Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại Phòng Nội vụ UBND Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Phần 1: BÁO CÁO TÌNH HÌNH THỰC TẬP
I.GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHƯƠNG TRÌNH THỰC TẬP
Thực hiện quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo được ban hành bởi Quyết định
số: 04/QĐ-BGD&ĐT ngày 11 tháng 02 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo về việc ban hành quy chế tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt
nghiệp đại học và cao đẳng hệ chính quy và Quyết định số: 1918/QĐ-HCQG ngày
30 tháng 12 năm 2005 của Giám đốc Học Viện Hành Chính Quốc Gia về việc ban
hành quy chế tổ chức kiếm tập, thực tập cho sinh viên Đại học Hành chính hệ
chính quy; phòng đào tạo Học Viện Hành Chính cơ sở Thành Phố Hồ Chí Minh đã
tổ chức cho sinh viên các lớp Đại học Hành chính hệ chính quy KS6 thực tập theo
kế hoạch như sau:
1.Thời gian thực tập:
Thời gian thực tập từ ngày: 16/03/2009 đến ngày 15/05/2009 gồm:
07 tuần thực tập tại cơ quan (Phòng Nội vụ Ủy ban nhân dân Huyện Quỳnh
Lưu – Khối 3, Thị trấn Cầu giát, Quỳnh Lưu, Nghệ An).
01 tuần viết Báo cáo Thực tập.
Thời gian phân bổ cụ thể như sau:
Tuần 1 và 2:
Tiếp cận công việc, nghiên cứu tổng quan về cơ quan thực tập, chỉnh sửa hoàn
thiện đề cương BCTT theo hướng dẫn của Giảng viên.
Tuần 3 và 4:
Nghiên cứu tài liệu, tiếp cận cơ cấu tổ chức bộ máy của cơ quan, nghiên cứu
các Văn bản tổ chức bộ máy chính quyền, văn bản quy định về tổ chức quản lý cán
bộ, công chức xã, thị trấn.
Tuần 5 và 6:
Thực hiện công tác thống kê chất lượng cán bộ, công chức xã, thị trấn tại 43
xã, thị trấn của UBND Huyện Quỳnh Lưu.
Giúp cô chú soạn thảo văn bản quản lý nhà nước, sắp xếp hồ sơ cán bộ, công chức.
Đi thực tế ở UBND xã Quỳnh Phương, xã Quỳnh lương, Thị Trấn Cầu giát…,
xem xét về thực tiễn làm việc, đánh giá chất lượng cán bộ,
tây nam Quỳnh Lưu giáp với Diễn Châu và huyện Yên Thành với ranh giới khoảng
31km. Vùng phía nam của huyện Quỳnh Lưu có chung khu vực đồng bằng với hai
huyện Diễn Châu và Yên Thành (thường gọi là đồng bằng Diễn-Yên-Quỳnh). Phía
tây, huyện Quỳnh Lưu giáp huyện Nghĩa Đàn với ranh giới khoảng 33km được
hình thành một cách tự nhiên bằng các dãy núi kéo dài liên tục mà giữa chúng có
SVTH: Phan Văn Hiếu – lớp KS6C – Học Viện Hành Chính Trang 2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại Phòng Nội vụ UBND Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
nhiều đèo thấp tạo ra những con đường nối liền hai huyện với nhau. Phía đông,
huyện Quỳnh Lưu giáp biển Đồng. Đã có bài thơ mô tả cảnh núi non trùng điệp,
nhấp nhô của huyện Quỳnh Lưu như sau:
“Nghệ, Thanh phân giới từ đây,
Đón đưa núi nọ non này gần xa
Đường mây văng vẳng tiều ca
Líu lo chim nói gió hoà đìu hiu
Nhấp nhô đá dựng giữa đèo,
Trời Nam mảnh biếc một chiều giăng ngang”.
(Lê Hữu Trác – Phó bảng Phan Võ dịch)
Về núi:
- Núi Trụ Hải ở địa phận xã Quỳnh Lâm cũ, nay thuộc xã Quỳnh Văn
- Núi Bào Đột ở địa phận xã Bào Giang cũ, nay là xã Quỳnh Lâm.
- Núi Tùng Lĩnh còn gọi là núi Rừng Thông ở xã Quỳnh Tụ cũ nay là xã
Quỳnh Xuân và Quỳnh Văn.
- Núi Thất Tinh
- Núi Long Sơn ở địa phận làng Nhân Sơn thuộc xã Quỳnh Hồng
- Núi Qui Lĩnh ở trên bờ biển thuộc xã Hiền Lương cũ này là xã Quỳnh Lương
và Quỳnh Bảng.
- Núi Tiên Kỳ hay còn gọi là núi Cờ Tiên cũng nằm trên bờ biển thuộc xã Hoàn
Nghĩa nay là Tiến Thuỷ.
- Núi Xước thuộc địa phận xã Quỳnh Lộc và Quỳnh Lập
- Gò Điệp ở xã Quỳnh Văn
Suốt thiên niên kỷ thứ nhất đến đầu thiên niên kỷ thứ hai, cư dân trên địa bàn
Quỳnh Lưu đã lan dần từ vùng bán sơn địa phía tây và phía tây bắc xuống các cồn
gò, các rệ đất ven núi, ven đồi. Nước biển lùi đến đâu, họ đắp đập ngăn mặn đến
đó, lập trang trại đến đó.
Suốt cả đời Lý và đời Trần là thời gian mà tiền nhân của cư dân Quỳnh Lưu
hiện tại đã chế ngự thiên nhiên, tích cực kinh dinh đất Quỳnh Lưu ở vùng giữa và
vùng hạ huyện. Đây là thời gian không chỉ Quỳnh Đôi ra đời mà Quỳnh Yên, An
Hoà, Quỳnh Hồng, Quỳnh Bảng, Quỳnh Giang, Quỳnh Diễn, Quỳnh Châu, Quỳnh
Thạch, Quỳnh Mỹ, Sơn Hải, Quỳnh Hưng, Quỳnh Bá, đều có người cư trú. Như
vậy, vào cuối đời Trần, tuy còn thưa thớt nhưng khắp địa bàn Quỳnh Lưu đều có
cư dân sinh sống.
Từ đời Lê trở về sau, trên địa bàn Quỳnh Lưu việc khai khẩn được đẩy mạnh
hơn. Song dù là người ở ngoài Bắc vào hay là người từ các làng xã cũ ở Quỳnh
Lưu san ra, cũng chỉ là chen vào những vùng đồng bằng nước mặn, dân cư thưa
thớt như Phú Minh (Quỳnh Minh) là từ Thổ Đôi xuống; Hiền Lương (Quỳnh
Lương) là từ Cự Tân sang.
Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, cư dân Quỳnh Lưu lại có hiện tượng
ngược lại: Là không từ miền Tây hay Tây Bắc xuống nữa mà các xã vùng giữa và
vùng biển lại chuyển cư lên để lập xã mới. Chưa kể những xã có hiện tượng “đắm
dân”, bốn xã mới đã ra đời là: Quỳnh Thắng, Quỳnh Tân, Ngọc Sơn, Tân Sơn.
Điều này là do tăng trưởng dân số, xong cũng là còn là do tiến bộ của khoa học kỹ
thuật, con người chế ngự thiên nhiên được mạnh mẽ hơn.
Trong cư dân Quỳnh Lưu, ngoài người bản địa, còn có người từ Trung Quốc
sang mà rõ nhất là họ Hồ từ đời Hồ Hưng Dật, có người từ ngoài Bắc từ Thanh
SVTH: Phan Văn Hiếu – lớp KS6C – Học Viện Hành Chính Trang 4
Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại Phòng Nội vụ UBND Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Hoá vào, có người từ Hà Tĩnh ra hay các huyện khác ở Nghệ An đến. Có người
Việt, có bà con dân tộc ít người (người Man Thanh). Họ đến Quỳnh Lưu vào nhiều
thời điểm khác nhau với nhiều lý do khác nhau nhưng giờ đây thời gian đã xoá
nhoà gốc gác xa xưa của họ. Họ chỉ biết mình là người Quỳnh Lưu, đi đâu, ở đâu
Phong…
- Chạm trổ tủ, sập, bàn, ghế,…Phú Nghĩa Thượng, Phú Nghĩa Hạ
- Làm thuốc lào: Thanh Sơn (Ngò), Ngọc Đoài, Song Ngọc, Thuận Yên, Đình
Đỏ, Dị Nậu,…
- Chế biến ruốc: Đông Hồi, Hữu Lập…
SVTH: Phan Văn Hiếu – lớp KS6C – Học Viện Hành Chính Trang 5
Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại Phòng Nội vụ UBND Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
2. Vị trí Pháp lí
Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện Quỳnh Lưu là cơ quan chấp hành của Hội
đồng nhân dân (HĐND) Huyện, cơ quan hành chính nhà nước ở Huyện.
UBND Huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước; nhiệm vụ, quyền hạn
theo quy định của hiến pháp, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
(HĐND – UBND) năm 2003, các Quy định của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội,
Chính phủ và phân công phân cấp quản lý của Uỷ ban nhân dân tỉnh.
UBDN Huyện là cơ quan hành chính nhà nước cấp trên của UBND 43 Xã, thị
trấn thuộc Huyện.
UBDN Huyện tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Chủ
tịch UBND là người đứng đầu UBDN, lãnh đạo, điều hành hoạt động của UBDN.
Chủ tịch UBDN phân công công tác cho các phó chủ tịch và các thành viên khác
của UBDN. Từng thành viên UBDN chịu trách nhiệm cá nhân trong việc tổ chức
điều hành lĩnh vực được phân công, chịu trách nhiệm trước Chủ tịch và cùng với
các thành viên khác chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của UBDN trước Huyện
Uỷ, HĐND Huyện và UBDN tỉnh.
UBND Huyện có các cơ quan chuyên môn, đơn vị thuộc Huyện tham mưu
giúp UBDN Huyện thực hiện các chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và
thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBDN Huyện theo
quy định của pháp luật.
UBDN Huyện Quỳnh Lưu thực hiện chế độ sử dụng một con dấu Quốc huy.
Số lượng, cơ cấu các thành viên UBDN Huyện thực hiện theo quy định của
chính phủ và UBDN Tỉnh.
cùng chủ tịch và tập thể UBDN nâng cao chất lượng chỉ đạo và điều hành công
việc có hiệu quả.
Các Uỷ viên UBDN là thành viên UBDN có trách nhiệm tập thể cùng UBDN
và Chủ tịch UBDN Huyện chỉ đạo và điều hành công việc chung của UBDN theo
quy định tại điều 126 luật tổ chức HĐND – UBDN năm 2003 cụ thể:
Nghiên cứu tài liệu chuẩn bị ý kiến tham gia giải quyết những vấn đề thuộc
thẩm quyền của UBDN Huyện trên nguyên tắc tâp trung dân chủ chấp hành kỷ luật
phát ngôn, bảo quản tài liệu, không tiết lộ bí mật theo quy định của nhà nước.
Tham gia ý kiến với các thành viên khác của UBDN để xử lý những vấn đề
liên quan đến lĩnh vực mình phụ trách.
Giải quyết hoặc tham gia ý kiến với UBDN hoặc Chủ tịch UBDN giải quyết
các vấn đề khác.
Được Chủ tịch UBDN ủy nhiệm một số quyền hạn, thay mặt UBDN phối hợp,
liên hệ các cơ quan chuyên môn cấp trên, chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, đơn vị
thộc Huyện và UBDN xã để giải quyết công việc thuộc khối mình phụ trách; chịu
sự chỉ đạo của Chủ tịch UBDN huyện và chịu trách nhiệm cá nhân trước tập thể
UBDN và Chủ tịch UBDN về kết quả công việc được phân công phụ trách.
Uỷ viên UBDN đồng thời là thủ trưởng các cơ quan chuyên môn trực thuộc
UBDN Huyện làm việc với hai tư cách: một là thành viên UBDN, hai là thủ trưởng
các cơ quan chuyên môn giúp việc UBDN.
SVTH: Phan Văn Hiếu – lớp KS6C – Học Viện Hành Chính Trang 7
Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại Phòng Nội vụ UBND Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
III. TỔNG QUAN VỀ PHÒNG NỘI VỤ - ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN
QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
1. Chức năng, Nhiệm vụ, Quyền hạn.
Chức năng
Phòng Nội vụ là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, thành
phố, thị xã thuộc tỉnh ( sau đây gọi chung là UBDN huyện) là cơ quan tha mưu,
giúp UBDN huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: tổ chức,
bộ máy, biên chế các cơ quan hành chính, sự nghiệp nhà nước; cải cách hành
SVTH: Phan Văn Hiếu – lớp KS6C – Học Viện Hành Chính Trang 8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại Phòng Nội vụ UBND Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
b) Giúp UBDN huyện hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử dụng biên chế
hành chính, sự nghiệp;
c) Giúp UBDN huyện tổng hợp chung việc thực hiện các quy định về chế độ
tự chủ, tụ chịu trách nhiệm đối với các cơ quan chuyên môn, tổ chức sự nghiệp cấp
huyện và ủy ban nhân dân cấp xã.
6. Về công tác xây dựng chính quyền:
a) Giúp UBDN huyện và các cơ quan có thẩm quyền tổ chức thực hiện việc
bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân theo phân công của UBDN
huyện và hướng dẫn của cơ quan chuyên môn cấp trên;
b) Thẩm định các hồ sơ, thủ tục để Chủ tịch UBDN huyện phê chuẩn kết quả
bầu cử các thành viên Uỷ ban nhân dân cấp xã; giúp UBDN huyện trình Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân tỉnh phê chuẩn kết quả bầu cử các thành viên UBDN huyện theo
quy định của pháp luât;
c) Tham mưu, giúp UBDN huyện xây dựng đề án thành lập mới, sát nhập,
chia tách, điều chỉnh địa giới hành chính trên địa bàn để Uỷ ban nhân dân trình Hội
đồng nhân dân cùng cấp thông qua trước khi trình các cấp có thẩm quyền xem xét,
quyết định. Chịu trách nhiệm quản lý hồ sơ, mốc, chỉ giới, bản đồ địa giới hành
chính của huyện.
d) Tham mưu giúp UBDN huyện lập hồ sơ và trình cấp có thẩm quyền quyết
định phân loại đơn vị hành chính cấp xã, cấp huyện;
e) Giúp UBDN huyện trong việc hướng dẫn lập hồ sơ và trình cấp có thẩm
quyền quyết định thành lập, chia tách, giải thể, sát nhập và kiểm tra, tổng hợp báo
cáo về hoạt động của xóm, khối, bản ( sau đây gọi là xóm) trên địa bàn huyện theo
quy định; bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, chuyên môn, nghiệp vụ cho
Trưởng, Phó xóm;
g) Tham mưu giúp HĐND và UBDN huyện trong công tác đào tạo, bồi dưỡng
đại biểu HĐND cấp huyện, cấp xã, thống kê, đánh giá chất lượng đại biểu HĐND,
thành viên UBDN huyện, xã; thống kê chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên trách,
độ, quy định của pháp luật về công tác văn thư, lưu trữ;
b) Hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn, nghiệp vụ về thu nhập, bảo vệ, bảo quản
và tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ đối với các cơ quan, đơn vị trên địa bàn huyện
và Lưu trữ huyện.
12. Về công tác tôn giáo:
a) Giúp UBDN huyện chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ; kiển tra,
giám sát và tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo trên địa bàn;
b) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chuyên môn cùng cấp để thực hiện nhiệm
vụ quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn theo phân cấp của Uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh và theo quy định của pháp luật.
13. Về công tác thi đua, khen thưởng:
a) Tham mưu, đề xuất với UBDN huyện tổ chức các phong trào thi đua và
triển khai thực hiện chính sách khen thưởng của Đảng và Nhà nước trên địa bàn
huyện; làm nhiệm vụ thường trực của Hội đồng thi đua – khen thưởng cấp huyện;
b) Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện kế
hoạch, nội dung thi đua, khen thưởng theo quy định của pháp luật;
c) Tổ chức sơ kết, tổng kết, phát hiện điển hình, đút rút và phổ biến kinh
nghiệm; nhân rộng phong trào thi đua và các điển hình tiên tiến trong toàn huyện,
tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho các đối
tượng thuộc phạm vi quản lý;
SVTH: Phan Văn Hiếu – lớp KS6C – Học Viện Hành Chính Trang 10
Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại Phòng Nội vụ UBND Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
d) Quản lý, cấp phát hiện vật khen thưởng của huyện theo phân cấp quản lý.
14. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết các khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm
về công tác nội vụ theo thẩm quyền.
15. Thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo Chủ tịch UBDN huyện và
Giám đốc Sở Nội vụ về tình hình, kết quả triển khai công tác nội vụ trên địa bàn.
16. Tổ chức triển khai, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; xây dựng hệ
thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác quản lý nhà nước về công tác nội vụ trên
SVTH: Phan Văn Hiếu – lớp KS6C – Học Viện Hành Chính Trang 11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại Phòng Nội vụ UBND Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
c) Việc bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, miễn nhiệm,
từ chức, thực hiện chế độ, chính sách đối với Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng do
Chủ tịch UBDN huyện quyết định theo quy định của pháp luật.
2.2. Biên chế: Biên chế của Phòng Nội vụ do Chủ tịch UBDN huyện quyết
định trong tổng biên chế hành chính của huyện.
Trưởng Phòng Nội vụ có trách nhiệm tham mưu cho Chủ tịch UBDN cấp
huyện quyết định về cơ cấu tổ chức, biên chế của phòng. Sơ đồ tổ chức của Phòng
Nội vụ - Uỷ ban nhân dân huyện Quỳnh Lưu:
Phòng Nội vụ UBDN huyện Quỳnh Lưu có 1 Trưởng phòng, 2 Phó phòng và 3
nhân viên.
SVTH: Phan Văn Hiếu – lớp KS6C – Học Viện Hành Chính Trang 12
Trưởng phòng
Phó phòng 2
Nhân viên 1
Phó phòng 1
Nhân viên 3Nhân viên 2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại Phòng Nội vụ UBND Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Phần 2: BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XÃ, THỊ
TRẤN CỦA HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
Đặt vấn đề: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhưng đội ngũ cán bộ
có vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của tiến trình cách mạng. Sinh thời
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: “Cán bộ là nguồn gốc của mọi việc, công việc
thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay xấu”.
Thực tiễn cách mạng Việt nam từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã
đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đánh thắng nhiều
đế quốc hung bạo của thời đại, giành lại độc lập tự do, thống nhất tổ quốc đưa cả
nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, công cuộc đổi mới toàn diện của
An”. Làm đề tài báo cáo thực tập tốt nghiệp.
SVTH: Phan Văn Hiếu – lớp KS6C – Học Viện Hành Chính Trang 13
Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại Phòng Nội vụ UBND Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XÃ, THỊ TRẤN
I. KHÁI NIỆM VỀ CÁN BỘ CÔNG CHỨC
1. Cán bộ, công chức nói chung
Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan
nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương,cấp tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương, ở quận, huyện, thị xã trực thuộc tỉnh.
Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường
xuyên làm việc trong tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện.
Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch công chức hoặc giao gữi
một chức vụ thường xuyên trong đơn vị hành chính sự nghiệp nhà nước, tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị xã hội.
Thẩm phán toàn án nhân dân, kiểm sát viên kiểm sát nhân dân.
Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường
xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải
là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, quân nhân quốc phòng; những người làm
việc trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan
chuyên nghiệp.
Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường
trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Bí thư, phó bí thư đảng ủy, người đứng
đầu tổ chức chính trị - xã hội, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã).
Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp
vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã.
Như vậy, cán bộ công chức đảm nhận các chức vụ Đảng, Chính quyền, tổ
chức chính trị xã hội và đảm nhiệm một số lĩnh vực chuyên môn phải đảm bảo tiêu
chuẩn có năng lực lãnh đạo, quản lý, có trình độ, kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ,
có đạo đức phẩm chất tốt được tổ chức và nhân dân tín nhiệm bầu cử, bổ nhiệm để
thay mặt tổ chức và nhân dân xử lý, giải quyết các công việc theo quy định của
Thủ quỹ - văn thư – lưu trữ
Cán bộ quản lý nhà văn hóa
Phó chủ tịch ủy ban mặt trận tổ quốc , Phó các đoàn thể cấp xã, đoàn thanh
niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân, Hội cựu chiến
binh.
Chủ tịch Hội Người cao tuổi, Chủ tịch Hội chữ Thập đỏ Việt Nam.
d. Cán bộ không chuyên trách ở thôn và Bí thư chi bộ, tổ trưởng dân phố
ở phường, thị trấn.
3. Công tác quản lý cán bộ, công chức
Tại điều 4, pháp lệnh Cán bộ công chức sửa đổi năm 2003 ghi rõ: “Công tác
cán bộ công chức đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng cộng sản Việt Nam,
đảm bảo nguyên tắc tập thể, dân chủ đi đôi với phát huy trách nhiệm của người
đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị”. Bởi lý luận và thực tiễn khẳng định: Đảng
cộng sản Việt Nam là tổ chức chính trị lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội Việt
Nam. Quyền lực của Đảng là quyền lực chính trị mà giai cấp công nhân và nhân
dân lao động đã giao phó. Quyền lực đó thể hiện ở chỗ: các cơ quan nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị theo chức năng của mình đều
phải có trách nhiệm thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chính sách của Đảng, chịu
SVTH: Phan Văn Hiếu – lớp KS6C – Học Viện Hành Chính Trang 15
Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại Phòng Nội vụ UBND Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
sự kiểm tra, giám sát của tổ chức Đảng các cấp trong việc cụ thể hóa và tổ chức
thực hiện các quan điểm, đường lối đó.
Mặt khác, Đảng thống nhất lãnh đạo vá quản lý cán bộ trong hệ thống chính
trị từ Trung ương đến cơ sở theo Quyết định số 49-QĐ/TW ngày 03-5-1999 của
Bộ chính trị về việc ban hành quy chế phân cấp quản lý cán bộ công chức và tổ
chức bộ máy.
Trên cơ sở quy định của Bộ chính trị, ban thường vụ cấp ủy các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương, ban thường vụ các Huyện ủy, Thành Uỷ trực thuộc
tỉnh và ban thường vụ các đảng ủy xã, thị trấn (hoặc đảng ủy – nơi không có ban
thường vụ) đều xây dựng và ban hành quy chế phân cấp quản lý cán bộ công chức
nghĩa xã hội, có năng lực tổ chức và vận động nhân dân có kết quả đường lối của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, thạo việc, tận tụy với dân, không tham
nhũng, có ý thức kỷ luật trong công tác, trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết
với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm.
Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm của Đảng, chính sách và
pháp luậy của Nhà nước, có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực sức khỏe
để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Ngoài ra cán bộ, công chức xã, thị trấn phải đảm bảo tiêu chẩn cụ thể do cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền quy định.
II. CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁN Bộ, CÔNG CHỨC XÃ, PHƯỜNG, THỊ
TRẤN
1. Nội dung quản lý cán bộ, công chức cấp xã
Nghị định 114/2003-NĐ/CP ngày 10-3-2003 quy định nội dung quản lý cán
bộ cấp xã như sau:
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, điều lệ, quy
chế về quản lý cán bộ, công chức.
- Lập quy hoạch và kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ công chức.
- Quy định chức danh và tiêu chuẩn cán bộ công chức.
- Quy định số lượng cán bộ công chức cấp xã và hướng dẫn thực hiện.
- Tổ chức thực hiện việc quản lý, sử dụng và phân cấp quản lý cán bộ, công
chức.
- Đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá cán bộ, công chức.
- Chỉ đạo tổ chức thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ chính sách đãi
ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức.
- Thực hiện công tác thống kê cán bộ, công chức, thực hiện công tác thanh tra
kiển tra việc thi hành quuy định về cán bộ, công chức.
- Chỉ đạo, tổ chức giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với cán bộ, công chức.
2.Nội dung quản lý cán bộ công chức cấp xã của Uỷ ban nhân dân huyện
Uỷ ban nhân dân cấp huyện quản lý cán bộ, công chức cấp xã theo các nội
- Nội dung công tác quản lý cán bộ, công chức xã, phường thể hiện mối quan
hệ bảo đảm sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng về công tác cán bộ và trách nhiệm
quản lý trực tiếp đối với đội ngũ cán bộ,công chức thể hiện sự phân cấp rõ
ràng, cụ thể của cấp cơ sở và cấp trên cơ sở.
- Để thực hiện tốt công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, trước hết cấp
ủy Đảng các cấp phải cụ thể hóa bằng quy chế phân cấp quản lý cán bộ,
công chức trên cơ sở thống nhất sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng và phát huy
vai trò quản lý trực tiếp của Uỷ ban nhân dân các cấp. Thực hiện đúng
nguyên tắc tập trung dân chủ tập thể và trách nhiệm của người đứng đầu
trong công tác quản lý cán bộ, công chức.
- Thực hiện công tác quản lý cán bộ, công chức trên cơ sở quy hoạch cán bộ,
kế hoạch đào tạo, bố trí cán bộ, xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá, nhận
xét cán bộ, công chức, lấy thước đo hiệu quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ
SVTH: Phan Văn Hiếu – lớp KS6C – Học Viện Hành Chính Trang 18
Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại Phòng Nội vụ UBND Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
được giao làm yếu tố cơ bản trong đánh giá cán bộ, công chức tốt hay chưa
tốt.
SVTH: Phan Văn Hiếu – lớp KS6C – Học Viện Hành Chính Trang 19
Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại Phòng Nội vụ UBND Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XÃ, THỊ
TRẤN Ở HUYỆN QUỲNH LƯU – TỈNH NGHỆ AN
I.THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XÃ, THỊ TRẤN Ở
HUYỆN QUỲNH LƯU – TỈNH NGHỆ AN:
1. Số lượng cán bộ, công chức xã, thị trấn
Trong những năm gần đây, thực hiện bước chuyển biến mới về cán bộ, công
chức xã, thị trấn, số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức ngày càng
được nâng lên rõ rệt. Đặc biệt trong năm 2004 và 2005, thực hiện Nghị định 114
và 121 của Chính phủ, tỉnh Nghệ An nói chung và huyện Quỳnh lưu nói riêng đã
sắp xếp, bố trí cán bộ cấp xã cơ bản đủ tiêu chuẩn theo quy định. Đã chỉ đạo,
hướng dẫn các huyện, thành phố triển khai thực hiện thông qua việc rà soát đối
- Trên 55: 15/860 chiếm 1,74%
Trình độ văn hóa:
- Tiểu học: 0/860 chiếm 0%
- Trung học cơ sở: 55/860 chiếm 6,4%
- Trung học phổ thông: 805/860 chiếm 93,6%
Trình độ lý luận chính trị:
- Sơ cấp:
- Trung cấp: 305 chiếm 35,5%
Trình độ chuyên môn:
- Trung cấp, cao đẳng: 330/860 chiếm 38,4%
- Đại học: 72/860 chiếm 8,4%
Qua bảng số liệu về trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức cấp xã chúng
ta thấy trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức xã, thị trấn của huyện Quỳnh
Lưu là đang còn thấp. Chủ yếu là ở trình độ trung cấp, thậm chí một số cán bộ
chưa qua một lớp bồi dưỡng nào về chuyên môn. Trong năm 2005 căn cứ vào đề
án tuyển dụng công chức cấp xã đã được Sở Nội vụ phê duyệt, Phòng Nội vụ
huyện đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện và là cơ quan chuyên môn trực
tiếp tổ chức xét tuyển, thi tuyển công chức cấp xã và đã tuyển dụng được một số
cán bộ có trình độ chuyên môn đại học. Hiện nay hầu hết ở các xã đều có công
chức có trình độ đại học làm việc. Tuy nhiên. Do mới bưới đầu làm quen với công
việc nên một số công chức đã chưa bắt nhịp được với công việc và hoàn thành
nhiệm vụ được giao chưa cao.
Thực tế đã cho thấy rằng, công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ, chuẩn hóa, trẻ
hóa công chức cấp xã đã có nhiều cố gắng. Nhưng so với yêu cầu cán bộ vẫn chưa
được đáp ứng.
Nhìn chung, trình độ mọi mặt: Văn hóa, về Lý luận, về chuyên môn nghiệp vụ
còn rất hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn cán bộ, công chức trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hóa theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII)
và kết luận Trung ương 6 (khóa IX). Do đó, khả năng nắm bắt và vận dụng các
quan điểm đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước vào lãnh đạo, chỉ
4. Chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức xã, thị trấn
Tuỳ từng hoàn cảnh cụ thể trong từng giai đoạn, Đảng và Nhà nuớc ta có
những chế độ, chính sách khác nhau đối với cán bộ cơ sở. Nhìn chung, các chế độ,
chính sách đã thể hiện sự quan tâm, chăm lo của Đảng và Nhà nước đến đội ngũ
cán bộ, công chức cơ sở, tạo điều kiện để họ phát huy trí lực, hoàn thành nhiệm vụ.
Từ khi thực hiện chế độ cán bộ, công chức cấp xã theo quy định mới (Nghị định số
121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với
cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn) chế độ, chính sách đối với cán bộ, công
chức cấp xã đã có những thay đổi khác biệt so với chế độ sinh hoạt phí trước đây
theo Nghị định 09/1998/NĐ-CP của chính phủ. Thực hiện theo chế độ, chính sách
theo quy định mới đã tạo cho cán bộ cơ sở tâm lý ổn định, yên tâm công tác, tạo
điều kiện cho họ ý thức được trách nhiệm của mình và hoàn thành tốt nhịêm vụ
được giao.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ về lý luận chính trị, chuyên
môn, quản lý hành chính nhà nước và bồi dưỡng theo các chức danh đồi với cán
bộ, công chức cấp xã đang được các cấp Uỷ Đảng, chính quyền quan tâm đúng
mức.
chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở được quy định cụ thể, rõ ràng
nhằm khuyến khích, động viên cán bộ cơ sở nâng cao trình độ, năng lực công tác,
đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới hiện nay.
SVTH: Phan Văn Hiếu – lớp KS6C – Học Viện Hành Chính Trang 22
Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại Phòng Nội vụ UBND Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Chuyển xếp vào ngạch, bậc lương chuyên môn đối với công chức cấp xã.
Sau khi rà soát, bố trí công chức cấp xã, uỷ ban nhân dân các xã, thị trấn lập
danh sách đề nghị chuyển xếp ngạch, bậc lương chuyên môn đối với công chức
cấp xã kèm hồ sơ công chức báo cáo uỷ ban nhân dân huyện qua phòng Nội vụ.
Phòng Nội vụ tham mưu cho Uỷ ban nhân dân huyện tổng hợp đề nghị
chuyển xếp ngạch, bậc lương công chức xã kèm theo hồ sơ gửi về Sở Nội vụ thẩm
định, xếp ngạch, bậc lương bằng văn bản trước khi Uỷ ban nhân dân huyện ra
quyết định bổ nhiệm, xếp ngạch, bậc lương đối với công chức cấp xã.
phương nên tuyển dụng công chức một số xã thừa chức danh này nhưng
một số xã lại thiếu chức danh khác.
SVTH: Phan Văn Hiếu – lớp KS6C – Học Viện Hành Chính Trang 23
Báo cáo thực tập tốt nghiệp tại Phòng Nội vụ UBND Huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN
LÝ CỦA PHÒNG NỘI VỤ ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC XÃ, THỊ
TRẤN Ở HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
1.Tiếp tục thực hiện tồt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
trình độ căn hoá, trình đô lý luận và chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán
bộ công chức xã, thị trấn.
Thông qua phong trào hành động cách mạng của các đoàn thể chính trị - xã
hội, phong trào sản xuất kinh doanh dịch vụ của quần chúng để giới thiệu, lựa chọn
những thanh niên, đoàn viên tiên tiến, tiêu biểu về phẩm chất đạo đức, dám nghĩ,
dám làm, có ý chí vươn lên làm giàu hợp pháp để đưa vào quy hoạch tạo nguồn
cán bộ, công chức ở cơ sở xã, thị trấn.
Lựa chọn, quy hoạch, tạo nguổn cán bộ phải thực sự đảm bảo dân chủ, công
tâm, đảm bảo sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng về công tác cán bộ, chống tư tưởng
chục bộ, bàn vị, cầu toàn trong thực hiện quy hoạch.
Mặt khác, cấp uỷ Đảng, chính quyền các cơ sở xã, thị trấn cần có chính sách
để thu hút đội ngũ sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng, sinh viên đã tốt
nghiệp đại học, cao đẳng chưa tìm được việc làm bổ sung nguồn cán bộ, công
chức.
Công tác quy hoạch phải gắn với công tác đào tạo và sử dụng cán bộ. Qua
thực trạng, đội ngũ cán bộ cơ sở hiện nay còn rất nhiều bất cập cả về tuổi đời, cả về
trình độ và năng lực công tác. Vì vậy, công tác quy hoạch đào tạo phải gắn với việc
tuyển dụng, sử dụng, thay thế, tạo nguồn kế cận. Tránh tình trạng đào tạo mà
không sử dụng gây lãnh phí nguồn lực, gây tâm lý không yên tâm, không muốn
gắn bó với địa phương.
Trước mắt, các cấp Uỷ Đảng, chính quyền xã, thị trấn trên xơ sở tiêu chuẩn
cán bộ, công chức, quy định tại Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16-01-2004
chức của từng địa phương.
Tiếp tục sắp xếp, bố trí đội ngũ cán bộ công chức, phù hợp đủ số lượng, có
phẩm chất năng lực thực thi công vụ, thạo việc, tận tuỵ phục vụ nhân dân.
Xiết chặt kỷ cương, kỷ luật hành chính; xây dựng và áp dụng chế độ thanh tra,
kiểm tra công chức, công vụ ở các cấp kể cả trách nhiệm của người đứng đầu cơ
quan, đơn vị.
Xây dựng và ban hành kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên
chức cho từng năm.
Nâng cao năng lực hệ thống các trường và các trung tâm đào tạo - bồi dưỡng
cán bộ, công chức, viên chức, viên chức của tỉnh, huyện.
Trang bị đồng bộ các công cụ quản lý nguồn nhân lực bằng công nghệ thông
tin.
2. Xây dựng quy chế làm việc, quy chế phân cấp quản lý cán bộ, quy chế
nhận xét, đánh giá cán bộ hàng năm. Thực hiện nghiệm túc chế độ khen
thưởng, bãi nhiệm, miễn nhiệm đối với đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở.
Cơ quan quản lý cán bộ, công chức cấp huyện có kế hoạch chỉ đạo các ban,
phòng tham mưu về công tác tổ chức và cán bộ hướng dẫn xây dựng quy chế làm
việc của cấp ủy, chính quyền, các mối quan hệ giữa cấp ủy, chính quyền, các đoàn
thể chính trị - xã hội. Cấp ủy Đảng các xã, thị trấn căn cứ hướng dẫn xây dựng
được quy chế làm việc của cấp ủy, của ủy ban nhân dân, của các đoàn thể,… một
cách dân chủ, thiết thực để thực hiện, tránh sự chồng chéo, bao biện và né tránh
nhiệm vụ trong các tổ chức ở cơ sở.
Cấp ủy các cơ sở Đảng xây dựng quy chế phân định trách nhiệm trong tổ chức
quản lý cán bộ, công chức, giữa Đảng ủy, Uỷ ban nhân dân. Trên cơ sở đó thực
hiện đánh giá, nhận xét, đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng những cán bộ,
công chức có thành tích cao trong công tác. Thực hiện miễm nhiệm, bãi nhiệm
những cán bộ, công chức làm việc cầm chừng, trách nhiệm và hiệu quả thấp, có
SVTH: Phan Văn Hiếu – lớp KS6C – Học Viện Hành Chính Trang 25