Phân tích những điểm bất cập trong quy định của pháp luật về hoạt động khuyến mại và đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định đó - Pdf 34

MỤC LỤC
MỤC LỤC........................................................................................................................................... 1
I.Một số vấn đề lý luận về khuyến mại và pháp luật về khuyến mại.....................................................1
1.3. Vai trò.........................................................................................................................................3
2.3.Các quy định về hoạt động khuyến mại bị cấm..............................................................................4

ĐẶT VẤN ĐỀ
Được biết đến như là một hình thức xúc tiến thương mại hết sức quan trọng,
góp phần đưa những thông tin của sản phẩm, dịch vụ đến với người tiêu dùng,
quảng bá thương hiệu, thu hút khách hàng…… Khuyến mại là một hình thức xúc
tiến thương mại rất phổ biến và được rất nhiều thương nhân sử dụng. Vì vậy, cần
có một hệ thống các quy định pháp luật vừa cụ thể, hợp lý nhưng cũng thông
thoáng, tích cực để quản lý hình thức này. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam về hoạt
động khuyến mãi vẫn còn bộc lộ một số điểu bất cập cần phải khắc phục. Sau đây,
em xin làm rõ đề tài: “Phân tích những điểm bất cập trong quy định của pháp
luật về hoạt động khuyến mại và đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy
định đó”.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I.

1.

Một số vấn đề lý luận về khuyến mại và pháp luật về khuyến mại
Khái niệm và đặc điểm khuyến mại
1.1. Khái niệm
Tại Khoản 1 Điều 88 Luật Thương mại năm 2005 (LTM 2005) có quy định
“Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến
việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những
lợi ích nhất định”. Như vậy, khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của
thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách

hàng, giới thiệu một sản phẩm mới, tăng lượng hàng đặt mua, kích thích trung gian
phân phối chú ý hơn nữa đến hàng hóa của doanh nghiệp… Thông qua đó tăng thị
phần của doanh nghiệp trên thị trường hàng hóa, dịch vụ. Ngoài ra, khuyến mại
còn giúp thương nhân có nhiều cơ hội trong việc thăm dò thi hiếu của thị trường.


1.3.

Vai trò
Ngày nay, tốc độ phát triển kinh tế rất nhanh kéo theo đó là sự đa dạng về
hàng hóa, dịch vụ làm cho khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn. Các thương nhân
đều muốn sản phẩm của mình được khách hàng lựa chọn nên đã sử dụng các chiêu
bài khuyến mại nhằm thu hút khách hàng.
Thứ nhất, khuyến mại là công cụ hữu hiệu để thương nhân chiếm lĩnh thị
trường, nâng cao tính cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ, đưa sản phẩm đến tay
người tiêu dùng một cách nhanh nhất.
Thứ hai, khuyến mại là công cụ hữu hiệu phản ánh sự liên lạc giữa người sản
xuất và người tiêu dùng. Bởi thông qua hoạt động khuyến mại, thương nhân có thể
nhận được những đánh giá, nhìn nhận về những ưu, nhược điểm của hàng hóa,
dịch vụ đó từ khách hàng. Từ đó, họ có thể quyết định thay đổi cho phù hợp với
nhu cầu của thị trường.
Thứ ba, khuyến mại tạo điều kiện kích thích người tiêu dùng sử dụng sản
phẩm với nhiều sự lựa chọn khác nhau. Thông qua khuyến mại, người tiêu dùng
thấy được sự ưu đãi từ phía nhà sản xuất sẽ mua nhiều hàng hơn…Từ đó nhà sản
xuất cũng có thể có thêm nhiều lợi nhuận hơn, tạo điều kiện để nâng cấp chất
lượng sản phẩm phục vụ người tiêu dùng tốt hơn.
2. Thực trạng pháp luật về khuyến mại ở Việt Nam
Hiện nay, hoạt động khuyến mại ở Việt Nam chủ yếu chịu sự điều chỉnh của
các văn bản pháp luật sau: LTM 2005, Nghị định số 37/2006/NĐ-CP, Luật Cạnh
Tranh năm 2004 và Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2001 và các

7. Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng
thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụ
mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi
nhận sự mua hàng hoá, dịch vụ hoặc các hình thức khác.
8. Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật,
giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại.
9. Các hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý nhà nước về
thương mại chấp thuận.
2.3.

Các quy định về hoạt động khuyến mại bị cấm
Nhằm hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh, Điều 100
LTM 2005 đã quy định 10 hoạt động khuyến mại bị Nhà nước cấm thực hiện. Như


vậy, Nhà nước mong muốn các doanh nghiệp thực hiện đúng và đầy đủ để đảm bảo
một môi trường kinh doanh lành mạnh, đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng.
2.4.

Các quy định về dịch vụ khuyến mại
Dịch vụ khuyến mại là một loại hình dịch vụ thương mại, thương nhân kinh
doanh dịch vụ tổ chức, thực hiện khuyến mại cho thương nhân khác theo thỏa
thuận trong hợp đồng để hưởng thù lao. Cơ sở pháp lý của hoạt động này là hợp
đồng dịch vụ được ký kết bằng văn bản giữa thương nhân kinh doanh dịch vụ và
thương nhân thuê dịch vụ, trong đó thỏa thuận rõ về hình thức khuyến mại, thời
gian thực hiện, nội dung công việc cần thực hiện, thù lao dịch vụ (Điều 89, 90
LTM 2005).
2.5.

Các quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động khuyến mại

Năm
1998
Tháng 1-6 năm 2005

Số lượng chương trình KM
71 chương trình
540 chương trình

Giá trị
Vài chục tỷ đồng
271 tỷ đồng

Những năm gần đây, một số chương trình khuyến mại độc đáo được các
thương nhân tung ra thị trường nhằm thu hút khách hàng như chương trình khuyến
mại tặng miễn phí nhiên liệu cho khoảng 2000km trong điều kiện vận hành chuẩn
của Ford Việt Nam trong năm 2005 khi mua xe Ford Everest; chương trình “đợt
khuyến mại lớn nhất trong lịch sử ngành thông tin di động ”.
II. ĐIỂM BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
HOẠT ĐỘNG KHUYẾN MẠI
1. Bất cập trong quy định về hình thức khuyến mãi:
Thứ nhất: Nếu thương nhân dùng hàng hóa, dịch vụ mà mình được kinh
doanh hợp phát để phát tặng không thu tiền cho khách hàng không kèm theo hành
vi mua bán thì khi nào là hình thức hàng mẫu, khi nào là hình thức tặng quà?
Tháng 6 năm 2006, tại trung tâm thương mại Big C Hà Nội, công ty TNHH
nước giải khát Coca Cola tổ chức phát tặng uống tại chỗ số lượng lớn chai nước
giải khát Coca Cola loại 300ml cho mọi đối tượng khách hàng. Đó là hình thức
“tặng quà” hay “hàng mẫu”? Nếu là “hàng mẫu”, thương nhân không phải thức
hiện bất cứ quy định nào về hạn mức khuyến mại, nếu là “tặng quà”, thì phải thức
hiện quy định tại Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 4/4/2006 về




Thứ ba: Quy định về hạn mức tối đa giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để
khuyến mại gặp khá nhiều vướng mắc khi thi hành.
Đối với các chương trình khuyến mại của thương nhân kinh doanh dịch vụ,
việc xác định hạn mức giá trị dịch vụ cho khách hàng không thu tiền thì hạn mức
tổng giá trị dịch vụ dùng để khuyến mại không được vượt quá 50%, tổng giá trị
dịch vụ được khuyến mại. Các hai mức “tổng giá trị” này chỉ có thể xác định sau
khi kết thúc thời gian khuyến mại. Nếu xác định vi phạm và xử lý vi phạm khi
chưa hết thời gian khuyến mại sẽ không tránh khỏi bất đồng giữa cơ quan quản lý
và thương nhân, do mọi số liện có thể chỉ là ước định.
Từ 24/12/2003 đến 31/1/2004, công ty cổ phần Internet một kết nối (OIC)
thức hiện chương trình khuyến mại sử dụng thẻ “Fone & Net” với nội dung miễn
phí tất các các cuộc gọi từ Việt Nam đến 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Bộ Thương
mại đã có công văn số 6071/TM-XTTM ngày 30/12/2003 yêu cầu OIC dừng
chương trình khuyến mại với lý do chương trình miễn phí cuộc gọi này vi phạm
Điều 3 Nghị định 32/1999/NĐ-CP ngày 5/5/1999 về khuyến mại, quảng cáo
thương mại và hội chợ triển lãm quy định trị giá hàng hóa dùng để khuyến mại
không được vượt quá 30% giá của hàng hóa, dịch vụ trước thời gian khuyến mại
(sau này, Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 4/4/2006 quy định chi tiết Luật
Thương mại về xúc tiền thương mại sửa đổi hạn mức này thành 50% và chia ra
mức tính theo đơn giá dịch vụ và theo tổng giá trị đợt khuyến mại). Cũng thời điểm
đó, tức là khi đang trong thời gian khuyến mại, OIC không thừa nhận vi phạm theo
kết luận của bộ thương mại vì cho rằng họ chỉ miễn phí cuộc gọi đến 20 quốc gia
đã xác định trong thời gian khuyến mại, các hướng dẫn vẫn thu tiền theo bảng giá
hiện hành (tối thiểu 1540 đồng/phút), trị giá đợt khuyến mại này không vượt quá
30% tổng doanh thu bán ra.
Đặc trưng của dịch vụ là tiêu dùng ngay, do đó khi chưa hết thời hạn khuyến
mại, chỉ có thể ước tính giá trị các cuộc gọi miễn phí và tổng giá trị cuộc gọi của
khách hàng trong thời gian đó. Nếu như áp dụng các quy định hiện hành về hạn

định trên cơ sở sự tổng hợp các ba hình thức hay xác định riêng cho từng hình
thức? Pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về vấn đề này.
- Chỉ có thể tính chính xác giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại sau
khi kết thúc đợt khuyến mại trên cơ sở xác định được số thuê bao hòa mạng mới,


số thẻ được bán ra, thời gian cụ thể không thu cước thuê bao mà khách hàng sử
dụng trên thực tế.
- Đối với việc tặng 60% cước hòa mạng và 60% giá trị bộ hòa mạng và
Viettel thông báo, sẽ có ý kiến khác nhau về xác định hình thức khuyến mại: Là
tặng quà hay là giảm giá? Nếu là hình thức giảm giá thì phải thực hiện thêm quy
định hạn mức giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị hàng hóa, dịch
vụ không được vượt quá 50% đơn giá của hàng hóa, dịch vụ trước thời gian
khuyến mại. Mặc dù thông báo là “tặng 60%” nhưng thức chất phải coi đây là
giảm giá cước hòa mạng cho mỗi thuê bao (đơn giá hòa mạng cho mỗi thuê bao là
179.000 đồng). Nếu tính riêng hình thức này trong chương trình khuyến mại thì
mức giảm giá trên đây vượt quá hạn mức tối đa mà pháp luật hiện hành cho phép.
Ngoài ra, riêng đối với hình thức giảm giá, thời gian giảm giá tối đa cho một
loại nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ là 90 ngày/năm; mỗi đợt giảm giá không quá 45
ngày. Các hình thức khuyến mại khác không bị hạn chế về thời gian thực hiện. Đợt
khuyến mại của Viettel diễn ra trong 60 ngày, nếu thực hiện đúng quy định pháp
luật, sẽ rất phức tạp nếu như từ này thứ 46, Viettel không giảm giá phí hòa mạng
cho khách hàng, ngoài các lợi ích khác vẫn giữ nguyên theo cam kết.
Liên quan đến quy định về hạn mức giá trị và thời gian khuyến mại, ở góc
độ điều chỉnh hành vi cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh chỉ cấm doanh nghiệm độc
quyền, doanh nghiệm và nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường thực
hiện hành vi “bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ
đối thủ cạnh tranh”. Việc giảm giá dưới 50% giá hàng hóa, dịch vụ trước thời gian
khuyến mại có thể đồng thời ở mức dưới “giá thành toàn bộ” của sản phẩm. Tuy
vậy, pháp luât cạnh tranh chỉ coi là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh bị cấm thực

kể chi phí cần thiết cho việc mua, việc bán đó.
Thứ hai, quy định pháp luật về trách nhiệm của thương nhân khuyến mại
chưa thật sự đầy đủ để đảm bảo lợi ích của khách hàng. Trong thực tế, khách hàng
là người phải chịu thiệt thòi do những gian lận trong khuyến mại, do các sai sót kỹ
thuât trong in ấn tem, phiếu, vật phẩm có chứa đựng thông tin về lợi ích vật chất
mà khách hàng được hưởng trong đợt khuyến mại. Một khách hàng của công ty
Sữa Hanoimilk đã mua sản phẩm sữa IZZI trong đợt khuyến mại từ 15/4 đến
15/8/2005 với một thẻ cào có thông tin trúng thưởng 30.000.000 đồng (sau khi cào
phần nhũ bạc). Khi liên hệ với công ty để nhận giải thưởng, khách hàng nhận được
trả lời:”phiếu cào đó không hợp lệ”. Sau khi sự việc xảy ra, công ti TNHH Sáng
Tạo (đơn vị thực hiện in ấn toàn bộ thẻ cào của đợt khuyến mại theo hợp đồng đã
kí với Hanoimilk) đã thừa nhận lỗi sai sót kỹ thuật. Lợi ích mà khách hàng nhận
được trong trường hợp này chỉ là lời xin lỗi của Hanoimilk, bởi vì không tìm thấy


quy định cụ thể trong pháp luật hiện hành làm cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi
của họ trong trường hợp này.
Thứ ba, để đảm bảo sự trung thực của thương nhân về giải thưởng trong các
chương trình khuyến mại mang tính may rủi, pháp luật quy định “thương nhân có
nghĩa vụ thực hiện đúng chương trình khuyến mại đã thông báo và cam kết với
khách hàng” (Khoản 3 Điều 96 Luật thương mại 2005) là chưa đủ. Thực tiễn cho
thấy, trong chương trình “bật nắp chai trúng thưởng” với cơ cấu 200.000 giải
thưởng, trong đó có 6 xe ô tô BMW của một công ty bia, không ai có thể chắc chắn
rằng có đủ 200.000 giải thưởng với 6 nắp chai in hình xe BMW trong số sản phẩm
được bán trong đợt khuyến mãi? Theo ông Đỗ Thắng Hải, Phó cục trưởng Cục
Xúc tiến thương mại (Bộ Thương mại), trong tổng số 215 tỷ đồng giá trị hàng hóa,
dịch vụ dùng để khuyến mại mà cách thương nhân đăng kí chương trình khuyến
mại với Cục xúc tiến thương mại, tổng số giá trị giải thưởng đã trao rất thấp, chỉ
đạt hơn 6 tỷ đống, chiếm 3% tổng số tiền dánh cho khuyến mại đã đăng ký. Trong
khi thương nhân vẫn tiêu thụ được hàng hóa mà số lượng giải thưởng đã trao quá ít

thương nhân nộp 50% giá trị giải thưởng đã công bố vào ngân sách Nhà nước
trong trường hợp không có người trúng thưởng là giải pháp hạn chế tình trạng
khuyến mại gian dối, thiếu trung thực của thương nhân về cơ cấu, số lượng giải
thưởng và sự phân phối giải thưởng đến khách hàng. Tuy nhiên, không phải mọi
thương nhân đều có hành vi gian lận, thiếu trung thực về giải thưởng, khi sự trúng
thưởng của khách hàng dựa trên sự may rủi thì việc còn lại giải thưởng sau khi thời
gian khuyến mại hay chưa hết thời gian khuyến mại, mà toàn bộ giải thưởng đã có
khách hàng trúng thưởng cũng là tất yếu. Do vậy, trong quá trình thực thi pháp
luật, cơ quan quản lý nhà nước về thương mại cấn có biện pháp để phát hiện, ngăn
ngừa tình trạng gian lận về giải thưởng, kể các việc đề xuất mức xử lý vi phạm
thích đáng đối với người vi phạm. Trên cơ sở cân nhắc lợi ích và hạn chế mà điều
luật mang lại, việc quy định nghĩa vụ nộp 50% giá trị giải thưởng đã công bố vào
ngân sách Nhà nước trong trường hợp không có người trúng thưởng không phải là
giải pháp phù hợp và hiệu quả, nên bãi bỏ.
2. Nên hủy bỏ các quy định về hạn mức tối đa giá trị hàng hóa dịch
vụ dùng để khuyến mại, hạn mức về thời gian thực hiện khuyến mại
Khi khuyến mại mang lại lợi ích cho người tiêu dùng và không gây nguy
hại, đe dọa dâu nguy hại cho bất cứ tổ chức, cá nhân nào thì nhà nước không cần
phải quy định những khuôn khổ thực hiện quá chật hẹp. Về lý luận, nhà nước chỉ
quy định cấm đoán, hạn chế đối với hành vi của thương nhân khi hành vi đó có ảnh
hưởng tiêu cực đến lợi ích của các chủ thể khác. Các quy định ngăn cấm khôgn cần


thiết sẽ là yếu tố cản trở tự do thương mại, không thúc đẩy, khuyến khích cạnh
tranh.
Xuất phát từ phân tích trên, thì các quy định về hạn mức tối đa giá trị dùng
để khuyến mại và thời gian thực hiện khuyến mại là không cần thiết, cần được bãi
bỏ. Để ngăn ngừa hành vi cạnh tranh không lành mạnh, chỉ cần thực hiện theo quy
định của luật cạnh tranh là đủ. Việc hủy bỏ quy định này vừa có ý nghĩa ghi nhận
đầy đủ hơn quyền tự do hoạt động xúc tiến thương mại vừa góp phần tạo ra sự

KẾT LUẬN
Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra kết luận, khuyến mại là một hoạt động
xúc tiến thương mại bằng cách mang lại cho khách hàng những lợi ích nhất định.
Pháp luật hiện hành đã quy định các hình thức khuyến mại rất cụ thể giúp các
thương nhân có thể dễ dàng thực hiện. Nếu thực hiện đúng đắn sẽ đem lại hiệu quả
rất lớn cho các doanh nghiệp, người tiêu dùng và cả xã hội, tuy nhiên nó cũng có
thể gây phản hồi tiêu cực tới chính các đối tượng này. Thực tế đã chứng minh điều
này, hiện nay khi thực hiện hình thức khuyến mại đã có rất nhiều vấn đề bất cập.
Vì vậy, cần nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật khuyến mại để đáp ứng thực tế
hiện nay.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thương mại tập 2 , Hà Nội, năm
2008, Nxb CAND.
2. Luật Thương Mại năm 2005.
3. Luật Cạnh Tranh năm 2004.
4. Nghị định của Chính phủ số 37/2006/NĐ-CP ngày 4 tháng 4 năm 2006 quy
định chi tiết Luật Thương Mại về hoạt động xúc tiến thương mại.
5. Nguyễn Thị Dung - Luận văn tiến sỹ luật học, Pháp luật về xúc tiến thương mại
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam – Lý luận, thực tiễn và giải pháp hoàn
thiện. Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2006.
6. Nguyễn Thị Thu Hồng - Khóa luận tốt nghiệp, Khuyến mại – Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn. Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2007.
7.

Bùi Thanh Tú - Khoá luận tốt nghiệp, Tìm hiểu pháp luật về khuyến mại ở Việt
Nam, Người hướng dẫn: ThS. Đoàn Trung Kiên. Trường Đại học Luật Hà Nội,
năm 2009.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status