ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỘI XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ QUỲNH
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở
XÃ HỢP ĐỒNG, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỘI XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ QUỲNH
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT Ở
XÃ HỢP ĐỒNG, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01.
LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hải Hữu
Hà Nội - 2014
7. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................. Error! Bookmark not defined.
8. Giả thuyết nghiên cứu....................................... Error! Bookmark not defined.
9. Phương pháp nghiên cứu .................................. Error! Bookmark not defined.
NỘI DUNG CHÍNH ........................................... Error! Bookmark not defined.
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄNError!
Bookmark
not
defined.
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài ................................. Error! Bookmark not defined.
1.1.1. Các khái niệm công cụ ............................... Error! Bookmark not defined.
1.1.2. Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứuError!
Bookmark
not
defined.
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài .............................. Error! Bookmark not defined.
1.2.1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu .............. Error! Bookmark not defined.
1.2.2. Đặc điểm về người khuyết tật trên địa bàn nghiên cứu ................. Error!
Bookmark not defined.
1.2.3. Các chính sách trợ giúp xã hội hiện nay đối với Người khuyết tật ở xã
Hợp Đồng ........................................................ Error! Bookmark not defined.
Tiểu kết chương 1 ................................................. Error! Bookmark not defined.
Chương 2. THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP
3.1.4. Chính sách về học nghề, việc làm ......... Error! Bookmark not defined.
3.1.5. Chính sách về vui chơi, giải trí ............. Error! Bookmark not defined.
3.2. Những hạn chế và khó khăn của người khuyết tật trong diện thụ hưởng
khi nhận các chính sách trợ giúp và nguồn lực hỗ trợ giải quyết .......... Error!
Bookmark not defined.
3.2.1. Chính sách về trợ cấp hàng tháng ......... Error! Bookmark not defined.
3.2.2. Chính sách về trợ giúp y tế ................... Error! Bookmark not defined.
3.2.3. Chính sách trợ giúp về giáo dục ............ Error! Bookmark not defined.
3.2.4. Chính sách trợ giúp về học nghề và việc làmError!
Bookmark
not
defined.
3.2.5. Chính sách trợ giúp về vui chơi, giải trí Error! Bookmark not defined.
3.3. Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm .......... Error! Bookmark not defined.
3.4. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động chính sách trợ giúp xã hội
đối với NKT ở xã Hợp Đồng ............................... Error! Bookmark not defined.
3.4.1. Nhóm giải pháp về truyền thông ........... Error! Bookmark not defined.
3.4.2. Nhóm giải pháp về thực hiện chính sáchError!
Bookmark
not
defined.
3.4.3. Xây dựng chương trình, kế hoạch của địa phương trong việc thực hiện
hưởng tại xã Hợp Đồng ................................... Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASXH
: An sinh xã hội
CTXH
: Công tác xã hội
UBND
: Ủy ban nhân dân
NKT
: Người khuyết tật
NĐ
: Nghị định
CP
: Chính phủ
TTLT
Qua gần 30 năm đổi mới, Đất nước ta đã đạt được những thành tựu
đáng kế trên tất cả các lĩnh vực Kinh tế - Văn hóa – Xã hội, cuộc sống của
người dân đã không ngừng cải thiện và nâng lên. Ngoài chăm lo cuộc sống
vật chất, tinh thần cho người dân, Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo sát sao hơn
công tác trợ giúp các đối tượng yếu thế trong xã hội như: Người cao tuổi,
người già cô đơn, trẻ em mồ côi, trẻ em bị nhiễm HIV/AIDs… đặc biệt là
Người khuyết tật.
Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ
thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao
động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn [29, tr.1]. Để giúp Người khuyết tật có
thể vượt qua được những khó khăn do khiếm khuyết của cơ thể, hòa nhập vào
cuộc sống thì chính sách xã hội đóng vai trò không nhỏ trong việc ổn định
cuộc sống của Người khuyết tật. Các chính sách đó có thể là: trợ cấp xã hội,
bảo hiểm y tế, giáo dục, việc làm… Mục đích của các chính sách trợ giúp trên
nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để cho Người khuyết tật có thể phát
triển cả thế chất và tinh thần. Điều này thể hiện tinh thần Nhân văn cao cả của
Đảng và Nhà nước đối với những đối tượng yếu thế, những người thiệt thòi
gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống
Năm 2010 được đánh dấu là năm bước ngoặt trong công tác chăm sóc
Người khuyết tật bằng việc ra đời Luật Người khuyết tật, Luật người khuyết
tật là sự kế thừa của Pháp lệnh về Người tàn tật năm 1998. Ngoài ra, Đảng và
Nhà nước còn có các nghị định, thông tư, hướng dẫn trong công tác chăm sóc
Người khuyết tật như: Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 04 năm
2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người
khuyết tật, thông tư số 37/2012/ TTLT –BLĐTBXH - BYT – BTC – BGĐT
thông tư liên tịch quy định về việc xác định mức độ khuyết tật do hội đồng
xác định mức độ khuyết tật thực hiện.
Hiện nay, theo báo cáo của Bộ lao động thương binh và xã hội cả nước có
Năm 2011 trong một báo cáo của Liên Hợp Quốc (UN) và Tổ chức lao
động quốc tế ILO đã chỉ ra có khoảng 5 tỷ người (khoảng 75% dân số thế
giới) không được hưởng các chế độ an sinh xã hội phù hợp. Trợ lý Tổng thư
ký Liên hợp quốc, đồng thời là Tổng Giám đốc Cơ quan Liên hợp quốc phụ
trách các vấn đề về phụ nữ - bà Michelle Bachelet cho biết: Trong suốt 6 thập
kỷ qua, nền kinh tê thế giới tăng trưởng mạnh mẽ và tổng sản phẩm quốc nội
của thế giới cũng tăng gấp 10 lần nhưng việc tiếp cận với các dịch vụ thiết
yếu của người dân vẫn còn hạn chế. Bởi vậy, bà Michelle Bachelet cho rằng:
“Đảm bảo an sinh xã hội là thách thức cho tất cả các quốc gia. Mỗi quốc gia
cần thi hành các chính sách việc làm cho phụ vữ và thanh niên”. Báo cáo của
UN và ILO cho thấy, có khoảng 38% dân số thế giới (tương đương 2,6 tỷ
người) không được hưởng các hệ thống chăm sóc sức khỏe thỏa đáng và 884
triệu người không được dùng nước sạch. Thêm vào đó, có khoảng 1,4 tỷ
người vẫn phải sống ở mức dưới 1,25 USD/ ngày. Báo cáo cũng đề xuất các
nguồn trợ cấp xã hội công cộng dành cho những gia đình nghèo, trong đó
bao gồm trợ cấp cho những người già cả, người khuyết tật và khoản trợ cấp
dành cho trẻ em và những người thất nghiệp. Bên cạnh đó, chăm sóc y tế,
giáo dục, nước sạch và vệ sinh dịch tễ cũng nên được đảm bảo cho tất cả
mọi người [62].
Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật (2006)
cũng đã xác định được những quyền cơ bản của người khuyết tật, trong đó
cũng đã nhấn mạnh đến các quyền về chăm sóc sức khỏe, học tập, việc làm,
bảo đảm thu nhập và an sinh xã hội; đặc biệt công ước cũng nhấn mạnh đến
nguyên tắc chống phân biệt đối xử, bảo vệ phụ nữ và trẻ em khuyết tật. Việt
Nam cũng đã ký kết tham gia thực hiện công ước. [51].
Báo cáo của cố vấn quốc hội Mỹ về người khuyết tật (2013) cho rằng
người khuyết tật ở Mỹ chiếm khoảng 15% dân số nước Mỹ; bên cạnh những
chính sách trợ giúp của nhà nước cho người khuyết tật về chăm sóc sức khỏe,
Việt Nam của tổ chức lao động thế giới – ILO [38], đã chỉ rõ Chính phủ Việt
Nam chú trọng nhiều đến tầm quan trọng của vấn đề hòa nhập người khuyết
tật trong đào tạo nghề, việc làm và phát triển doanh nghiệp. Hiện nay, các
sáng kiến dành riêng cho phụ nữ khuyết tật còn bị hạn chế mặc dù chính phủ
đã nhận thấy những nhu cầu riêng của họ. Việt Nam nghiêm túc thực hiện
cam kết khung thiên niên kỷ Biwako của Chương trình thập kỷ thứ 2 vì Người
khuyết tật khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của Ủy ban kinh tế xã hội của
Liên Hợp Quốc (ESCAP). Gần đây, Việt Nam đã tham gia ký nhưng chưa phê
chuẩn, Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền của Người khuyết tật. Trong
báo cáo về khảo sát nghề và việc làm cho người khuyết tật tại Việt Nam của
tổ chức lao động thế giới – ILO đã cho thấy tại Việt Nam rất ít được đào tạo
nghề và hướng dẫn về việc làm cũng như về phát triển doanh nghiệp. Chính
phủ cũng như bản thân người khuyết tật nhận thấy cần có chính sách đào tạo
riêng cho người khuyết tật, các dịch vụ bố trí việc làm riêng và các kế hoạch
và hoạt động phát triển kinh doanh riêng cho người khuyết tật. Tuy nhiên,
pháp luật về đào tạo nghề và việc làm của Việt Nam không nêu rõ trong các
hoạt động chủ đạo và chính phủ cũng chưa có chính sách khuyến khích đào
tạo nghề hòa nhập riêng cho Người khuyết tật ngoài chính sách giáo dục hòa
nhập. Tuy nhiên, tất cả các trung tâm trước đây đào tạo riêng cho người
khuyết tật nay đều mở cửa đối với mọi sinh viên (trên thực tế các trung tâm
này vẫn chủ yếu phục vụ người khuyết tật, trẻ em mồ côi, cựu chiến binh và
những người có hoàn cảnh không may mắn khác). Nhờ có một số ưu tiên
riêng, đã có nhiều trường/trung tâm dạy nghề dành riêng cho người khuyết tật
được thành lập. Nhưng trên thực tế chỉ phục vụ các khu vực thành thị. Tại các
khu vực nông thôn, việc tiếp cận đào tạo nghề rất bị hạn chế. Các dịch vụ bố
trí việc làm thường gắn liền với cơ sở đào tạo nghề. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp,
kiếm được việc làm sau đào tạo nghề khá thấp và phần lớn những học viên tốt
nghiệp chủ yếu tìm được việc làm tại các cơ sở dành riêng cho người khuyết
Năm 2010, Nguyễn Ngọc Toản đã có nghiên cứu về đề tài: “Chính sách
trợ giúp xã hội thường xuyên ở cộng đồng Việt Nam”. Tác giả đã có viết một
phần về Người khuyết tật. Trong luận án, tác giả đã đưa ra cách hiểu mới về
trợ giúp xã hội không chỉ là cứu đói, hỗ trợ lương thực cho cá nhân, hộ gia
đình, chịu hậu quả thiên tai, chiến tranh, mà đã mở rộng thành các hợp phần
chính sách là trợ giúp đột xuất và trợ giúp thường xuyên. Mỗi hợp phần chính
sách lại bao gồm các chính sách bộ phận đặc biệt như chính sách trợ giúp xã
hội thường xuyên tại cộng đồng gồm các chính sách bộ phận là: trợ cấp xã hội
hàng tháng, trợ giúp về y tế, trợ giúp về giáo dục, trợ giúp về việc làm, trợ
giúp về học nghề. Đồng thời trong bài viết cũng chỉ ra được số lượng Người
khuyết tật (2008) trên cả nước và phạm vi phân bố Người khuyết tật, dạng
khuyết tật và số lượng Người khuyết tật cũng như nhu cầu của Người khuyết
tật và việc đáp ứng nhu cầu của Người khuyết tật.. Kết quả nghiên cứu phát
hiện nhu cầu trợ giúp tương đối đông, tính chung 16,22% dân số cần trợ giúp
xã hội. Các nhu cầu trợ giúp (đời sống, sức khỏe, giáo dục) là khác nhau, tùy
thuộc vào các nhóm đối tượng cụ thể. Các công cụ chính sách được quy định
đồng bộ (bao gồm trợ cấp xã hội, trợ giúp về y tế, trợ giúp về giáo dục. Tính
hiệu quả của chính sách ngày càng cao theo thời gian. Tuy nhiên tính hiệu
lực, hiệu quả, tính công bằng và bền vững của chính sách còn chưa đảm bảo
(mới bao phủ 1,45% dân số, 12,2% thuộc diện chưa hưởng chính sách, 32%
đối tượng, 55% cán bộ chưa thực sự hài lòng với chính sách). Đồng thời dựa
trên những kết quả thu được, tác giả cũng đã đưa ra định hướng, giải pháp hoàn
thiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở cộng đồng Việt Nam gồm:
+ Định hướng đổi mới chính sách: chuyển từ quan điểm chính sách
nhân đạo sang chính sách bảo đảm thực hiện quyền cho đối tượng hưởng lợi,
đồng thời phải đảm bảo sự tương đồng giữa các chính sách khác trên cơ sở
phát triển kinh tế xã hội và cải cách hành chính.
+ Các giải pháp cụ thể: Mở rộng đối tượng hưởng lợi nhằm bao phủ
và thách thức trong việc thực thi chính sách, giúp cho các cơ quan quản lý có
cái nhìn toàn diện hơn về các cơ chế, chính sách đã ban hành và tiếp tục hoàn
thiện cơ chế, chính sách để giảm thiểu những rào cản trong việc tiếp cận
chính sách trợ giúp đối với người khuyết tật
Đánh giá việc thực hiện của các cơ quan quản lý Nhà nước trong công
tác thực thi pháp luật, chính sách của Nhà nước đối với Người khuyết tật, qua
đó đề cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và cá nhân trong việc thực
thi chính sách trợ giúp người khuyết tật
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
● Đối với Nhà nước
Kết quả nghiên cứu giúp nhà nước, nhà hoạch định chính sách, hiểu rõ
hơn nhu cầu, đời sống, những khó khăn của người khuyết tật cũng như gia đình
nuôi dưỡng Người khuyết tật. Từ đó, đưa ra các chính sách phù hợp với Người
khuyết tật và các chính sách phát huy được hiệu quả trong cuộc sống.
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp Nhà nước có cái nhìn khách quan, toàn diện
về công tác trợ giúp xã hội đối với Người khuyết tật và gia đình Người khuyết
tật. Từ đó có các giải pháp hiệu quả hơn trong việc nghiên cứu ban hành chính
sách và thực thi chính sách trợ giúp người khuyết tật
● Đối với gia đình Người khuyết tật
Gia đình người khuyết tật được Đảng và Nhà nước quan tâm bằng việc trợ
cấp, trợ giúp đối với Người nuôi dưỡng Người khuyết tật. đồng thời cũng đề cao
trách nhiệm của gia đinh trong việc chăm sóc và trợ giúp người khuyết tật
Gia đình Người khuyết tật được biết thêm những thông tin liên quan đến
quyền lợi và nghĩa vụ của gia đình trong công tác chăm sóc Người khuyết tật.
● Đối với Người khuyết tật
Hiểu biết thêm chính sách của nhà nước đối với người khuyết tật, được
tìm hiểu nhu cầu và đánh giá được những khó khăn, vướng mắc Người khuyết
tật gặp phải trong cuộc sống. Thông qua hiểu biết về sự quan tâm của đảng,
dục hòa nhập cho người tàn tật, khuyết tật.
2.
Bộ lao động thương binh và xã hội (2012), thông tư số 26/2012/TT –
BLĐTBXH ngày 12/11/2012 hướng dẫn một số điều của nghị định số
28/2012/NĐ – CP ngày 10/4/2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật người khuyết tật;
3.
Chính phủ (2007), Nghị định số 67/2007/NĐ – CP ngày 13 tháng 04
năm 2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng Bảo trợ xã hội, Hà Nội.
4.
Chính phủ (2010), Nghị định số 13/2010/NĐ – CP ngày 27 tháng 02
năm 2010 về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ
– CP, Hà Nội
5.
Chính phủ (2012), Quyết định số 1019/QĐ-TTg quyết định phê duyệt đề
án trợ giúp Người khuyết tật giai đoạn 2012 – 2020.
6.
Chính phủ (2012), Nghị định28/2012/NĐ – CP ngày 10/4/2012 quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật.
người khuyết tật tiếp cận, sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông;
14. Bộ giao thông vận tải (2012), thông tư số 39/2012/TT – BGTVT ngày 24
tháng 9 năm 2012 hướng dẫn thực hiện quy chuẩn quốc gia về kết cấu
hạ tầng giao thông, công cụ hỗ trợ và chính sách ưu tiên Người khuyết
tật tham gia giao thông công cộng;
15. Bộ lao động thương binh xã hội (2012), báo cáo kết quả thực hiện công
tác bảo trợ xã hội năm 2012.
16. Trần Thị Minh Đức, Giáo trình tham vấn tâm lý, NXB Đại học quốc gia
Hà Nội.
17. Nguyễn Thị Hà (2014), Giáo trình Công tác xã hội với Người khuyết tật
18. Nguyễn Hải Hữu (2005) Đề tài cấp bộ về đổi mới chính sách trợ giúp xã hội.
19. Nguyễn Hải Hữu (2007), Báo cáo chuyên đề thực trạng trợ giúp xã hội
và ưu đãi xã hội ở nước ta năm 2001 – 2007 và khuyến nghị tới năm
2015, Hà Nội.
20. Nguyễn Hải Hữu (2012), Giáo trình nhập môn An sinh xã hội, NXB
LĐXH, Hà Nội.
21. Phạm Văn Quyết – Nguyễn Quý Thanh, Phương pháp nghiên cứu xã hội
học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội.
22. Quốc Hội (1991), Luật phổ cập giáo dục tiểu học.
23. Quốc Hội (1991, 2004), Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
24. Quốc Hội (1992), Hiến pháp.
25. Quốc hội (2002), Luật ngân sách nhà nước, Hà Nội.
26. Quốc hội (2004), Luật giáo dục Hà Nội, Hà Nội.
27. Quốc hội (2006), Luật dạy nghề Hà Nội, Hà Nội.
28. Quốc hội (2008), Luật bảo hiểm y tê Hà Nội, Hà Nội.
29. Quốc Hội (2010), Luật Người khuyết tật số 51/2010/QH12
30. Mai Kim Thanh (2007), Giáo trình nhập môn Công tác xã hội, NXB Đại
học quốc gia Hà Nội.
31/10/2005), tr. 36 – 37, Hà Nội.
45. Nguyễn Ngọc Toản, “Trợ giúp xã hội cho cá nhân và hộ gia đình nhằm
đảm bảo an sinh xã hội đối với người khuyết tật”, Tạp chỉ Lao động xã
hội – (364), ngày 1 – 15/8/2009, tr. 29-31, Hà Nội.
46. Nguyễn Ngọc Toản, “Đề xuất quan điểm tiếp cận phát triển chính sách
trợ giúp xã hội ở Việt Nam”, Tạp chỉ Lao động xã hội – (379), ngày 16 –
31/3/2010, tr.26-28, Hà Nội.
47. Nguyễn Ngọc Toản, “Tăng cường thực thi chính sách trợ cấp xã hội
hàng tháng đối với Người khuyết tật”, Tạp chỉ Lao động xã hội – (380),
ngày 1 – 15/4/2010, tr.9-11, Hà Nội.
48. Trần Đình Tuấn (2009), “Công tác xã hội lý thuyết và thực hành”, NXB
Đại học quốc gia Hà Nội.
49. Eric Rosenthal và Viện quốc tế bảo vệ người khuyết tật tâm thần thực
hiện theo yêu cầu của UNICEF Việt Nam (2009), “Quyền của trẻ em
khuyết tật tại Việt Nam”.
50. Bộ lao động thương binh xã hội (2011), “Nghiên cứu định tính về trẻ em
khuyết tật tại An Giang và Đồng Nai kiến thức – thái độ - thực hành”.
51. Liên Hợp Quốc (2006), “Công ước quốc tế về quyền của Người khuyết tật”.
52. Ngô Tự Nam (2012), “Tổng quan về phân tích chính sách”,
ngày 26/07/2012.
53. Trần Văn Kham (2008), Hiểu về quan niệm Công tác xã hội, Tạp chí khoa
học ĐHQGHN, Khoa học xã hội và Nhân văn (2009), 29, trang 1 – 7.
54. Nguyễn Thị Lan Hương (2010), An sinh xã hội và ổn định kinh tế vĩ mô
duy trì tăng trưởng, Kỷ yếu hội thảo “Ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì đà
tăng trưởng: Kinh tế Việt Nam năm 2010 và triển vọng năm 2011”, Tp.
Hồ Chí Minh, 2010.
Danh mục các trang Web tham khảo
55. Số liệu liên quan đến Người khuyết tật từ website Bộ lao động thương