nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 33
Bàn về Chế độ bảo hiểm xã hội
đối với cán bộ xã, phờng, thị trấn
Nguyễn Xuân Thu *
án bộ x, phờng, thị trấn (sau đây
gọi tắt là cán bộ x) là đối tợng
đợc hởng sinh hoạt phí do ngân
sách Nhà nớc cấp theo Nghị định số
09/CP ngày 23/01/1998 của Chính phủ.
Theo Nghị định này, chế độ bảo hiểm x
hội (BHXH) bắt buộc đợc áp dụng đối
với cán bộ x kể từ ngày 01/01/1998 và
trớc mắt mới chỉ áp dụng hai chế độ:
Bảo hiểm hu trí và chế độ mai táng phí
cho cán bộ x. Do vậy, cơ cấu đóng phí
bảo hiểm có những điểm khác so với
những đối tợng bảo hiểm x hội bắt
buộc khác. Cụ thể, theo Điều 4 Nghị định
số 09/CP ngày 23/01/1998 thì hàng
tháng, ngân sách nhà nớc đóng bằng
10% so với tổng quỹ sinh hoạt phí của
cán bộ x tham gia bảo hiểm và cán bộ x
phải đóng bằng 5% tiền sinh hoạt phí của
mình vào quỹ bảo hiểm x hội. Thời gian
cán bộ x làm việc trớc ngày 01/01/1998
không đợc tính là thời gian đ tham gia
sẽ phải chi thêm trên 60 tỉ đồng để đóng
bảo hiểm cho họ. Tất cả những nguồn
kinh phí này sẽ đợc Nhà nớc cân đối
vào ngân sách x.
Để tính trợ cấp cho cán bộ x khi nghỉ
việc phải dựa vào ba điều kiện: Tuổi đời,
thời gian công tác liên tục và thời gian
tham gia bảo hiểm x hội của họ. Cũng
theo Điều 4 Nghị định số 09/CP, nếu nam
đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi, có thời gian
công tác liên tục 15 năm trở lên, có đóng
BHXH đủ 15 năm trở lên thì đợc hởng
chế độ trợ cấp hàng tháng. Cách tính mức
trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ x
giống nh cách tính thông thờng cho các
đối tợng khác. Cụ thể: Mức trợ cấp hàng
tháng của 15 năm đầu bằng 45% mức
sinh hoạt phí bình quân của 5 năm cuối
trớc khi nghỉ; sau đó, cứ thêm một năm
C
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
34 - Tạp chí luật học
công tác và có đóng bảo hiểm thì đợc
tính thêm 2% nhng mức trợ cấp cao nhất
ổn định công việc một cách lâu dài của
cán bộ x không cao. Điều đó đợc
chứng minh rõ nét qua cơ cấu của cán bộ
x là phần lớn họ làm việc theo nhiệm kì
do bầu cử, hết nhiệm kì có thể lại nghỉ
việc. Đặc biệt trong tình trạng hiện nay,
có tới 80% số cán bộ x cha qua đào tạo
cơ bản về chuyên môn, hầu hết họ chỉ
làm việc theo kinh nghiệm và sự tín
nhiệm của nhân dân địa phơng, vì vậy,
khả năng giữ đợc chỗ làm việc lâu dài
(để có thể đáp ứng điều kiện có thời gian
công tác liên tục 15 năm trở lên) lại càng
trở nên khó khăn. Hơn nữa, việc đòi hỏi
cán bộ x phải có thời gian công tác liên
tục từ 15 năm trở lên sẽ tạo ra sự bất hợp
lí, bởi vì có những ngời đủ điều kiện về
tuổi đời và số năm đóng bảo hiểm nhng
vẫn không thuộc đối tợng đợc trợ cấp
hàng tháng vì cha đủ 15 năm công tác
liên tục tính đến thời điểm nghỉ việc.
Theo chúng tôi, để đảm bảo công bằng
trong chính sách bảo hiểm x hội đồng
thời phù hợp với xu thế chung là tạo điều
kiện thuận lợi nhất cho đối tợng đợc
hởng trợ cấp BHXH, Nhà nớc chỉ nên
quy định hai điều kiện: Tuổi đời và số
năm đóng bảo hiểm của cán bộ x.
Thứ hai, so với những đối tợng lao
động khác thì điều kiện về tuổi đời và
phải tiếp xúc với dân để giải quyết những
vấn đề cấp bách, phức tạp và tính rủi ro
cũng rất cao. Nếu xét về tính chất, công
việc của cán bộ x cũng tơng tự công
việc có yếu tố nặng nhọc, nguy hiểm theo
danh mục do Nhà nớc quy định, vì nó
đòi hỏi sự hao phí lớn về thần kinh, cơ
bắp và trí tuệ của cán bộ x. Điều đó
chứng tỏ rằng việc duy trì khả năng lao
động của họ sẽ hạn chế hơn so với những
ngời lao động khác, vì vậy, cần có sự u
tiên về điều kiện tuổi đời cho họ. Vẫn biết
công việc mà họ phải đảm nhận với t
cách là cán bộ x và công việc họ phải
làm với t cách một nhà nông nằm trong
hai mối quan hệ khác nhau nhng đặt
chúng trong mối quan hệ mật thiết với
nhau để có những u tiên nhất định,
chứng tỏ Nhà nớc đ thực sự quan tâm
tới đối tợng đặc biệt này đồng thời tạo
tâm lí yên tâm cho họ công tác, sản xuất
góp phần tích cực vào sự nghiệp phát
triển kinh tế - x hội của Đảng và Nhà
nớc.
Thứ ba, trên thực tế có những trờng
hợp sau khi làm việc một thời gian nhất
định ở cấp x, cán bộ x đợc chuyển lên
làm việc ở cấp huyện, tỉnh hay trung
ơng thì thời gian đ làm việc ở cấp x
(có tham gia BHXH) có đợc tính là điều
dân ), lúc đó đối tợng là cán bộ cấp x
sẽ đợc xếp vào bảng lơng và chế độ
BHXH của công chức Nhà nớc. ở đây,
sẽ nảy sinh hai vấn đề lớn cần phải giải
quyết: Một là, những cán bộ này có tiếp
tục đợc giảm điều kiện về tuổi đời và số
năm đóng bảo hiểm nh hiện nay không?
hai là, thời gian tính từ 01/01/1998 đến
thời điểm xếp họ vào chế độ bảo hiểm
chung có đơng nhiên đợc tính là thời
gian đ tham gia bảo hiểm cho cả 5 chế
độ hay không? Vì cách tính này sẽ ảnh
hởng trực tiếp đến chế độ trợ cấp ốm
đau của ngời lao động và chế độ tiền
tuất sau này của thân nhân ngời lao
động đó. Theo chúng tôi, Nhà nớc nên
giải quyết hai vấn đề này theo hớng có
lợi cho ngời lao động. Tức là vẫn phải
tiếp tục nghiên cứu để giảm điều kiện về
tuổi đời và số năm đóng bảo hiểm cho họ
ở mức độ hợp lí (với những lí do đ trình
bày ở trên) và thời gian trớc khi chuyển
họ vào chế độ BHXH nói chung nên tính
(xem tiếp trang 39)