A: ĐẶT VẤN ĐỀ:
Quy trình xây dựng và ban hành văn bản pháp luật được thực hiện theo Luật
ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 đã trực tiếp góp phần xác lập trật tự,
kỷ cương trong hoạt động lập pháp, lập quy, đưa công tác xây dựng pháp luật của Nhà
nước ta ngày càng đi vào nền nếp; đặc biệt là đã tạo ra bước ngoặt trong hoạt động
xây dựng và ban hành luật của Quốc hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, chương trình soạn thảo, thẩm tra
đến việc thảo luận, thông qua các dự án luật, pháp lệnh vẫn còn có những hạn chế nhất
định và cần phải được nghiên cứu, khắc phục. Bài viết dưới đây xin đi sâu nghiên cứu
vấn đề: “ những vướng mắc, bất cập trong quy định hiện hành về thể thức và kĩ thuật
trình bày văn bản pháp luật và hướng khắc phục”.
B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I, NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Khái niệm văn bản pháp luật
Văn bản pháp luật là văn bản chứa đựng ý chí nhà nước, được ban hành bởi các
chủ thể có thẩm quyền theo hình thức, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
Theo thông tư Số: 25/2011/TT-BTP về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản quy
phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan
ngang Bộ và văn bản quy phạm pháp luật liên tịch thì: “Thể thức văn bản quy định tại
Thông tư này là cách thức thể hiện của văn bản bao gồm phần mở đầu, phần nội dung
và phần kết thúc. Kỹ thuật trình bày văn bản quy định tại Thông tư này bao gồm kỹ
thuật trình bày nội dung văn bản và kỹ thuật trình bày hình thức văn bản. Kỹ thuật
trình bày nội dung văn bản gồm kỹ thuật trình bày bố cục chung của văn bản; kỹ
thuật trình bày bố cục phần, chương, mục, điều, khoản, điểm; cách đặt câu, cách sử
dụng ngôn ngữ trong văn bản.Kỹ thuật trình bày hình thức văn bản bao gồm khổ giấy,
kiểu trình bày, định lề trang văn bản, vị trí trình bày các thành phần thể thức, phông
chữ, cỡ chữ, kiểu chữ và các chi tiết trình bày khác được thực hiện theo hướng dẫn tại
Chương V và Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này”.
2. Đặc điểm văn bản pháp luật
• Văn bản pháp luật được ban hành bởi chủ thể do pháp luật quy định. Đó là các
cơ quan nhà nước( cơ quan quyền lực nhà nước như Quốc hội, HĐND,
(xen giữa số và ký hiệu của văn bản) là chưa phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 7
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND. Ví dụ 2: Ủy ban
nhân dân tỉnh M ban hành quyết định có số và ký hiệu như sau:
“Quyết định số 2769/QĐ-UBND ngày 20/8/2008 về việc điều chỉnh định mức
bêtông hóa đường giao thông nông thôn theo chuẩn đường và thiết kế dự toán mẫu tại
Quyết định số 29/2006/QĐ-UBND ngày 07/7/2006 của UBND tỉnh”.
Với các nội dung thể hiện tại Quyết định 2769 thì đây là một văn bản quy phạm
pháp luật. Tuy nhiên, phần ký hiệu của Quyết định số 2769 thiếu năm ban hành văn
bản (xen giữa số và ký hiệu của văn bản) là chưa phù hợp với quy định tại Khoản 1
Điều 7 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND.
Mặc dù các lỗi sai về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản không ảnh hưởng lớn
tới nội dung quản lý nhà nước mà văn bản điều chỉnh. Tuy nhiên, việc ban hành sai
thể thức, kỹ thuật trình bày cũng thể hiện năng lực nghiệp vụ của cán bộ chuyên viên
làm công tác soạn thảo, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, tình trạng
này cũng sẽ dẫn tới sự tuỳ tiện trong quá trình xây dựng, soạn thảo, sự thiếu thống
nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật, ảnh hướng tới hiệu quả quản lý.
Ví dụ 2: Ủy ban nhân dân tỉnh M ban hành quyết định có số và ký hiệu như sau:
“Quyết định số 2769/QĐ-UBND ngày 20/8/2008 về việc điều chỉnh định mức
bêtông hóa đường giao thông nông thôn theo chuẩn đường và thiết kế dự toán mẫu tại
Quyết định số 29/2006/QĐ-UBND ngày 07/7/2006 của UBND tỉnh”.
Với các nội dung thể hiện tại Quyết định 2769 thì đây là một văn bản quy phạm
pháp luật. Tuy nhiên, phần ký hiệu của Quyết định số 2769 thiếu năm ban hành văn
bản (xen giữa số và ký hiệu của văn bản) là chưa phù hợp với quy định tại Khoản 1
Điều 7 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND.
Về số thứ tự của văn bản: Quyết định số 2769 ban hành ngày 20/8/2008 có số
thứ tự là 2769, theo quy định tại Điều 7 của Luật Ban hành văn bản của Hội đồng
nhân dân, Uỷ ban nhân dân năm 2004 thì: " Việc đánh số thứ tự phải bắt đầu từ số 01
theo từng loại văn bản cùng với năm ban hành loại văn bản đó”. Theo đó, số thứ tự
của Quyết định này phải được đánh số riêng theo loại văn bản quy phạm pháp luật do
UBND ban hành. Đến 20/8/2008, thì UBND tỉnh M không thể ban hành hơn một
thừa kế quyền sử dụng đất đã viện dẫn đến Phần V của BLDS: "Việc thừa kế quyền sử
dụng đất được thực hiện theo các qui định của phần V Bộ luật này". Phần V này gồm
5 chương và 54 điều gồm các điều từ 590 đến 644. Sẽ chính xác và dễ áp dụng hơn
nếu điều 637 chỉ viện dẫn đến chương VI phần V của BLDS. Các chương còn lại của
phần V BLDS không liên quan đến việc thừa kế quyền sử dụng đất.
Việc viện dẫn trong một số văn bản không đảm bảo tính phù hợp của đối
tượng điều chỉnh của quy định viện dẫn và quy định được viện dẫn. Một quy phạm xử
phạt hành chính không thể viện dẫn đến một hình phạt quy định trong Bộ luật hình sự
như là một chế tài cho bản thân nó.
2. Dùng câu văn dài, mất trật tự logic
Câu văn dài có thể gây sự khó hiểu và dễ mất đi tính chính xác. Nhiều người
cho rằng pháp luật nước ta thường hay được diễn đạt dài dòng và khó hiểu. Điều nay
là thực tế và có cơ sở. Lý do chính là nhiều văn bản dùng câu quá dài. Quy định sau
đây có thể là một ví dụ minh hoạ:"Đối với hàng hoá, dịch vụ kinh doanh có điều kiện,
các tổ chức hoặc cá nhân không được phép kinh doanh mà kinh doanh, hoặc được
phép kinh doanh mà trong quá trình kinh doanh không thường xuyên đảm bảo các
điều kiện qui định cho loại hàng hoá, dịch vụ đó, đều coi là hành vi kinh doanh trái
phép, tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm
hình sự theo qui định của pháp luật hiện hành" (Điều 15 Nghị định 36-CP ngày 5
tháng 1 năm 1995 của Chính phủ). Câu văn này dài và khó, có nhiều chỗ trùng lặp
nhau có thể tránh. Trước hết cần tránh cụm từ kinh doanh, hàng hoá, dịch vụ được lặp
lại nhiều lần và sau đó có thể rút ngắn đoạn văn này như sau:
"Việc kinh doanh những hàng hoá, dịch vụ có điều kiện khi không được phép
hoặc không đảm bảo các yêu cầu qui định đối với hàng hoá dịch vụ đó đều bị coi là
hành vi kinh doanh trái phép và có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm
hình sự tuỳ theo mức độ vi phạm".Quy định này từ chỗ diễn đạt bằng 90 từ được rút
ngắn còn 60 từ.Sử dụng các câu ngắn, tránh các câu dài lê thê cũng là một trong
phương pháp làm cho văn bản cần soạn thảo cô đọng, chính xác, các quy định ban
hành ra dễ được hiểu đúng bởi các đối tượng mà chúng hướng tới. Có trường hợp,
người soạn thảo khi dùng các câu dài thường vi phạm các qui tắc ngữ pháp một cách
nặng hình thức, qua loa, qua đó không phát hiện hết những sai sót trong sử dụng ngôn
ngữ và kĩ thuật xây dựng.
Việc kiểm tra, xử lý văn bản pháp luật chưa được thực hiện nghiêm chỉnh, còn
mang tính hình thức. Sự ra đời của nghị định số 40/2010/ NĐ-CP về kiểm tra, xử lý
văn bản quy phạm pháp luật thay thế cho nghị định số 135/2010 đã giải quyết được
những tồn tại trước đó. Song nghị định mới có hiệu lực thi hành nhưng chưa phát huy
hết tác dụng. Thực tế áp dụng, kiểm tra lỏng lẻo thiếu chặt chẽ, không có cơ chế xử lý
kịp thời.
IV: Một số giải pháp khắc phục
1. Hoàn thiện quy định của pháp luật về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản
pháp luật
Vấn đề về thể thức trình bày văn bản hiện nay tuy đã được hướng dẫn chi tiết
tại một số văn bản pháp luật nhưng nội dung của các văn bản điều chỉnh về vấn đề này
còn mâu thuẫn, thiếu thống nhất. Vì vậy, cần phải có sự thống nhất giữa các văn bản
pháp luật quy định về thể thức. cách thức trình bày mỗi văn bản có cấu trúc khác
nhau, không thống nhất, nên đối với mỗi văn bản có bố cục chặt chẽ,sắp xếp logic để
dễ dàng chuyển tải được mục đích của văn bản mà không tốn thời gian của người đọc.
Người đọc sẽ dễ tiếp thu, hiểu rõ ý nghĩa.
Pháp luật cần có hướng xử lý, quy định những chế tài đối với những văn bản
không đảm bảo yêu cầu về thể thức và kĩ thuật trình bày.
Việc xử lý và tăng cường chế tài nếu có vi phạm xảy ra là cần thiết, ý nghĩa
nhằm răn đe và giáo dục.
Chúng ta nên gắn trách nhiệm của chủ thể soạn thảo văn bản đối với văn bản
pháp luật được soạn thảo. có như vậy, chủ thể soạn thảo mới cẩn trọng, chú ý đến thể
thức và kĩ thuật trình bày văn bản.
2. Nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng văn bản pháp luật
Tổ chức đào tạo, thực hiện công tác tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về kĩ năng
soạn thảo văn bản. Người soạn thảo văn bản cần trang bị kiến thức cần thiết về kĩ
thuật soạn thảo văn bản để áp dụng vào thực tiễn có hiệu quả, tránh những sai lầm
không nên có.
ItemID=18369
6. CHỦ ĐỀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
CỦA HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP
LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ