LỜI MỞ ĐẦU
Một nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và hội nhập ngày càng sâu rộng như
Việt Nam là mảnh đất màu mỡ cho các hoạt động thương mại phong phú phát
triển. Trong các hoạt động xúc tiến thương mại được qui định trong pháp luật
Việt Nam, hoạt động khuyến mại có thể nói là hoạt động phổ biến nhất. Các qui
định của pháp luật ngày càng tạo hành lang rộng rãi cho các doanh nghiệp thực
hiện hoạt động này. Tuy nhiên, các qui định đó vẫn đang dần bộc lộ những hạn
chế, gây cản trở cho hoạt động của các doanh nghiệp và công tác quản lí của nhà
nước. Vậy đâu là những điểm bất cập trong quy định của pháp luật về hoạt động
khuyến mại và các giải pháp hoàn thiện các quy định đó là gì?
I. Khái quát về hoạt động khuyến mại:
Là một hoạt động xúc tiến thương mại, khuyến mại có mục đích là xúc tiến
việc bán hàng và cung ứng dịch vụ thông qua việc dành cho khách hàng những
lợi ích nhất định. Khuyến mại có ý nghĩa giới thiệu một sản phẩm mới hoặc đã
đuợc cải tiến, khuyến khích tiêu dùng, ‘lôi kéo” khách hàng về phía mình và
tăng thị phần doanh nghiệp trên thị trường. Để thực hiện mục đích này, các đợt
khuyến mại có thể hướng tới mục tiêu lôi kéo khách hàng, giới thiệu một số sản
phẩm mới, kích thích trung gian phân phối chú ý hơn nữa đến hàng hóa của
doanh nghiệp, tăng lượng đặt hàng đã mua,... thông qua đó tăng thị phần của
doanh nghiệp trên thị trường hàng hóa, dịch vụ.
Cách thức khuyến mại rất đa dạng. Tùy thuộc vào mục tiêu của đợt
khuyến mại, tùy thuộc vào trạng thái cạnh tranh, phản ứng của đối thủ cạnh
tranh trên thương trường, tùy thuộc điều kiện kinh phí dành cho khuyến mại, lợi
ích mà thương nhân dành cho khách hàng có thể là quà tặng, hàng mẫu để dùng
thử, mua hàng giảm giá,... hoặc lợi ích phi vật chất khác. Khách hàng được
khuyến mại có thể là người tiêu dùng hoặc các trung gian phân phối như các đại
lí bán hàng.
1
Hoạt động khuyến mại đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của
thương nhân nói riêng và trong đời sống kinh tế - xã hội chung. Để hỗ trợ các
doanh nghiệp đồng loạt thực hiện khuyến mại trong thời gian dài, phục vụ nhu
Luật
thương mại hiện hành khi định nghĩa
về
khuyến mại có bổ
sung hai điểm về mục đích của khuyến mại và cách thức khuyến mại
thông
qua
quan hệ dịch vụ. Cụ thể là, mục đích
của
khuyến mại không chỉ
nhằm xúc tiến việc
bán
hàng
mà còn nhằm xúc tiến việc mua hàng.
Mặc
dù
khuyến mại để bán hàng là hoạt động
phổ
biến
của thương nhân, do
thương nhân
tiến
hành
như một nhu cầu tất yếu để cạnh tranh
mở
rộng thị
phần nhưng đối với các doanh
gồm:
1. Dùng thử hàng mẫu miễn phí: Đưa hàng hoá mẫu, cung ứng dịch
vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền. . Hàng mẫu đưa cho
3
khách hàng, dịch vụ mẫu cung ứng cho khách hàng dùng thử phải là hàng
hoá, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp mà thương nhân đang hoặc sẽ bán,
cung ứng trên thị trường. Khi nhận hàng mẫu, dịch vụ mẫu, khách hàng
không phải thực hiện bất kỳ nghĩa vụ thanh toán nào.
2. Tặng quà: Tặng hàng hoá cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu
tiền.
3. Giảm giá: Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán
hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến
mại đã đăng ký hoặc thông báo. Trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc diện
Nhà nước quản lý giá thì việc khuyến mại theo hình thức này được thực
hiện theo quy định của Chính phủ. Mức giảm giá tối đa đối với hàng hoá,
dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá hàng hoá, dịch vụ
đó ngay trước thời gian khuyến mại.
4. Tặng phiếu mua hàng: Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo
phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng một hay
một số lợi ích nhất định.
5. Phiếu dự thi: Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi
cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã
công bố. Phiếu mua hàng thường có ý nghĩa giảm giá hoặc có mệnh giá
nhất định để thanh toán cho những lần mua sau trong hệ thống bán hàng
của thương nhân. Phiếu sử dụng dịch vụ có thể cho phép sử dụng dịch vụ
miễn phí, theo điều kiện do nhà cung ứng dịch vụ đưa ra.
6. Các chương trình may rủi: Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham
dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn
liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may
mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.
tại
5
II.Các giải pháp hoàn thiện qui định của pháp luật về hoạt động khuyến
mại:
I.1. Những hạn chế của qui định pháp luật về hoạt động khuyến mại
Từ thực tiễn hoạt động khuyến mại, việc áp dụng các quy định về hình
thức khuyến mại đã
nảy
sinh những bất cập, thể hiện tính hạn chế của
một
số
điều luật hiện hành. Nhìn chung các quy định trong Luật thương mại 2005 đã
được diễn đạt một cách rõ ràng, ngôn ngữ sử dụng chính xác, dễ hiểu; tạo điều
kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình áp dụng. Tuy nhiên bên cạnh đó
vẫn còn tồn tại nhiều quy định chưa đảm bảo tính minh bạch, khó hiểu, dễ nhầm
lẫn, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình áp dụng. Các quy định về
hạn mức tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ và thời gian được phép khuyến mại là
chưa phù hợp; chế tài xử phạt trong lĩnh vực khuyến mại còn chưa đủ sức răn
đe. Có thể kể ra một số vấn đề tiêu biểu sau đây:
Thứ nhất, chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa các hình thức khuyến mại
khi thương nhân dùng hàng
hoá,
dịch vụ mà mình được kinh doanh hợp pháp
để phát tặng khách hàng mà không kèm theo hành
vi
mua bán thì khi nào là
hàng mẫu, khi nào là
quà
tặng? Ví dụ, các công ti nước giải khát
thường tổ chức phát tặng, uống tại chỗ sản phẩm của mình cho mọi
bán của họ
sau
khi kiểm nghiệm chất lượng của hàng mẫu.
Khác
với điều
này, mục đích của hình thức tặng quà
là
dùng giá trị của quà tặng để thu hút
6