp với khả
năng đáp ứng của điều kiện kinh tế xã hội. Việc đáp ứng nhu cầu bảo trợ của
NKT phải được tính toán cân đối với khả năng đáp ứng và điều kiện kinh tế xã
hội của quốc gia trong từng giai đoạn, nếu không sẽ không đạt được mục đích
của BTXH và ảnh hưởng đến các chính sách kinh tế khác. Nếu trợ cấp quá cao
so với khả năng đáp ứng thì thiếu tính khả thi, khó đảm bảo duy trì thực hiện và
nếu thực hiện được, có thể sẽ tạo tâm lí ỷ lại, trông chờ vào nguồn tài chính trợ
giúp, làm cản trở ý thức vươn lên, phát huy nội lực và kìm hãm sức phát triển
của các cơ chế bảo vệ khác. Ngược lại, nếu mức trợ cấp, hỗ trợ cho NKT quá
thấp sẽ không đảm bảo được ý nghĩa và mục đích của BTXH.
4) Đa dạng hóa, xã hội hóa hoạt động bảo trợ xã hội với người khuyết tật,
phát huy khả năng vươn lên hòa nhập cộng đồng.
Nguyên nhân rủi ro dẫn đến tình trạng khuyết tật của con người là đa dạng, vì
vậy, việc thực hiện BTXH đối với họ cũng cần phải xem xét đến mức độ, hình

“Điều 47. Cơ sở chăm sóc người khuyết tật

14


1. Cơ sở chăm sóc người khuyết tật là cơ sở nuôi dưỡng, cung cấp dịch vụ tư
vấn, trợ giúp người khuyết tật.
2. Cơ sở chăm sóc người khuyết tật bao gồm:
a) Cơ sở bảo trợ xã hội;
b) Cơ sở dịch vụ hỗ trợ người khuyết tật;
c) Trung tâm hỗ trợ người khuyết tật sống độc lập;
d) Cơ sở chăm sóc người khuyết tật khác.
3. Chính phủ quy định điều kiện thành lập, hoạt động, giải thể cơ sở chăm sóc
người khuyết tật.
4. Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động cho cơ sở
chăm sóc người khuyết tật công lập.
Điều 48. Trách nhiệm của cơ sở chăm sóc người khuyết tật
1. Tuân thủ điều kiện hoạt động của cơ sở chăm sóc người khuyết tật; thực hiện
đầy đủ các quy chuẩn về nuôi dưỡng, cung cấp dịch vụ tư vấn, trợ giúp người
khuyết tật tương ứng với từng loại cơ sở.
2. Thực hiện cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất chưa đảm bảo điều kiện tiếp cận
đối với người khuyết tật.”
Pháp luật cho phép và khuyến khích thiết lập các cơ sở BTXH ngoài công lập
với những điều kiện nhất định nhằm giảm bớt gánh nặng cho những cơ sở công
lập được đảm bảo hoạt động từ kinh phí Nhà nước. Bởi lẽ, số NKT gặp hoàn
cảnh khó khăn trong xã hội còn quá nhiều, các cơ sở công lập hầu hết đều bị
quá tải nên việc chăm sóc, giúp đỡ NKT gặp khá nhiều khó khăn. Các cơ sở
công lập khó có thể đảm bảo hết cho NKT được hưởng đầy đủ các quyền lợi mà
NKT cần có. Vì thế, xây dựng các cơ sở ngoài công lập sẽ giúp cho nhiều NKT
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status