Phân tích những điểm bất cập trong quy định của pháp luật về hoạt động khuyến mại và đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định đó - Pdf 34

Mục lục bài viết

Trang

A. LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………

2

B. NỘI DUNG……………………………………………………
I. Khái quát chung về khuyến mại……………………….......
1. Khái niệm khuyên mại……………………………………
2. Đặc điểm của khuyến mại………………………………..
3. Vai trò của khuyến mại…………………………………...
II. Những quy định pháp luật hiền hành về khuyến mại………
1. Khái niệm…………………………………………………
2. Nội dung cơ bản của pháp luật hiện hành………………...
2.1. Chủ thể thực hiện khuyến mại……………………
2.2. Quyền và nghĩa vụ của thương nhân thực hiện hoạt

3
3
3
3
3
4
4
4
4
5

động khuyến mại……………………………………..

trọng trong việc giúp các thương nhân tìm kiếm cơ hội , định hướng tiêu dùng cho
khách hàng. Với sự ra đời của Luật thương mại năm 2005, luật cạnh tranh năm
2004….đã đưa hoạt động khuyến mại vào diện điều chỉnh bằng cách thiết lập hành
lang pháp lý cho hoạt động khuyến mại, xây dựng các hoạt động cần thiết cho các
doanh nghiệp khi thực hiện các hành vi này, đồng thời thiết lập môi trường cạnh tranh
lành mạnh bảo vệ lợi ích của khuyến mại. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam ngày
càng phát triển sôi động, chính vì thế mà những quy định về khuyến mại sớm bộc lộ
những hạn chế cần khắc phục. Để hiểu thêm về vấn đề này em xin đi sâu nghiên cứu
vấn đề : “ Phân tích những điểm bất cập trong quy định của pháp luật về hoạt
động khuyến mại và đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định đó” .

A. NỘI DUNG
I.

Khái quát chung về khuyến mại.
1. Khái niệm khuyến mại.
Khuyến mại là hình thức xúc tiến thương mại khá phổ biến trong nền kinh tế
nước ta trong thời gian trở lại đây. Khuyến mại phát triển cùng với sự phát triển của
2


nền kinh tế thị trường với quan hệ sở hữu hàng hoá, dịch vụ ngày càng đa dạng,
phong phú. Theo quy định tại khoản 1 điều 88 LTM khuyến mại được hiểu là: “ Là
hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định ”.
2. Đặc điểm của khuyến mại.
● Chủ thể thực hiện hành vi khuyến mại là thương nhân. Thương nhân được
phép tự mình tổ chức thực hiện việc khuyến mại hoặc có thể lựa chọn dịch vụ
khuyến mại cho thương nhân khác để kinh doanh. Quan hệ này phát sinh trên cơ sở
hợp đồng dịch vụ khuyến mại giữa thương nhân có nhu cầu khuyến mại và thương

Nghĩa hẹp: là bộ phận của pháp luật thương mại bao gồm các quy phạm pháp
luật điều chỉnh quan hệ mang tính tài sản hình thành trong quá trình thương nhân tìm
kiếm, thúc đẩy mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thông qua việc dành cho khách
hàng những lợi ích nhất định.
2. Nội dung cơ bản của pháp luật về khuyến mại.
2.1. Chủ thể thực hiện khuyến mại.
Được quy định tại khoản 2 điểu 88 và điều 91 LTM năm 2005, theo đó thương
nhân thực hiện khuyến mại là thương nhân trực tiếp khuyến mại hàng hóa, dịch vụ
mà mình kinh doanh hoặc thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện
khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác theo thỏa thuận với thương
nhân đó.
Thương nhân được quyền khuyến mại hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch
vụ khuyến mại thực hiện việc khuyến mại cho mình là thương nhân Việt Nam, chi
nhánh của thương nhân Việt Nam, chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt
Nam. Văn phòng đại diện không có quyền khuyến mại.
2.2. Quyền và nghĩa vụ của thương nhân thực hiện hoạt động khuyến mại.
2.2.1. Quyền của thương nhân thực hiện hoạt động khuyến mại.
Quyền tự do kinh doanh cho phép thương nhân được áp dụng các kỹ thuật thuyết
phục khác nhằm để tăng cường cơ hội bán hàng và cung ứng dịch vụ. Khi tổ chức
hoạt động khuyến mại, thương nhân có các quyền quy định tại điều 95 LTM năm
4


2005. Cụ thể như sau:
● Lựa chọn hình thức, thời gian, địa điểm khuyến mại hàng hóa, dịch vụ để KM.
● Quy định những lợi ích cụ thể mà khách hàng được hưởng.
● Thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện việc KM cho mình.
● Tự mình tổ chức thực hiện các hình thức khuyến mại theo quy định của pháp luật.
2.2.2. Nghĩa vụ của thương nhân thực hiện hoạt động khuyến mại.
Thương nhân tổ chức hoạt động khuyến mại có các nghĩa vụ được quy định tại

khuyến mại với giá thấp hơn giá, giá cung ứng dịch vụ bình thường trước đó được áp
dụng trong thời gian khuyến mại mà thương nhân đã đăng ký hoặc thông báo. Khi
khuyến mại bằng hình thức này thương nhân phải niêm yết thời gian khuyến mại, giá
hàng hoá, dịch vụ bình thường trước khi khuyến mại và giá hàng hoá dịch vụ đã được
giảm giá trong thời gian khuyến mại. Giá khuyến mại tại thời điểm khuyến mại
không được thấp hơn 50% giá của hàng hoá, dịch vụ trước thời gian khuyến mại.
Đối với hàng hoá dịch vụ thuộc diện nhà nước quy định giá cụ thể thì không
được giảm giá. Trong trường hợp hàng hoá, dịch vụ được nhà nước quy định mức giá
tối thiểu hoặc quy định khung giá hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ không được thấp
hơn mức giá tối thiểu. Đối với hình thức này khi thực hiện chương trình thương nhân
cũng cần lưu ý về tổng thời gian thực hiện chương trình không quá 90 ngày trong 1
năm, 1 chương trình khuyến mại không quá 45 ngày. Đặc biệt pháp luật hiện hành
nghiêm cấm các hành vi lợi dụng hình thức khuyến mại để bán phá giá hàng hoá, dịch
vụ nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
● Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng để chọn

người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố: Thương nhân tổ chức các
cuộc thi tìm hiểu về hàng hoá, dịch vị mà mình đã, đang và sẽ cung cấp nhằm nâng
cao hiểu biết của người tiêu dùng về sản phẩm đồng thời giúp các cơ sở sản xuất phân
bố, đánh giá đúng nhu cầu, mức độ quan tâm của khách hàng đối với hành hoá, dịch
vụ của mình từ đó đưa ra các chiến lược kinh doanh cho phù hợp. Với điều kiện này
phiều dự thi có thể mang lại những giải thưởng hoặc mang lại những lợi ích cho

6


khách hàng. Do đó, sẽ tác động đến tâm lý hiếu kỳ của người tiêu dùng kích thích họ
mua hàng hoá, dịch vụ cho thương nhân cung cấp.
● Hình thức bán hàng cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử
dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng hay không được hưởng một số lợi ích nhất

vượt quá 50% giá của đơn vị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại đó trước thời gian
khuyến mại ( trừ trường hợp hàng mẫu miễn phí; quà tặng; cung ứng dịch vụ có kèm
theo phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải
thưởng đã công bố; tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên; bán hàng,
cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự chương trình khuyến mại mang tính
may rủi)
Hạn mức tính theo tổng giá trị hành hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại: Tổng
giá trị của hàng hoá, dịch vụ mà thương nhân thực hiện trong một chương trình
khuyến mại không lớn hơn 50% tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ khuyến mại trừ trường
hợp khuyến mẫu bằng đưa hành mẫu, cung ứng dịch vụ hành mẫu dùng thử không
phải trả tiền.
Hạn mức thời gian khuyến mại: Tổng thời gian thực hiện chương trình khuyến
mại đối với một nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ không được quá 90 ngày trong năm, một
chương trình khuyến mại không được quá 45 ngày. Quy định này áp dụng đối với các
hình thức khuyến mại: bán hàng, cung ứng dịch vụ giá giảm hơn so với giá bán hàng
cung ứng dịch vụ trước đó.
Tổng thời gian thực hiện khuyến mại đối với một nhãn hiệu hàng hoá dịch vụ
không được qua 180 ngày trong 1năm và 1 chương trình khuyến mại không quá 90
ngày. Hạn mức này áp dụng đối với các hình thức bán hàng: cung ứng dịch vụ kèm
theo việc tham dự các chương trình mang tính chất may rủi.
2.4.2. Các quy định cấm đoán trong hoạt động khuyến mại.
Để đảm bảo có môi trường cạnh tranh lành mạnh, trong đó có lợi ích hợp pháp
của thương nhân khác, của người tiêu dung cũng như bảo vệ lợi ích của con người.
LTM đã quy định các hành vi cấm đoán trong hoạt động thương mại, điều 100: các
hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại:

8


+ Khuyến mại cho hàng hoá,dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa,dịch vụ hạn chế

điều chỉnh có hiệu quả hoạt động này. Tuy nhiên vẫn còn một số quy định bất cập,
vướng mắc cần khắc phục. Cụ thể là:
Thứ nhất, về hình thức khuyến mại.
Luật Thương mại 2005 và các văn bản hướng dẫn tuy đã quy định thế nào là
hàng mẫu, quà tặng. Tuy nhiêu nếu quy định như vậy thì không rõ ràng và người tiêu
dùng dễ bị nhầm lẫn, hiểu lầm khi thương nhân dùng hành hoá dịch vụ của mình
được kinh doanh hợp pháp để phát tặng khuyến mại mà không kèm theo hành vi mua
bán thì khi nào là hành mẫu khi nào là quà tặng. Tháng 6/2006 tại Trung tâm thương
mại Big C ( Hà Nội), Công ty TNHH nước giải khát Coca Cola tổ chức phát quà
uống Coca Cola với số lượng lớn tại chỗ cho mọi đối tượng khách hàng. Đó là hình
thức tặng quà hay hàng mẫu ? Nếu là hàng mẫu thì thương nhân không phải thực hiện
bất kỳ quy định nào về hạn mức khuyến mại, nếu là quà tặng thì thực hiện các quy
định về hạn mức tối giá trị hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại (tổng giá trị hàng
hoá dùng để khuyến mại trong 1 chương trình khuyến mại không được vượt quá 50%
tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ được khuyến mại).
Xem xét mục đích của thương nhân khi đưa hàng mẫu cho khách hàng là giới
thiệu với họ về hàng hoá, dịch vụ mình mà định hướng cho hành vi mua bán của họ
sau khi kiểm nghiệm chất lượng hàng mẫu. Còn mục đích của hình thức tặng quà là
dụng giá trị quà để thu hút khách hàng mua hàng hoá, dịch vụ của thương nhân.
Chính vì vậy pháp luật chỉ nên quy định việc tặng quà kèm theo việc mua bán hàng
hoá sử dụng dịch vụ còn lại các trường hợp đưa hàng hoá cho khách hàng không thu
tiền được coi là hình thức hàng mẫu. Mặt khác việc xác định rõ bản chất ở đây của
hình thức quà tặng cho phép phân biệt với các hình thức xúc tiến thương mại khác
như quảng cáo thương mại.
Thứ hai, quy định về hạn mức thời gian giảm giá.
Theo quy định tại khoản 4 điều 9 nghị định của chính phủ số 37/2006/NĐ-CP
ngày 04 tháng 4 năm 2006 quy định chi tiết luật thương mại về hoạt động xúc tiến
thương mại: Thời gian thực hiện giảm giá đối với 1 loại nhãn hiệu hành hoá, dịch vụ
10




doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng khuyến mại cho nhãn hiệu này sẽ mất khuyến mại
cho nhãn hiệu khác đang trong giai đoạn sản xuất. Và như hiện nay có thể một số
doanh nghiệp lách luật bằng nhiều cách, cuối cùng nhằm bán phá giá hành hoá.
Ngoài ra quy định thời gian tối đa để doanh nghiệp trao thưởng là 30 ngày đối
với chương trình khuyến mại có trao giải thưởng cũng chưa hợp lý. Và thực tế
chương trình khuyến mại của doanh nghiệp cũng khác nhau, doanh nghiệp cũng phải
trải qua một loạt quá trình như phân loại hành khuyến mại, kiểm tra chất lượng hàng
hóa.
Thứ ba, về hạn mức giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại
Mặc dù Luật thương mại và các văn bản hướng dẫn có quy định tổng giá trị
của hàng hoá, dịch vụ mà thương nhân thực hiện trong một chương trình khuyến mại
không lớn hơn 50% tổng giá trị hành hoá, dịch vụ khuyến mại trừ trường hợp khuyến
mẫu bằng đưa hành mẫu, cung ứng dịch vụ hành mẫu dung thử không phải trả tiền.
Tuy nhiên, hiện nay, không ít các doanh nghiệp không tuân thủ quy định này, đơn cử
như thời gian gần đây thị trường bổng trở nên sôi động bởi làn sóng beeline, với kích
thước nhỏ nhắn chỉ bằng 2/3 lòng bàn tay, dày khoảng 1cm, có 3 màu đen, trắng,
hồng và một mức giá "mềm” 149.000 đồng/sản phẩm, chiếc điện thoại giá rẻ này của
Beeline rất dễ dàng chinh phục người tiêu dùng. Thêm nữa, khách hàng chỉ cần bỏ
thêm 40.000 đồng để mua sim và chuyển đổi sang gói cước tỷ phú là sẽ có ngay 1 tỷ
đồng gọi nội mạng trong thời hạn 10 năm. Mỗi tháng, người dùng chỉ phải nạp thêm
20.000 đồng để duy trì dịch vụ. Chiêu khuyến mại này của Beeline, rõ ràng, đã mang
lại hiệu quả ngoài cả mong đợi của nhà mạng. Tuy nhiên, rõ ràng là doanh nghiệp này
đã vi phạm quy định về hạn mức giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại. Cục
Viễn thông – Bộ Thông tin và Truyền thông đã "tuýt còi” Beeline về gói cước tỷ phú
nhưng doanh nghiệp này vẫn “ ngang nhiên” tiếp tục vi phạm. Thiết nghĩ cũng là vì
pháp luật chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể về hạn mức cũng như chế tài xử lý các
doanh nghiệp vi phạm.



13


Thứ năm, biện pháp xử lý khi thương nhân vi phạm các quy định khi tiến
hành các hoạt động khuyến mại.
Theo quy định của LTM 2005 chủ thể của hoạt động khuyến mại là thương
nhân có hành hoá khuyến mại. Tuy nhiên các biện pháp xử lý hành chính và xử lý
hình sự đối với thương nhân khi tiến hành hoạt động khuyến mại còn một số bất cập:
+ Thiếu cơ sở pháp lý để xử lý hành chính đối với thương nhân thực hiện dịch
vu khuyến mại cho thương nhân khác để hưởng thù lao: LTM không có quy định
riêng về quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại. Do đó,
việc xác định trách nhiệm của kinh doanh dịch vụ chỉ có thể dựa trên hợp đồng dịch
vụ khuyến mại. Hợp đồng này thường chỉ đề cập đến trách nhiệm của thương nhân
kinh doanh dịch vụ với bên thuê dịch vụ mà khó ràng buộc trách nhiệm của họ đối
với người tiêu dùng và nhà nước. Thêm vào đó, mức xử phạt hành chính là phạt tiền
khi thương nhân tiến hành hoạt động khuyến mại còn rất thấp so với giá trị đợt
khuyến mại mà thương nhân tổ chức.
+ Thiếu quy định để xử lý hình sự với thương nhân khi họ vi phạm pháp luật
hoạt động khuyến mại và các hoạt động xúc tiến thương mại khác. BLHS hiện hành
quy đinh chủ thể chịu trách nhiệm hình sự là cá nhân, trong khi đó có thể xuất hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội do cá nhân thực hiện với danh nghĩa của pháp nhân ,
theo yêu cầu và vì lợi ích của pháp nhân.
Thứ sáu, pháp luật về cạnh tranh trong hoạt động khuyến mại còn nhiều
điểm bất cập cần phải hoàn thiện. Cụ thể là:
+ Quy định về các hình thức khuyến mại bị cấm: Khoản 5 điều 46 luật cạnh
tranh năm 2004 có quy định các hoạt động khuyến mại khác mà pháp luật có quy
định cấm cũng là 1 hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại.
Đây là một quy định bất hợp lý bởi lẽ trong số các hoạt động khuyến mại bị cấm mà
thương nhân tiến hành không nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh. Chẳng

là nên dùng từ “ khuyến mại” theo cách dùng phổ biến hiện nay hay là dùng “ khuyến
mãi” theo đúng nghĩa của nó. Bởi theo tinh thần của hình thức khuyến mại của luật
thương mại có đề cập là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc
15


tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những
lợi ích nhất định. Trong khi đó, nghĩa của từ “mại” là bán còn nghĩa của từ “mãi” là
mua. Cho nên để đảm bảo tính hợp lý thì nên sửa.
III. HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KHUYẾN MẠI.
Để đảm bảo các hoạt đống xúc tiến thương mại nói chúng và hoạt động
khuyến mại nói riêng phát huy được vai trò thực sự trong kích cầu tiêu dùng thì cần
phải hoàn thiện các quy định về khuyến mại nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của các
doanh nghiệp, người tiêu dùng. Cụ thể là
Thứ nhất, Quy định hạn mức tối đa giá trị hàng hoá, dịch vị dùng đê khuyến
mại
Nếu có quy định về hạn mức thì cần có quy định cụ thể hơn về hạn mức tối đa
giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại. Để quy định này được linh hoạt hơn,
pháp luật cần bổ sung đối với chương trình khuyến mại có quy mô lớn từ hai tỉnh
thành phố trực thuộc trung ương trở lên thì thời gian doanh nghiệp trao giải thưởng
30 ngày hoặc không hơn 60 ngày và phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền chấp nhận. Nhưng thiết nghĩ chúng ta nên bỏ quy định về hạn mức khuyến
mại, vì đây là quyền tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh của thương nhân. Thương
nhân khi áp dụng các chương trình khuyến mại giảm giá hay tặng quà, nếu thực sự họ
thu hút được khách hàng, bản thân họ dù có khuyến mại nhiều hơn hạn mức vẫn tồn
tại được. Pháp luật không cần thiết phải “lo hộ” cho thương nhân.
Thứ hai, Vấn đề phải trích tiền thưởng nộp cho ngân sách nhà nước sau khi
trúng thưởng
Doanh nghiệp trích 50% giá trị giải thưởng công bố vào ngân sách nhà nước
trong trường hợp có người trúng thưởng. Quy định này chưa thật sự đảm bảo quyền

Cần làm rõ nội dung các hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lanh
mạnh, quy định lại các hình thức khuyến mại bị cấm khi được quy định trong các văn
bản pháp luật khác như có thế quy định các hoạt động khuyến mại khác nhằm cạnh
17


tranh không lành mạnh mà pháp luật có quy định cấm trong các văn bản pháp luật
khác cũng là một dạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bên cạnh đó cũng cần
quy định lại hoạt động khuyến mại bị coi là cạnh tranh không lành mạnh.
Thứ năm, Trách nhiệm của thương nhân tiến hành hoạt động khuyến mại
Vấn đề nâng cao trách nhiệm trung thực về giải thưởng và chọn người trúng
thưởng trong các chương trình khuyến mại mang tính chất may rủi cần quy định cụ
thể hơn nữa trong các văn bản kể cả trách nhiệm hình sự và hành chính.
Về quy định cấm chương trình khuyến mại bắt khuyến mại phải trả tiền hoặc
thực hiện nghĩa vụ tài chính khi tham gia. Thực tiễn quy định nay không áp dụng
trong một số trường hợp: chẳng hạn chương trình cho phép dùng thử sản phẩm là
máy điện thoại, để dùng khuyến mại phải có sim. Nếu như vậy đối tượng chương
trình không hợp lệ.
Thứ sáu, hoàn thiện các quy định bảo vệ người tiêu dùng
Các thông tin khuyến mại phải được thương nhân đưa ra ở các mức đầy đủ, cần
thiết. Các thông tin này có ý nghĩa nhằm bảo vệ người tiêu dùng. Các thông tin
khuyến mại này phải đảm bảo rằng các khuyến mại được thực hiện theo đúng như
ngày cấp giấy phép khuyến mại hay các quy định chung của pháp luật. Thương nhân
tiến hành các hoạt động khuyến mại phải có nghiã vụ đưa ra các thông tin khuyến mại
rõ ràng cụ thể.
Các thông tin khuyến mại phải trong sáng rõ ràng đối với đa số người tiêu
dùng. Thông tin khuyến mại phải được thương nhân căn cứ vô điều kiện vào người
tiêu dùng ngay khi có yếu cầu về hàng hóa, dịch vụ đang được khuyến mại. Các
thông tin này phải đảm bảo căn cứ đầy đủ, rõ ràng các điều kiện khoa học phải có để
tham gia vào chương trình khuyến mại.

2. Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thương Mại, Nhà xuất bản Công an
nhân dân.
3. Nghị định của chính phủ số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 quy định chi tiết
luật thương mại về xúc tiến thương mại.
4. Th.s Trần Khánh Ly, 236 câu hỏi và giải đáp về pháp luật thương mại và các
văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb Lao động- xã hội
5. Luật cạnh tranh năm 2004.
6. Http:// www. Thongtinphapluatdansu.com
7. Http://www.Luatvietnam.com.vn

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status