Chế độ bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật - Pdf 34

MỞ ĐẦU
Luật người khuyết tật là một trong số những bộ luật còn khá mới mẻ. Với tư
cách là đối tượng, thực thể tồn tại trong đời sống xã hội, người khuyết tật có đầy
đủ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Tuy nhiên, do một số khiếm khuyết
không mong muốn về cơ thể mà người khuyết tật gặp phải nhiều khó khăn trong
việc hòa nhập cộng đồng, cũng như thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của
mình. Với tư cách là thành viên của ILO và đã tham gia kí Công ước Liên hợp
quốc về quyền của người khuyết tật, pháp luật Việt Nam cần phải và đã bước đầu
nội luật hóa các nguyên tắc đã được ghi nhận trong Công ước. Luật người khuyết
tật năm 2010 của Việt Nam dành hẳn một chương (chương VIII) để quy định cụ
thể về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật. Đây là một trong những nội dung cơ
bản của hệ thống an sinh xã hội. Sau đây em xin đi sâu vào tìm hiểu về chế độ bảo
trợ xã hội, cũng như liên hệ thực tiễn về quá trình thực thi chế độ.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Một số vấn đề lý luận về người khuyết tật:
1. Khái niệm về người khuyết tật:
Khái niệm về người khuyết tật được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau.
Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng định nghĩa về người khuyết tật dù tiếp cận ở
bất cứ góc độ nào nhất thiết phải phản ánh thực tế là người khuyết tật có thể gặp
các rào cản do yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người khi tham gia vào mọi hoạt
động kinh tế, chính trị, xã hội. Họ phải được đảm bảo rằng họ có quyền và trách
nhiệm tham gia vào mọi hoạt động của đời sống như bất cứ công dân nào với tư
cách là các quyền của con người. với tư cách tiếp cận đó, có thể đưa ra định nghĩa
khái niệm của người khuyết tật như sau:
Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể
hoặc bị suy giảm chắc năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc
tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những
chủ thể khác.
2. Khái niệm luật người khuyết tật:


vực an sinh xã hội ở Việt Nam. Dựa trên quan điểm chung của Tổ chức Lao động
quốc tế (ILO) và riêng Việt Nam, có thể hiểu bảo trợ xã hội là sự giúp đỡ của nhà
nước, xã hội và cộng đồng bằng những biện pháp và các hình thức khác nhau đối
với các đối tượng gặp rủi ro, bất hạnh, nghèo đói… vì nhiều nguyên nhân dẫn đến
2


không đủ khả năng tự lo liệu được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình
nhằm giúp họ tránh được mối đe dọa của cuộc sống thường nhật, giúp họ vượt qua
mọi khó khăn, ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng. Như vậy, đối tượng bảo trợ
xã hội là những người gặp khó khăn, rủi ro, biến cố, bất hạnh trong cuộc sống vì
nhiều nguyên nhân khác nhau cần có sự giúp đỡ. Đó có thể là người khuyết tật,
người già cô đơn, trẻ em mồ côi thiếu người nuôi dưỡng…
Người khuyết tật là một trong nhóm đối tượng được ưu tiên đề cập đến
trong nhóm đối tượng bảo trợ xã hội. Họ thuộc nhóm người “yếu thế” trong xã hội,
vì những nguyên nhân khác nhau mà bị rơi vào vị thế bất lợi, thiệt thòi, ít có cơ
may trong cuộc sống như những người bình thường khác và không đủ khả năng tự
lo liệu cho cuốc sống của bản thân và gia đình. Về kinh tế, những đối tượng này có
mức sống thấp hơn mức sống tối thiểu của xã hội, họ cần có sự nâng đỡ về vật chất
để tồn tại và phát triển. Căn cứ vào độ tuổi, dạng tật, nguyên nhân túng quẫn mà
hình thành các nhóm đối tượng bảo trợ xã hội cụ thể. Với những đặc điểm riêng
của đối tượng nên pháp luật các quốc gia thường có những quy định riêng cho
nhóm đối tượng này, đặc biệt trên phương diện bảo trợ xã hội. Với trách nhiệm của
mình, mỗi quốc gia đều xác định trách nhiệm đối với cuộc sống của những người
“yếu thế” nói chung và người khuyết tật nói riêng.
Bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật là tổng hợp các cơ chế, chính sách và
các giải pháp của nhà nước và cộng đồng xã hội nhằm trợ giúp và bảo vệ cho
người khuyết tật, trước hết và chủ yếu là những khoản trợ cấp, hỗ trợ và các chi phí
khác nhằm giúp cho đối tượng ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng. Theo đó
nội dung của bảo trợ xã hội cho người khuyết tật cũng chính là các nội dung của

vụ có lợi cho các thành viên yếu thế, thu hẹp dần sự chênh lệch mức sống, giảm
bớt bần cùng, nghèo đói. Việc cung cấp các khoản trợ giúp xã hội từ nguồn tài
chính công đó không vì mục đích kinh doanh, lợi nhuận và mang ý nghĩa phân
phối lại thu nhập xã hội theo hướng công bằng, đảm bảo lợi ích xã hội đối với
người khuyết tật nói riêng và toàn bộ dân chúng nói chung.
Thứ hai, dưới góc độ chính trị xã hội, bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
còn là biện pháp hỗ trợ tích cực của xã hội đối với mỗi thành viên của mình khi
gặp rủi ro, hạn chế về sức khỏe; góp phần làm giảm thiểu những bất ổn xã hội, ổn
định xã hội, ổn định chính trị bởi lẽ khi rơi vào cảnh túng quẫn, phân biệt đối xử
con người sẽ dễ nảy sinh những hành vi lệch lạc về chuẩn mực đạo đức. Đây sẽ là
nền tảng cơ bản thúc đẩy phát triển bền vững về kinh tế xã hội và chính trị mỗi
quốc gia.
Thứ ba, dưới góc độ pháp luật, bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật là một
trong những nội dung của pháp luật an sinh xã hội, điều chỉnh việc trợ giúp vật
4


chất và tinh thần cho nhóm đối tượng có vị thế bất lợi, thiệt thòi, ít có cơ may trong
cuộc sống như những người bình thường khác. Bảo trợ xã hội cho người khuyết tật
với các chế độ trợ cấp được thiết lập trên cơ sở đảm bảo quyền con người. Mỗi con
người sinh ra trong xã hội đều có quyền được sống, được bình đẳng, được thương
yêu, đùm bọc, che chắn, bảo vệ trước những biến cố bất lợi, đặc biệt là khi sự sống
bị đe dọa. Quyền này đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền của Liên
hợp quốc ngày 10/12/1948: “mọi người đều có quyền hưởng một mức sống đủ
đảm bảo sức khỏe và nhu yếu của mình cùng gia đình, nhất là về ăn uống, nhà ở,
thuốc men…” (Điều 22 Tuyên ngôn nhân quyền). Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế
xã hội và những đặc thù riêng mà mỗi quốc gia đều luật hóa nội dung này ở mức
độ khác nhau để tổ chức thực hiện. Từ đó có thể thấy, bảo trợ xã hội đối với người
khuyết tật là quyền của mỗi thành viên xã hội và là trách nhiệm, nghĩa vụ của cả
cộng đồng.

VIII) trong Luật người khuyết tật 2010, từ Điều 44 tới Điều 48.
Chế độ bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật là nội dung cơ bản của pháp
luật bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật, quy định quyền, nghĩa vụ của nhà
nước, tổ chức, cá nhân trong việc hỗ trợ, giúp đỡ cho người khuyết tật thông qua
các khoản trợ cấp.
Ở Việt Nam, bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật được quan tâm thực
hiện từ rất sớm và thực sự được ghi nhận với vị trí quan trọng trong hệ thống pháp
luật bằng sự ra đời của Pháp lệnh về người tàn tật ngày 30 tháng 7 năm 1998. Sau
10 năm thực hiện với hệ thống văn bản hướng dẫn đã tạo được môi trường pháp lí
thuận lợi bảo vệ và hỗ trợ cho người khuyết tật hòa nhập cộng đồng. Trên phương
diện chế độ bảo trợ xã hội cho người khuyết tật, phải kể đến sự ra đời của Nghị
định số 07/2000/NĐ-CP ngày 9/3/2000 về chính sách cứu trợ xã hội, Nghị định số
67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp đối tượng bảo trợ xã hội,
Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 67/NĐ-CP, Chỉ thị số 01/2006/CT-TTg ngày 9/1/2006 về việc đẩy
mạnh thực hiện chính sách trợ giúp người tàn tật trong tình hình phát triển kinh tế
xã hội hiện nay… và một số các văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành. Điểm mốc
đánh dấu sự phát triển của chế độ bảo trợ xã hội nói riêng và pháp luật người
khuyết tật nói chung là sự ra đời của Luật người khuyết tật 2010. Theo đó, chế độ
bảo trợ xã hội cho người khuyết tật chủ yếu bao gồm chế độ trợ cấp, hỗ trợ cho
người khuyết tật và chế độ nuôi dưỡng người khuyết tật tại các cơ sở bảo trợ xã
hội.
4.1. Chế độ trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hang tháng

6


Đây là chế độ trợ cấp cơ bản của bảo trợ xã hội cho người khuyết tật. Theo
quy định của Luật người khuyết tật, để được hưởng khoản trợ cấp và hỗ trợ đối
tượng khuyết tật phải đảm bảo điều kiện hưởng. Điều kiện để hưởng trợ cấp xã hội

- Được Hội đồng xét duyệt cấp xã hoặc bệnh viện cấp huyện trở lên xác
nhận.
Bên cạnh chế độ trợ cấp với bản thân đối tượng khuyết tật, luật cũng quy
định quyền lợi cho thân nhân, gia đình và người nhận nuôi người khuyết tật thông
quan chế độ hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng (Khoản 2 Điều 44 Luật người
khuyết tật). Những đối tượng được hỗ trợ kinh phí nuôi người khuyết tật bao gồm:
- Gia đình có người khuyết tật đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôi dưỡng,
chăm sóc người đó.
- Người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng.
- Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng đang mang thai hoặc nuôi con
dưới 36 tháng tuổi.
Luật người khuyết tật quy định phạm vi đối tượng hưởng hỗ trợ kinh phí
nuôi dưỡng mở rộng hơn nhiều so với quy định trước đây. Việc bổ sung thêm 2
nhóm đối tượng là người nhận nuôi dưỡng chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng
và người khuyết tật mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng thể hiện sự tiến bộ
trong xu hướng xã hội hóa thực hiện và sự đảm bảo quyền của bà mẹ trẻ em. Hơn
nữa, luật hiện hành cũng không đưa ra điều kiện về yêu cầu số lượng người khuyết
tật như trong quy định trước đây tại Nghị định 67/2007/NĐ-CP (có từ 02 người
khuyết tật nặng trở lên). Những quy định này cho thấy việc đảm bảo quyền cho
người khuyết tật nói chung và đặc biệt với những người khuyết tật nặng ngày càng
được bảo vệ hơn lên trong quy định của pháp luật về người khuyết tật ở Việt Nam.
Để được hưởng trợ cấp, hỗ trợ hàng tháng đối tượng phải đảm bảo thủ tục
với quy định về hồ sơ, trình tự xin hưởng trợ cấp, hỗ trợ. Hồ sơ của đối tượng bao
gồm: (i) Đơn đề nghị hưởng trợ cấp của đối tượng hoặc gia đình, người thân, người
giám hộ theo mẫu quy định; (ii) Sơ yếu lí lịch của đối tượng hưởng trợ cấp và (iii)
Biên bản họp hội đồng xét duyệt trợ cấp xã hội tại xã, phường, thị trấn hoặc văn
bản xác nhận của bệnh viện cấp huyện trở lên. Trường hợp có ý kiến thắc mắc,
khiếu nại, tố cáo sau khi đã niêm yết danh sách công khai cần có văn bản kết luận
của Hội đồng xét duyệt cấp xã. Hồ sơ được gửi tới ủy ban nhân dân cấp xã xét
duyệt. Trình tự thủ tục xét duyệt hưởng trợ cấp được quy định tại Điều 4 Thông tư

yếu tố hoàn cảnh gia đình. Để đảm bảo công bằng cho đối tượng hưởng, trường
hợp người khuyết tật thuộc diện hưởng các mức khác nhau thì được ưu tiên hưởng
mức cao nhất. Khoản 3 Điều 44 Luật người khuyết tật quy định đối với người
khuyết tật là trẻ em, người cao tuổi được hưởng mức cao hơn đối tượng có cùng
mức độ khuyết tật. Trường hợp đối tượng không đảm bảo được cuộc sống ở cộng
đồng sẽ được xem xét tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội để nuôi dưỡng. Những
đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng khi chết được hỗ trợ chi phí mai tang.
9


Mức chuẩn xác định mức trợ cấp xã hội và hỗ trợ hàng tháng được điều
chỉnh khi mức sống tối thiểu của dân cư thay đổi. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của
địa phương, Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
quy định mức trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí nuôi dưỡng, mai táng phí cho phù hợp
nhưng không thấp hơn mức thấp nhất do Chính phủ quy định. Trên cơ sở đó mức
trợ cấp của người khuyết tật sống ở địa phương được xác định theo quy định của
địa phương và đương nhiên cũng sẽ có sự khác nhau nhất định giữa các địa
phương. Bên cạnh khoản trợ cấp, hỗ trợ từ nguồn tài chính công, Nhà nước cũng
chú trọng tới việc phát huy tối đa khả năng của bản thân đối tượng, gia đình và
cộng đồng trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người khuyết
tật.
4.2. Chế độ nuôi dưỡng người khuyết tật trong cơ sở bảo trợ xã hội
Nuôi dưỡng người khuyết tật tại các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước là
một chế độ nhân đạo và đặc biệt có ý nghĩa đối với đối tượng người khuyết tật.
Theo Điều 45 Luật người khuyết tật, đối tượng người khuyết tật được tiếp nhận
vào cơ sở bảo trợ xã hội chỉ được giới hạn là những đối tượng khuyết tật đặc biệt
nặng, không có nơi nương tựa, không tự lo được cuộc sống tại cộng đồng. Thực tế
cho thấy, hoàn cảnh sống của những đối tượng này vô cùng khó khăn, không có sự
chăm sóc, hỗ trợ thường xuyên hàng ngày, tính mạng họ có thể bị đe dọa.
Để được tiếp nhận đối tượng người khuyết tật vào cơ sở bảo trợ xã hội thì

y tế được thực hiện theo quy định của Luật bảo hiểm y tế. Theo đó, đối tượng này
được Nhà nước đảm bảo 100% kinh phí mua thẻ bảo hiểm y tế từ ngân sách nhà
nước.
Nhìn chung, chế độ nuôi dưỡng đối với người khuyết tật trong cơ sở bảo trợ
tương đối toàn diện với việc đảm bảo các nhu cầu sinh sống tối thiểu, đặc biệt Luật
cũng quy định cụ thể về lợi ích chăm sóc y tế và khám chữa bệnh cho đối tượng
người khuyết tật. Với những đối tượng khuyết tật nặng, đây là một quyền lợi thiết
thực và đặc biệt có ý nghĩa đối với cuộc sống của họ. Bằng hoạt động xã hội hóa
thực hiện, nhà nước khuyến khích thành lập các cơ sở bảo trợ xã hội khác với
những hỗ trợ, ưu đãi nhất định. Hiện nay song song với hệ thống cơ sở bảo trợ xã
hội của nhà nước, hệ thống các cơ sở bảo trợ xã hội của các tổ chức, cá nhân với
mục đích nhân đạo đóng góp vai trò quan trọng trong việc đảm bảo đời sống những
người khuyết tật không thể tự lo liệu được cuộc sống.
11


4.3. Cơ sở chăm sóc người khuyết tật
Cơ sở chăm sóc người khuyết tật là cơ sở nuôi dưỡng, cung cấp dịch vụ tư
vấn, trợ giúp người khuyết tật. Với nội dung hoạt động của mình, các cơ sở chăm
sóc người khuyết tật không chỉ dừng lại ở hoạt động nuôi dưỡng mà chú trọng tới
việc chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng và hòa nhập cộng đồng. Các cơ sở
này đang chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động hòa nhập cộng đồng trên quan
điểm tiến bộ về người khuyết tật. Theo Khoản 2 Điều 47 Luật người khuyết tật, cơ
sở chăm sóc người khuyết tật bao gồm:
- Cơ sở bảo trợ xã hội.
- Cơ sở dịch vụ hỗ trợ người khuyết tật.
- Trung tâm hỗ trợ người khuyết tật sống độc lập.
- Cơ sở chăm sóc người khuyết tật khác.
Đối với những cơ sở chăm sóc người khuyết tật công lập, Nhà nước đảm bảo
đầu tư cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động. Đối với các cơ sở khác ngoài

thẩm quyền ra quyết định thành lập cơ sở bảo trợ xã hội. Luật cũng quy định các
trường hợp tạm đình chỉ, thu hồi giấy chứng nhận đăng kí hoạt động, giải thể các
cơ sở chăm sóc người khuyết tật trong các trường hợp vi phạm pháp luật, không đủ
điều kiện hoạt động…
Điều 48 Luật người khuyết tật quy định các cơ sở phải tuân thủ điều kiện
hoạt động, thực hiện đầy đủ các quy chuẩn về nuôi dưỡng, cung cấp dịch vụ tư
vấn, trợ giúp người khuyết tật tương ứng với từng loại cơ sở. Các cơ sở cũng phải
thực hiện cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất để đảm bảo tiếp cận với đối tượng người
khuyết tật.
Từ góc độ của bảo trợ xã hội, những quy định về cơ sở chăm sóc người
khuyết tật là cơ sở pháp lí quan trọng cho việc đảm bảo thực hiện quyền của người
khuyết tật. Bên cạnh các cơ sở công lập được đảm bảo hoạt động từ kinh phí của
nhà nước, pháp luật cho phép và khuyến khích thiết lập các cơ sở bảo trợ xã hội
ngoài công lập với những điều kiện nhất định hướng tới việc đảm bảo và nâng cao
hơn chất lượng cuộc sống, khắc phục những rào cản ý thức, tâm lý cho người
khuyết tật, giúp họ nhanh chóng hòa nhập cộng đồng.
III. Liên hệ thực tiễn thực hiện chế độ bảo trợ xã hội đối với người
khuyết tật:
Chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật là một trong những chính
sách xã hội thể hiện tính ưu việt của chế độ ta, là một trong những nội dung cơ bản
trong hệ thống an sinh xã hội hiện nay của nước ta. Thực hiện quan điểm, chủ
13


trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước về công tác bảo trợ xã hội,
trong những năm qua cùng với việc tham mưu tổ chức triển khai thực hiện đồng
bộ, có hiệu quả các chính sách trên lĩnh vực Người có công, lĩnh vực lao động thì ở
lĩnh vực xã hội, chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật cũng được tổ
chức thực hiện kịp thời, đồng bộ, đạt được những kết quả quan trọng, đời sống của
đối tượng và gia đình được cải thiện hơn trước, tạo được niềm vui, niềm tin và chỗ

trong cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, nhưng do cơ sở hạ
tầng kinh tế- xã hội của đất nước còn nhiều khó khăn, thiếu nguồn lực bao gồm cả
nhân lực và vật lực để thực hiện ( thiếu đội ngũ y bác sĩ cộng đồng, cơ sở y tế thấp
kém, thiếu giáo viên dạy hòa nhập cung như chuyên biệt, giáo viên dạy nghề; thiếu
cán bộ xã hội ở cơ sở, phương tiện giao thông,... 1 nên có một số lượng lớn đối
tượng người khuyết tật chưa được quan tâm chăm sóc, giúp hòa nhập cộng đồng
một cách tận tình, chu đáo. Về iệc giải quyết chế độ cấp thẻ BHYT cho đối tượng
người khuyết tật, UBND các phường, xã nên thực hiện kịp thời, không để người
dân đi lại nhiều lần, gây tốn kém tiền của và công sức, ảnh hưởng tới quyền lợi của
người khuyết tật.
Công tác tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật như Luật
người khuyết tật 2010; Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 9/3/2000 về chính sách
cứu trợ xã hội, Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ
giúp đối tượng bảo trợ xã hội, Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/2/2010 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/NĐ-CP… cần được tăng cường.
Điều đó cần đến vai trò chủ trì điều phối của ngành Lao Động Thương binh và Xã
hội từ trung ương đến địa phương ở nhiều nơi, sự phối hợp chặt chẽ và linh hoạt
giữa các ngành cũng như sự tích cực tham gia, góp ý của các cơ quan, tổ chức đoàn
thể nhằm đảm bảo quyền lợi cho người khuyết tật khi thực hiện chế độ bảo trợ xã
hội đối với nhóm đối tượng này.
Nhìn chung, tuy có một số bất cập, hạn chế trong việc thực hiện, nhưng có
thể kết luật chế độ bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật của Nhà nước ta hiện
nay là khá tốt, có nhiều tích cực.

KẾT LUẬN
Trên đây, là một số những vấn đề lí luận cũng như thực tiễn pháp lí về chế
độ bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật. Từ những yêu cầu của thực tế thì các
quyền của người khuyết tật đã được thể hiện thành pháp luật và đưa ra để mọi
người cùng thực hiện. Chế độ bảo trợ xã hội có vai trò quan trọng trong việc trợ
giúp người khuyết tật được đảm bảo mọi mặt trong cuộc sống. Không chỉ giúp họ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status