QUYỀN của TRẺ EM KHUYẾT tật tại VIỆT NAM - Pdf 32

QUYỀN CỦA TRẺ EM KHUYẾT TẬT
TẠI VIỆT NAM
Đưa Luật pháp của Việt Nam
phù hợp với Công ước Liên Hiệp quốc
về Quyền của Người khuyết tật

Tháng 12, 2009
Tác giả
Eric Rosenthal

Viện Quốc tế bảo vệ quyền người khuyết tật tâm thần
thực hiện theo yêu cầu của UNICEF Việt Nam



mục lục
Viết tắt......................................................................................................................................................................... 6
Lời tựa đề.................................................................................................................................................................... 7
Lời cảm ơn.................................................................................................................................................................. 9
1. Bối cảnh thực tế của TKT tại Việt Nam.........................................................................................................13
1.1. Khả năng tiếp cận......................................................................................................................................13
1.2. Dịch vụ dựa vào cộng đồng và y tế.........................................................................................................14
1.3. Giáo dục......................................................................................................................................................14
1.4. Thành lập các cơ sở chăm sóc tập trung................................................................................................15
1.5. Hệ thống bảo vệ trẻ em............................................................................................................................15
1.6. Tham gia của công dân.............................................................................................................................16
2. Tổng quan Công ước về Quyền của NKT.....................................................................................................16
2.1. Tác động của phê chuẩn và tuân thủ với CRPD..................................................................................16
2.2. Nội dung tổng quát của Công ước về Quyền của Người khuyết tật................................................17
3. Tổng quan pháp luật Việt Nam liên quan đến NKT và Dự thảo Luật Người khuyết tật.....................17
3.1.Cơ sở của pháp luật Việt Nam liên quan đến NKT.............................................................................17

10. Giám sát & tăng cường....................................................................................................................................43
10.1. Hệ thống bảo vệ trẻ em..........................................................................................................................43
10.2. Giám sát thực thi CRPD........................................................................................................................44
10.3. Thu thập dữ liệu.......................................................................................................................................45
11. Tham gia công dân...........................................................................................................................................45
12. Kiến nghị cho chính phủ Việt Nam..............................................................................................................46
12.1. Quyền được bảo vệ không bị phân biệt đối xử vì khuyết tật..........................................................46
12.1.1. Tuyên bố về phân biệt đối xử.......................................................................................................46
12.1.2. Tuyên bố về môi trường cư ngụ hợp lý......................................................................................46
12.2. Quyền tiếp cận.........................................................................................................................................47
12.2.1. Nêu rõ về khái niệm tiếp cận........................................................................................................47
12.2.2. Tăng cường thực hiện những quy định hiện hành...................................................................47
12.3. Quyền được sống trong cộng đồng.....................................................................................................47
12.3.1. Tuyên bố về quyền của TKT được sống với gia đình riêng của mình.................................47
12.3.2. Tuyên bố về quyền của TKT được sống với một gia đình thay thế.....................................47
12.3.3. Thiết lập một hệ thống toàn diện chăm sóc như gia đình có điều tiết công khai..............47
12.3.4. Tạo lập tiêu chuẩn chăm sóc trong các......................................................................................47
12.3.5. Cấm đưa thêm TKT mới vào các cơ sở chăm sóc tập trung..................................................47
12.3.6. Thiết lập hệ thống bảo vệ trẻ em để phòng ngừa lạm dụng trong gia đình và trong các cơ
sở chăm sóc...................................................................................................................................................48
12.4. Quyền được chăm sóc sức khỏe...........................................................................................................48
12.4.1. Cải thiện tình hình tiếp cận chăm sóc sức khỏe can thiệp sớm............................................48
12.4.2. Cải thiện tình hình tại những cơ sở và phương tiện thiết bị phục hồi chức năng..............48
12.4.3. Tuyên bố về quyền có ý kiến đồng ý..........................................................................................48
12.5. Quyền được giáo dục..............................................................................................................................48
12.5.1. Yêu cầu pháp lý...............................................................................................................................48

4



MDRI
NCCD
VNAH
WHO

6

Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội.
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
Bộ Tài chính
Bộ kế hoạch và đầu tư
Bộ Y tế
Bộ Giao thông vận tải
Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ
Công nghệ thông tin và truyền thông
Viện Quốc tế bảo vệ quyền người khuyết tật tâm thần
Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam
Hội trợ giúp người khuyết tật Việt Nam
Tổ chức Y tế Thế giới


lời tựa đề
Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF) và chính phủ Việt Nam ủy nhiệm cho ông Eric Rosenthal
thực hiện đánh giá và phân tích trong báo cáo này, cùng với những chuyên gia khác của Viện Quốc tế
bảo vệ Quyền Người khuyết tật tâm thần (MDRI). Mục đích chính của báo cáo là để giúp chính phủ
Việt Nam đưa luật pháp và những chính sách của mình phù hợp với Công ước mới của Liên Hiệp Quốc
về Quyền của Người khuyết tật (sau đây viết tắt là CRPD), mà Việt Nam đã ký kết vào ngày 22 tháng 10
năm 2007. Những mục tiêu chính của nhiệm vụ tư vấn này là:
▪▪ Đánh giá và phân tích văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam liên quan đến trẻ khuyết tật

cách áp dụng thích hợp những chương trình do quốc tế tài trợ để đáp ứng những yêu cầu của Công ước
Liên Hiệp Quốc về Quyền của Người khuyết tật (CRPD).
Phần phân tích pháp luật Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào công trình nghiên cứu rất tỷ mỉ của Tiến
sĩ Tường Duy Kiên. Công trình nghiên cứu này tóm lược pháp luật Việt Nam và phân tích những điểm
mạnh và những hạn chế. Chúng tôi không có bản dịch sang tiếng Anh của một số văn bản luật được đề
7


cập trong công trình nghiên cứu này và chúng tôi đã giả định rằng đa phần nội dung công trình nghiên
cứu của Tiến sĩ Kiên là chính xác trong việc miêu tả về pháp luật Việt Nam.
MDRI đã gặp đại diện Bộ Y tế và Tổ chức Y tế thế giới trong chuyến thăm tháng 9 năm 009. MDRI biết
rằng Bộ Y tế đang phác thảo một luật mới về Sức khỏe tâm thần mới, nhưng MDRI chưa thể có được bản
dịch bằng tiếng Anh của luật này. CRPD quy định quyền của những người tâm thần hoặc khuyết tật về
tâm lý xã hội và yêu cầu điều trị cho họ, nhưng việc không được tiếp cận với luật chăm sóc sức khỏe tâm
thần đã tạo nên điểm hạn chế trong phần phân tích này. Quan trọng rằng luật pháp mới này phù hợp với
những tiêu chuẩn nêu trong CRPD.
Báo cáo này chủ yếu tập trung vào những thay đổi lập pháp cần thiết để Việt Nam có các qui định phù
hợp với CRPD. Tuy nhiên, ngoài việc thay đổi luật, CRPD yêu cầu chính phủ Việt Nam cũng phải có
thay đổi trong chính sách và thực hiện để chấm dứt sự phân biệt đối xử với trẻ khuyết tật trong xã hội
Việt Nam, cũng như để tăng cường thực hiện pháp luật sao cho quyền của những NKT được bảo đảm.
Những thay đổi cần thiết này trong chính sách, luật, và thi hành luật được nêu đại cương trong báo cáo
này.

8


lời cảm ơn
Chúng tôi chân thành cám ơn nhiều người đã dành thời gian thảo luận với chúng tôi tại Việt Nam. Ban
chuyên gia soạn thảo Luật Người khuyết tật của Bộ Lao động,Thương binh,Xã hội đã nhiều lần họp với
chúng tôi và cung cấp thông tin nền tảng có giá trị về tình hình pháp lý của TKT. Trưởng ban soạn thảo,

▪▪
▪▪

▪▪
▪▪
▪▪

10

Để bảo vệ chống phân biệt đối xử, đề xuất về Luật người khuyết tật cần bao gồm quyền có điều chỉnh
hợp lý, như yêu cầu của CRPD Điều 5(3) và được xác định trong CRPD Điều 2; một điều khoản như
vậy cần điều chỉnh dịch vụ công và các chương trình cần thiết để cho phép cá nhân khuyết tật tiếp
cận đến được giáo dục, nhà ở, y tế, dịch vụ, giao thông và những lĩnh vực khác của cuộc sống.
Quyền có được công nghệ thông tin và truyền thông phù hợp phải được thiết lập trong đề xuất Luật
về Người khuyết tật, trong khi đó văn bản hiện nay chưa rõ ràng là quyền này có được bảo đảm hay
không.
Luật pháp và quy định về quyền tiếp cận phải được tăng cường; việc này gồm quyền tiếp cận môi
trường vật chất, phương tiện giao thông, truyền thông, thông tin liên lạc và các cơ sở dịch vụ khác;
những dạng thức truyền thông có thể tiếp cận đến các dịch vụ công cũng phải được thực thi, kể cả
ngôn ngữ ký hiệu, chữ nổi Braille, cassettes, cỡ phông chữ lớn, và những biện pháp công nghệ hỗ trợ
khác.
Quyền của trẻ em khuyết tật sống trong cộng đồng cùng với gia đình, hoặc nếu nên đảm bảo có được
các hình thức các gia đình khác chăm sóc thay thế, nếu cần thiêt.
Can thiệp sớm và chăm sóc sức khỏe cần có sẵn sao cho TKT và gia đình các em dễ tiếp cận.
Cần phải thiết lập quy trình và đánh giá định kỳ việc đưa các em vào các cơ sở chăm sóc tập trung và
luật cần nêu rõ một thời điểm cụ thể khi đã tạo lập được hệ thống hỗ trợ chăm sóc tại cộng đồng thì
chấm dứt đưa các cháu mới vào sống trong các cơ sở chăm sóc tập trung.
Cần thành lập kế hoạch quá độ để chuyển đổi các trường chuyên biệt thành chương trình giáo dục
hòa nhập nhằm đảm bảo rằng tất cả TKT được giáo dục trong hệ thống giáo dục chung.
Dự thảo Luật Người khuyết tật cần yêu cầu rằng tất cả trẻ em khuyết tật phải được làm giấy khai sinh

và cản trở việc hưởng thụ những quyền khác. Chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ nước ngoài cần hướng
công sức vào hỗ trợ cho các trẻ em tại gia đình và cung cấp dịch vụ theo một nền tảng cơ sở tổng hợp nhất.
Cần dành công sức hỗ trợ và đào tạo cha mẹ các TKT, đặc biệt là cha mẹ các cháu khuyết tật trí tuệ, bởi vì
chính họ là nguồn lực thường xuyên bị coi nhẹ đối với hỗ trợ cộng đồng hiện, mà họ lại đóng tỉ lệ hỗ trợ các
cháu khuyết tật rất lớn.
Vì Việt Nam dành nguồn lực hạn chế để cung cấp dịch vụ hỗ trợ dựa vào cộng đồng và hỗ trợ cho TKT,
Việt Nam nên tránh sai lầm thiết lập những chương trình dịch vụ mới và các trường chuyên biệt, mà
chính những cơ sở này lại không hòa nhập TKT vào xã hội một cách đầy đủ − Cần tránh đầu tư vào các
cơ sở nội trú mới, cho dù những cơ sở này nhỏ hơn, sạch sẽ hơn những cơ sở hiện nay. Tương tự như thế, ta
nên tránh đầu tư vào giáo dục chuyên biệt.
Cải cách giáo dục nên thiết lập giáo dục hòa nhập cho tất cả TKT − Điều 24 của CRPD nêu rằng các
chính phủ “phải bảo đảm có một hệ thống giáo dục hòa nhập ở tất cả các cấp học”. Theo đó, Việt Nam nên
bảo đảm rằng các trường phải nhận, dạy và tiếp nhận TKT. Cộng thêm vào xây dựng, sửa đổi các trường
hiện có, sao cho học sinh khuyết tật các loại có thể tiếp cận đến học, điều thiết yếu là phải đầu tư mới vào các
chương trình đào tạo giáo viên, cung cấp các giáo trình học tập thích hợp và hỗ trợ giảng dạy TKT tật trí tuệ
và các dạng khuyết tật khác.
Chính phủ, NKT và thành viên gia đình có NKT cũng nên tham gia tích cực đóng góp công sức vào
giám sát những chương trình và cố gắng cải cách hiện nay − Cuộc cải cách hiệu quả sẽ bị hạn chế nếu
không minh bạch và không có số liệu về tình hình hiện nay. Như UNICEF và Bộ LĐTB&XH đã mô tả trong
báo cáo năm 2009 “tạo ra một môi trường bảo vệ trẻ em tại Việt Nam”, sẽ không thể có một hệ thống tổng
hợp và toàn diện để bảo vệ trẻ em trong những hoàn cảnh chuyên biệt. CRPD đòi hỏi rằng cơ quan chính
quyền độc lập cần được thành lập để theo dõi giám sát bất cứ chương trình nào phục vụ TKTt. Điều 4(3)
nêu rõ rằng NKT và những tổ chức đại diện cho họ cần được tham gia giám sát như vậy cũng như được tham
gia vào lập kế hoạch thực thi CRPD.

11


THAM GIA CÔNG DÂN & THỰC THI
Thiếu sót chính trong bất cứ một cố gắng cải cách nào tại Việt Nam chính là thiếu một phong trào

Vấn đề thiếu khả năng tiếp cận đối với NKT tại Việt Nam đặc biệt trầm trọng đối với TKT, nó tạo ra
những rào cản đến dịch vụ y tế, giáo dục, vui chơi giải trí, văn hóa, thể thao và những hoạt động khác
rất thiết yếu cho sự phát triển của một đứa trẻ. Cụ thể là, TKT tật thiếu khả năng tiếp cận dịch vụ giao
thông công cộng, trường học, bệnh viện, nhà vệ sinh, các tòa nhà văn hóa và những tòa nhà khác.1 Thiếu
tiếp cận đến thông tin liên lạc đối với những người khiếm khuyết về thị lực và thính lực.2 Trẻ em khiếm
khuyết thị lực và thính lực không thể tiếp cận được những chương trình học tập và những thông tin khác
vì những nội dung đó không có bằng chữ nổi Braille, phông chữ lớn, hoặc có phụ đề bằng chữ đi kèm.3
Phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu thì hiếm và NKT phải dựa vào cố gắng của các giáo viên tình nguyện làm
việc với những người điếc.4 Trong kkhi đài truyền hình Việt Nam (VTV) có chương trình thời sự đêm
với phụ đề, các chương trình khác có phụ đề thì lại chưa sẵn có.5

1.2. Dịch vụ dựa vào cộng đồng và y tế
Xét đến những dịch vụ dựa vào cộng đồng và dịch vụ y tế, thiếu những dịch vụ phát hiện sớm, can thiệp
sớm, tái phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng và dịch vụ chăm sóc sức khỏe có chất lượng dành cho
TKT trong cộng đồng tại Việt Nam. Trong khi những chính sách chính thống cung cấp dịch vụ tái hồi
chức năng cho NKT cũng có đấy, tổng quan vẫn còn thiếu rất nhiều những dịch vụ như vậy, cũng như
hoàn toàn còn thiếu những dịch vụ lấy TKT làm mục tiêu.6 Thiếu những dịch vụ này là do kinh phí chưa
đầy đủ, thực thi kém, mở rộng dàn trải và thiếu duy trì.7 Nhiều TKT không nhận được chăm sóc sức
khỏe và dịch vụ phục hồi chức năng.8 Còn đối với những em nào nhận được, số lượng trẻ em sử dụng trợ
giúp phục hồi chức năng rất thấp, chỉ khoảng 1/5 TKT được dùng tay giả, chân giả, chỉnh hình, hỗ trợ
nghe và nhìn hoặc xe lăn..9 Dịch vụ phục hồi chức năng không sẵn có tại nhiều cộng đồng và nhân viên
1
2
3
4
5
6
7
8
9

được đi học tí nào. Theo một số con số thống kê, chỉ có 52% TKT được tiếp cận với giáo dục, trong khi
đó 33% TKT bị mù chữ.16 Những nghiên cứu khác cho thấy một tỉ lệ thấp hơn rất nhiều (20%) các TKT
được đi học.17 Trong số những TKT được đi học, hệ thống giáo dục chia tách các loại khuyết tật và xếp
các em vào những trường học hoặc lớp học riêng.18 Mặc dầu đã có một số cố gắng để tạo ra một hệ thống
giáo dục hòa nhập, vẫn còn thiếu hỗ trợ kỹ thuật và tài chính.19 Thiếu đào tạo giáo viên và thiếu thông tin
cũng góp phần làm thiếu giáo dục hòa nhập.20 Cuối cùng, rất nhiều TKT không có được điều chỉnh phù
hợp cho phép các em có thể học tập hoặc ở trường chuyên biệt, hoặc ở trường hòa nhập.21

1.4. Thành lập các cơ sở chăm sóc tập trung
Một trong những thách thức căng thẳng nhất đối với TKT tại Việt Nam là việc đưa các em vào những
trung tâm bảo trợ xã hội, các trại tế bần, các trường nội trú hoặc các cơ sở khác. Vấn đề này là mối quan
tâm đặc biệt khi Việt Nam dường như đang định hướng những luồng nguồn lực mới vào xây dựng các
tòa nhà và chương trình để tăng số lượng người lớn và TKT nhận vào các cơ sở nội trú. Hiện nay, chưa có
thống kê tin cậy về số lượng trẻ em trong các trung tâm và cơ sở như thế của chính phủ, của các tổ chức
phi chính phủ quốc tế, các tổ chức tôn giáo, các cơ sở tư nhân và các tổ chức địa phương. Tuy nhiên, một
nghiên cứu trích dẫn số lượng trẻ em trong những cơ sở này là 14,574,22 mặc dầu người ta tin rằng con
số thực tế còn cao hơn. Còn tồn tại nhiều bất cập lớn liên quan đến những con số thống kê về số TKT
không được học tập và cần phải có những quy trình thu thập số liệu tốt hơn để giải quyết vấn đề này.

10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20

gia đình có TKT có thể tìm kiếm được dịch vụ; thứ hai là số lượng hạn chế các chương trình phát hiện
và đánh giá để nhìn nhận những gia đình đang nằm trong tình trạng rủi ro; và thứ ba là hệ thống sẵn có
hiện nay thiếu hụt nhân viên và thiếu đào tạo để thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ có ý nghĩa.28 Hơn nữa, không
có hệ thống theo dõi hoặc tổng kết theo định kỳ đối với trẻ em đang được chăm sóc.29 Bởi vì chương
trình chưa được thực thi rộng rãi và bởi vì một số hộ gia đình không thể nuôi nổi một con khuyết tật, nên
TKT vẫn phải đi đến kết cục là các em phải vào sống trong các trung tâm nuôi dưỡng tập trung.30

1.5. Hệ thống bảo vệ trẻ em
Không tồn tại một hệ thống bảo vệ trẻ em toàn diện làm cho việc phát hiện và báo cáo tình hình lạm
dụng TKT thật khó khăn, cũng như công tác điều tra và tiến trình đánh giá những báo cáo về lạm dụng.31
Các dịch vụ xã hội hiện nay chủ yếu là theo phương pháp tiếp cận kiểu từ thiện, ngược với phương pháp
tiếp cận dựa vào quyền.32 Còn đối với việc phát hiện và báo cáo, hiện Việt Nam chưa có quy chế khiếu
nại tách biệt với Luật Khiếu nại và tố cáo hoặc Bộ Luật Tố tụng Hình sự, cả hai văn bản luật đó đều
không có ích gì để trẻ em có thể lập hồ sơ cho mình.33 Không có hợp phần điều tra và đánh giá để đáp
ứng với những báo cáo lạm dụng trẻ em, mà chỉ có Luật xử lý những vi phạm hành chính và Luật tố tụng
hình sự là có để giải quyết những khiếu nại.34

1.6. Tham gia của công dân
Hiện nay, những điều khoản luật quy định quyền hạn của các tổ chức của NKT được tham gia vào tiến
trình ra luật và giám sát các chương trình thì vẫn còn thiếu trong luật của Việt Nam. Ít tổ chức hoạt động
trong lĩnh vực này và năng lực biện lý cho quyền của họ và tác động vào chính sách quốc gia còn hạn
chế.35 Tổ chức nổi bật nhất có chức năng chính là biện lý chính sách cho NKT, và ảnh hưởng của nó tới
công tác điều phối các luật và chính sách, giám sát việc thực thi Luật Người khuyết tật, hoặc gây ảnh
hưởng đến việc đề ra luật và những quy định còn bị hạn chế.36
23
24
25
26
27
28

Công ước nhân quyền đầu tiên của thế kỷ thứ 21, Công ước về Quyền của Người khuyết tật (CRPD),
đã được LHQ thông qua vào ngày 13-12-2006 và có hiệu lực từ ngày 4 tháng 5 năm 2008. Từ đó đến
nay, công ước đã được mau chóng công nhận khắp nơi trên thế giới. Đến thời điểm ngày 1 tháng 12 năm
2009, đã có 143 quốc gia ký vào CRPD và 74 quốc gia đã phê chuẩn thực hiện.37 Khi một nước “phê
chuẩn” hay “tham gia vào” công ước, nước đó đã chấp nhận công ước là luật ràng buộc.38 Ký kết vào công
ước là bước đầu tiên tiến đến phê chuẩn, việc đó thể hiện một cam kết chính trị là quốc gia sẽ không
hành động trái ngược và có hại tới tới “đối tượng và mục đích” của công ước.39
Cao ủy LHQ về Quyền con người đã ban hành hướng dẫn cho các chính phủ nào đang xem xét việc phê
chuẩn, hoặc những chính phủ nào mới đây phê chuẩn CRPD.40 Để chuẩn bị cho việc phê chuẩn, Cao ủy
LHQ kiến nghị cần phải rà soát cả luật pháp và cả chính sách xem có tuân thủ với CRPD hay không.41
Trong cố gắng đó, Cao ủy LHQ kiến nghị rằng các chính phủ nên bàn thảo với xã hội dân sự, kể cả các
tổ chức đại diện cho NKT.42 Trên cơ sở phê duyệt CRPD, các cơ quan nhà nước không chỉ có nghĩa vụ
chấm dứt những cách làm có tính chất phân biệt đối xử NKT, mà còn khẳng định chắc chắn nghĩa vụ
cung cấp dịch vụ cần thiết cho NKT để họ tham gia và xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người
không bị khuyết tật.
Công ước CRPD rút ra nhiều kinh nghiệm quốc tế để khuyến khích áp dụng những các thực hiện hay và
hỗ trợ các quốc gia thành viên chú trọng đến các bước họ cần thực hiện để bảo đảm bảo vệ nhân quyền
và để NKT được tham gia đầy đủ vào xã hội. CRPD cũng đòi hỏi các chính phủ không chỉ chuyển đổi
luật pháp, chính sách và cách làm mà còn phải tăng cường thực hiện.43 CRPD công nhận rằng các quốc
gia có quyền “thực hiện liên tục dần” những quyền con người đó sau một thời gian. Luật pháp về nhân
quyền quốc tế, tuy thế, đòi hỏi rằng các quốc gia thành viên áp dụng các chính sách ngay lập tức để đặt
quốc gia lên con đường tiến lên thực hiện đầy đủ những quyền đó.
37

38
39
40

41
42

trong mọi cơ hội, (f) bảo đảm khả năng tiếp cận, (g) bình đẳng nam nữ, và (h) tôn trọng năng lực tiến
hóa của TKT và tôn trọng quyền của trẻ em được duy trì bản sắc của mình.44 Làm như thế, công ước
nâng cao phẩm cách, bình đẳng và chống phân biệt đối xử, tất cả những điều đó đều là những hòn đá
tảng của hiệp ước có tính nhân quyền quốc tế này.
Đặc biệt, CRPD thiết lập nên là “phân biệt đối xử chống lại bất cứ ai vì họ khuyết tật là vi phạm phẩm
cách vốn có và nhân phẩm.”45 Để phòng ngừa sự phân biệt đối xử đó, chính phủ không chỉ “bảo vệ pháp
lý hiệu quả” mà còn phải để xã hội thích ứng thông qua cung cấp “môi trường cư ngụ hợp lý” sao cho
những cá nhân khuyết tật có thể thực hiện đầy đủ những quyền này.46 Một nguyên tắc cốt lõi của CRPD
là cần có những cư ngụ hợp lý để bảo đảm cho tất cả những NKT “tham gia đầy đủ và hiệu quả vào xã
hội”.47 Điều 19 của CRPD thiết lập Quyền của NKT được sống trong cộng đồng có quyền lựa chọn bình
đẳng như những người. Quyền này áp dụng cho tất cả TKT, kể cả những TKT nặng về thể chất và trí lực
mà các cháu có thể phải cần hỗ trợ rất nhiều từ cộng đồng. Việc tham gia đầy đủ vào xã hội đòi hỏi phải
tiếp cận được về mặt lý tính48 và những chương trình tái phục hồi trí tuệ và phục hồi chức năng, kể cả
các chương trình cho TKT trí tuệ.49 Đối với những cá nhân khiếm khuyết về giác quan, đó có thể là giúp
học ngôn ngữ ký hiệu hoặc sử dụng chữ nổi Braille.50 CRPD là một văn bản tầm rộng mô tả việc chăm
sóc sức khỏe,51 giáo dục,52 dịch vụ xã hội,53 công ăn việc làm,54 tiêu chuẩn chung cho cuộc sống,55 cũng
như đời sống văn hóa, nghỉ ngơi và thể thao56 mà phải có cho trẻ em và NKT trên cơ sở bình đẳng với
những người không khuyết tật.

3. Tổng quan pháp luật Việt Nam liên quan đến NKT và Dự thảo Luật Người
khuyết tật
3.1.Cơ sở của pháp luật Việt Nam liên quan đến NKT
Cam kết của chính phủ Việt Nam bảo vệ quyền của TKT có ấn tượng. Là một quốc gia đã phê chuẩn
Công ước Liên Hiệp Quốc về Quyền trẻ em (CRC) cách đây 20 năm, Việt Nam cam kết tăng cường
những quyền con người cơ bản cho tất cả trẻ em mà không chỉ riêng TKT. Theo CRC, Việt Nam bảo
44
45
46
47
48

hồi chức năng, được chuẩn bị nghề cho việc làm và những cơ hội giải trí theo cách thức có lợi cho trẻ em
để hội nhập xã hội và phát triển cá nhân đầy đủ nhất.”57 UNICEF và chính phủ Việt Nam đã có truyền
thống lịch sử quan hệ cùng nhau xem xét những cách thức thực thi những quyền này.
Việt Nam đến nay đã áp dụng nhiều luật và chính sách để bảo vệ trẻ em. Bắt đầu với Điều 50 của Hiến
pháp năm 1992, tất cả công dân Việt Nam đều được bảo đảm quyền xã hội, văn hóa, kinh tế và chính trị.
Hiến pháp Việt Nam hơn nữa cũng nêu rằng NKT, người già, người cơ cực và trẻ em mồ côi “được nhà
nước bảo trợ”58
Việt Nam tiếp tục thông qua những luật trao quyền bổ sung cho trẻ em và người lớn khuyết tật. Những
luật này gồm Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 1999,
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991, Luật Bảo vệ chăm sóc
và giáo dục trẻ em năm 2004, Luật Giáo dục năm 2005, Luật Đào tạo dạy nghề 2006, Luật Công nghệ
thông tin năm 2006, Luật thể dục thể thao năm 2006, Luật Giao thông đường bộ năm 2008. Thêm vào
những luật này, các bộ ngành khác nhau của chính phủ Việt Nam đã triển khai ít nhất là 20 chỉ thị, nghị
định và những quyết định khác nhau liên quan đến khuyết tật trong những lĩnh vực như lao động và việc
làm, dạy nghề, giao thông dễ tiếp cận, tiêu chuẩn xây dựng các công trình nhà ở và các tòa nhà thương
mại, chính sách phúc lợi xã hội, đào tạo giáo viên và thể thao.59 Chính phủ Việt Nam đã tiến một bước
57
58
59

18

Công ước LHQ về Quyền trẻ em (CRC), G.A. Res. 44/25, U.N. G.A.O.R., phiên họp lần 44, phần bổ sung số 49. tại
Điều 23(3), U.N. Doc. A/44/25, Việt Nam đã phê chuẩn vào ngày 28-2-1990.
VIETNAM CONST. (1992), điều. 67.
Những tài liệu này gồm: Nghị định No.67/ND-CP ngày 13/4/2007 về chính sách hỗ trợ xã hội cho những đối
tượng chính sách; Nghị định No. 43/NĐ/2008/ND-CP của chính phủ ngày 8/4/2008 về quy định chi tiết và hướng
dẫn thực thi Điều 62 và Điều 72 của Luật đào tạo dạy nghề; Nghị định của chính phủ No. 55/1999/ND-CP ngày
10/7/1999 về thi hành một số điều của Pháp lệnh về Người khuyết tật; Nghị định của chính phủ No. 36/2005/NDCP ngày 17/3/2005 về thi hành một số điều của Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em; Thông tư số. 13/2000/
TT-BLDTBXH ngày 12/5/2000 của Bộ LĐ-TB-XH về hướng dẫn thi hành một số điều Nghị định chính phủ số.

tàn tật Việt Nam (VNAH), và các chuyên gia quốc tế. Lấy theo hình thức của Công ước quốc tế về NKT
làm mẫu, Dự thảo Luật Người Khuyết tật này có tiềm năng trở thành bộ luật NKT tiến bộ và toàn diện
nhất trên thế giới. Đến tháng 10-2009, Dự thảo Luật Người khuyết tật đã được chính phủ và Bộ Tư pháp
hoàn tất, trình lên Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội để xem xét.
Bằng việc ký kết CRPD, chính phủ Việt Nam đã khẳng định cam kết của mình là đưa luật pháp và tập
quán quốc gia phù hợp với Công ước quốc tế về NKT trong công tác chuẩn bị đệ trình CRPD cho
Quốc hội để phê chuẩn. Như vậy, Việt Nam đã bắt đầu soạn luật để đưa quốc gia mình vào tuân thủ với
CRPD.
Luật Người khuyết tật giải quyết phần lớn những lĩnh vực của cuộc sống NKT tại Việt Nam. Luật bảo
đảm quyền của trẻ em và người lớn khuyết tật tiếp cận bình đẳng đến dịch vụ y tế, giáo dục, học nghề,
việc làm, chỗ ở và các tòa nhà chính phủ, phương tiện giao thông công xe buýt, tàu hỏa, ICT, hoạt động
văn hóa và giải trí. Luật này lần đầu tiên nghiêm cấm phân biệt đối xử chống lại NKT trong việc không
chịu nhận họ vào các trường học vì lý do khuyết tật.60 Luật cũng dựng nên ưu tiên cho giáo dục hòa
nhập,61 và đòi hỏi các trường giáo dục và dạy nghề cung cấp nơi ăn chốn ở cho học sinh.62 Luật cũng bảo
đảm cho NKT về nghe, nói, nhìn và những khiếm khuyết khác cơ hội “tham dự các lớp dùng ngôn ngữ
tín hiệu, chữ nổi Braille mà được chuẩn hóa ở cấp quốc gia hoặc sử dụng những công cụ giáo dục, tài
liệu soạn cho NKT.”63
Dự thảo Luật Người khuyết tật này cũng bảo đảm cho NKT tiếp cận những địa điểm văn hóa, thể thao
và vui chơi giải trí và công nhận cần phải phục hồi chức năng cho NKT dựa vào cộng đồng.64 Luật này
cũng hỗ trợ tài chính cho các gia đình có NKT “nặng” mặc dầu không nhất thiết phải cho cả những
người khác bị khuyết tật.65 Luật đề xuất này tạo ra một quỹ để hỗ trợ những NKT,66 luật cũng hướng các
chính sách vì NKT vào chính sách phát triển kinh tế xã hội chung của cả nước.67 Có lẽ điều có ý nghĩa
nhiều nhất chính là luật này đòi hỏi chính phủ Việt Nam bảo đảm một ngân sách hàng năm đủ để thực
thi những chính sách từ Dự thảo Luật Người khuyết tật này.68
Dự thảo Luật Người khuyết tật đi một chặng đường dài đến chương mục bảo vệ pháp lý mà CRPD yêu
cầu. Tuy nhiên, còn có một số lỗ hổng trọng yếu cũng như một vài lĩnh vực mà Dự thảo Luật Người
khuyết tật mâu thuẫn với những nguyên tắc cơ bản thiết lập trong CRPD. Bản báo cáo này trình ra đây
cách thức làm thế nào để Dự thảo Luật Người khuyết tật này có thể được chỉnh sửa nhằm bảo đảm tuân
thủ với CRPD.
60

hợp lý”, một yếu tố trọng yếu để bảo vệ trẻ em và người lớn khuyết tật khỏi bị phân biệt đối xử.

4.1 Định nghĩa khuyết tật
Bản thân văn bản CRPD không có định nghĩa khuyết tật, nhưng đó là để áp dụng cho “những người
khiếm khuyết lâu ngày về thể chất, thần kinh, trí tuệ hoặc các giác quan mà khi tác động tương hỗ với
những rào cản khác nhau có thể gây cản trở cho việc tham gia hiệu quả và đầy đủ vào xã hội, trên cơ
sở bình đẳng với những người khác.”69 CRPD đặc biệt loại ra mô hình y tế về khuyết tật coi một NKT
là một bệnh nhân cần điều trị hoặc cần từ thiện. Thay vào đó, CRPD công nhận “mô hình xã hội” của
khuyết tật.70 Theo mô hình xã hội này, khuyết tật là một phần của trải nghiệm nhân loại; khuyết tật tự
nó không giảm bớt quyền của trẻ em và người lớn được lựa chọn và kiểm soát cuộc đời mình, được sống
và được dịch vụ trong một môi trường hòa nhập, được tham gia đầy đủ và đóng góp cho cộng đồng của
mình thông qua kết nhập và hòa nhập đầy đủ vào dòng chảy cuộc sống về kinh tế, chính trị, xã hội, văn
hóa và giáo dục. Hơn thế nữa, mô hình xã hội, như CRPD thừa nhận, đặt trách nhiệm lên toàn xã hội
(chứ không phải lên cá nhân NKT) phải tháo dỡ những rào cản lý tính và thái độ đang “làm khuyết tật”
những con người có chút khiếm khuyết và cản trở họ thực hiện quyền của họ, cản trở họ hòa nhập đầy
đủ vào xã hội.
Dự thảo Luật Người khuyết tật xác định “là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc
chức năng làm suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ, giác quan trong một thời gian dài được biểu hiện
dưới các dạng khuyết tật và do các rào cản xã hội, thiếu các điều kiện hỗ trợ phù hợp dẫn tới bị cản trở
tham gia bình đẳng vào hoạt động xã hội.”71 Định nghĩa này về khuyết tật là một cải biến lớn so với định
nghĩa trong Pháp lệnh 1998 và những định nghĩa nằm trong những phiên bản luật trước đó, chỉ chú
trọng duy nhất về hạn chế chức năng của NKT, mà không hề nhắc đến những nhân tố xã hội và môi
trường can thiệp vào năng lực của những NKT cản trở họ thực hiện những quyền của mình.72 Như đã
viết, định nghĩa này phù hợp với CRPD, mặc dầu những yếu tố khác trong Dự thảo Luật Người khuyết
tật chưa nhất quán với định nghĩa này.
69
70

71
72

Anh, có một từ thích hợp thay thế là trong tiếng Anh là “NKT”.
Luật Người khuyết tật áp dụng về mặt lý thuyết cho những NKT thể chất và thần kinh (gồm cả khuyết
tật trí tuệ, tâm thần, tâm lý xã hội nữa). Tuy nhiên, phần lớn ngôn từ của luật dường như chủ yếu nói
đến mối quan tâm của NKT thể chất. Ví dụ, luật tạo ra quyền phục hồi chức năng và dịch vụ chỉnh hình,
nhưng lại không nói đến quyền được dịch vụ hồi phục trí tuệ rất cần cho TKT trí tuệ. Khi MDRI hỏi
chuyện quan chức của Bộ Y tế về việc này, họ chỉ ra rằng nếu gộp đầy đủ cả những người khuyết tật trí
tuệ sẽ mở rộng rất lớn phạm vi lợi ích và dịch vụ mà hiện nay chính phủ Việt Nam đang dự tính. Điều
thiết yếu là trẻ em và người lớn khuyết tật trí tuệ cũng cần nhận được sự bảo trợ đầy đủ theo dự thảo
Luật Người khuyết tật này. CRPD công nhận rằng nguồn lực thì hạn chế và việc thực hiện đầy đủ các
quyền có thể cần thêm thời gian để hình thành. Nếu như chính phủ phải hạn chế lợi ích do hạn chế tài
chính, thì chính phủ cũng phải làm bình đẳng như thế đối với tất cả những NKT.

4.2. Nâng cao phẩm giá, bình đẳng và không phân biệt đối xử
Dự thảo Luật Người Khuyết tật gồm một định nghĩa về phân biệt đối xử, khẳng định “Phân biệt đối xử
đối với NKT hành vi xa lánh, từ chối, ngược đãi, phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền của người
khác vì lý do khuyết tật của người đó.”74 Định nghĩa này phù hợp với định nghĩa của CRPD và phân biệt
đối xử bị nghiêm cấm theo Dự thảo Luật Người Khuyết tật.75 Tuy nhiên, vấn đề là định nghĩa trong bản
Dự thảo Luật Người Khuyết tật không đủ cụ thể. Thêm vào phần nghiêm cấm phân biệt đối xử chung,
cần đặc biệt nghiêm cấm chuyện phân biệt đối xử đối với NKT trong bối cảnh giáo dục, nhà ở, y tế, tiếp
cận dịch vụ, đi lại và tất cả những lĩnh vực khác của cuộc sống.
Bổ sung vào Dự thảo Luật Người Khuyết tật, Hiến pháp 1992 của Việt Nam tái khẳng định những
nguyên tắc tôn trọng phẩm giá, bình đẳng và cấm phân biệt đối xử trong điều 52, nêu rằng “mọi công
dân đều bình đẳng trước pháp luật”76 Điều 5 của bộ Luật dân sự, điều 8 của Luật tố tụng dân sự, điều
3 của Luật Xử phạt, điều 5 của Luật tố tụng xử phạt, điều 5 của Luật Lao động và điều 2 của Luật Hôn
nhân và Gia đình cũng có những câu tương tự.77 Tuy nhiên, để làm sáng tỏ thêm và bảo vệ quyền của
NKT, cần bổ sung thêm khẳng định việc áp dụng những quyền này cho NKT và nghiêm cấm phân biệt
đối xử vì lý do khuyết tật.

73
74

cho trẻ em còn được nhấn mạnh hơn nữa trong điều 7, khẳng định trẻ em phải được đặc biệt “cung cấp
thiết bị hỗ trợ phù hợp lứa tuổi và hỗ trợ khuyết tật.”81
Mặc dầu điều 2 của Dự thảo Luật Người khuyết tật nêu một định nghĩa chung về phân biệt đối xử, luật
không khẳng định rằng việc không cung cấp được môi trường cư ngụ hợp lý cho NKT sẽ cấu thành phân
biệt đối xử.82 Nếu không có môi trường cư ngụ hợp lý, NKT sẽ không thể tham gia đầy đủ vào xã hội và
do đó trở thành chủ thể bị phân biệt đối xử. Kết quả sau đó là, ta nên bổ sung ý đó vào định nghĩa khuyết
tật trong Dự thảo Luật Người khuyết tật điều 2 phần nghiêm cấm điều 13. Nhân đây muốn nói đây là lý
do vì sao việc phát triển xã hội dân sự và trao quyền cho NKT tham gia vào công tác biện lý chính sách
là rất thiết yếu. Trừ phi những người hiện nay đang bị từ chối có được cơ hội làm cùng với những người
khác để phát hiện và làm nên những cải tiến, nếu không kiểu làm không giao quyền hiện hiện nay chắc
chắn vẫn tiếp tục diễn ra.

5. Quyền tiếp cận
Một trong những vấn đề tràn lan nhất mà tất cả những NKT đối mặt là tình trạng thiếu tiếp cận đến
những khu vực công và dịch vụ công. NKT không thể đến trường, đến trung tâm y tế, nơi công cộng bởi
vì các tòa nhà đó và phương tiện giao thông đó không thiết kế làm môi trường cư ngụ cho họ. Tương tự
như thế, NKT mắt và tai bị chối từ tiếp cận các chương trình học tập, đầu ra truyền thông, tin tức khác.
Việt Nam có luật và quy định hứa hẹn sẽ tạo môi trường lý tính và phương tiện giao thông sẵn sàng,
nhưng còn đối với mảng truyền thông tin tức cho người mù điếc thì mới chỉ ở mức khuyến khích phát
triển. Dự thảo Luật Người khuyết tật của Việt Nam không nêu rõ ai chịu trách nhiệm làm cho mảng
thông tin truyền thông này tiếp cận được, thời gian nào loại thông tin truyền thông này phải có, và hệ
lụy sau đó đưa đến là gì. Dự thảo Luật Người khuyết tật sẽ có chất lượng tốt hơn rất nhiều nếu luật nêu
78
79
80
81
82

22


Còn đối với Dự thảo Luật Người khuyết tật, dự thảo đòi hỏi nâng cấp và cải tạo tất cả các tòa nhà công
cộng để bảo đảm NKT tiếp cận được.86 Luật cũng đòi hỏi rằng tất cả những thiết kế trong tương lai phải
tuân thủ với tiêu chuẩn xây dựng quốc gia.87 Phương tiện giao thông công cộng cũng phải được bố trí
là sao cho NKT có thể dùng được.88 Còn đối với công nghệ thông tin và truyền thông, Dự thảo Luật
Người khuyết tật đặt nghĩa vụ đối với “các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân” thiết lập những
chương trình triển khai lộ trình sử dụng ngôn ngữ tín hiệu, chữ nổi Braille, và những thiết bị kỹ thuật
cho NKT.89 Tuy nhiên, theo cách nói này, vẫn chưa rõ ai chịu trách nhiệm thực thi hoặc thi hành những
luật này. Hiện nay vẫn còn thiếu một lịch biểu thời gian và ngày hoàn thành. Tất cả những yếu tố đó cần
được làm sáng tỏ trong luật để bảo đảm quyền tiếp cận.
Mặc dầu Việt Nam đã đạt những tiến bộ trong việc thông qua những quy định để điều chỉnh môi trường
vật chất và phương tiện giao thông khả dụng cho NKT, vẫn còn nhiều yếu tố cần cải tiến như đã nêu trên.
83
84

85
86
87
88
89

CRPD, 22-10-2007, điều 9(1).
Những quy định này gồm: Quy chuẩn xây dựng Việt Nam QCXD Viet Nam 01:2002 về luật xây dựng; Tiêu chuẩn
xây dựng Việt Nam TCXD 264:2002 về thiết kế và xây dựng cơ bản cho người khuyết tật; Tiêu chuẩn xây dựng Việt
Nam TCXD 265:2002 quy định về đường và hè đường; Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXD 266-2002 xây dựng
nhà ở; Quyết định số 08/2005/QD-BGTVT ngày 10/01/ 2005 của Bộ Giao thông vận tải về ban hành quy định về
các bến đỗ xe buýt.
Tiến sĩ T. Duy Kiên, như đã trích dẫn chú giải 35, at 12-13.
Dự thảo Luật Người khuyết tật, 5-10-2009, điều. 30(1).
Như trên tại Điều 30(2).
Như trên tại Điều 32(1).

bị khuyết tật, cũng như quyền sống trong cộng đồng bình thường không thấy nêu trong luật của Việt
Nam. Cần nhiều thay đổi pháp lý để đưa luật Việt Nam phù hợp với điều 19 của CRPD, thiết lập “quyền
bình đẳng của tất cả những NKT được sống trong cộng đồng, quyền lựa chọn bình đẳng như những
người khác”. Dự thảo Luật Người khuyết tật nên được điều chỉnh để: (1) gộp một điều khoản cụ thể bảo
đảm quyền của trẻ em được sống với gia đình và (2) bảo đảm quyền của trẻ em sống với một gia đình
thay thế nếu gia đình của em đó không thể cưu mang được. Pháp chế mới cũng nên được chỉnh sửa để
thiết lập một hệ thống chăm sóc hỗ trợ cho tất cả TKT bất kể mức độ khuyết tật ra sao. Để bảo đảm rằng
TKT có thể sống an toàn trong cộng đồng, như yêu cầu của CRPD điều 16, Việt Nam nên thiết lập hệ
thống bảo vệ trẻ em ngăn ngừa lạm dụng tại gia đình, công sở và tại bất cứ chương trình nào khác phục
vụ TKT. Chính phủ Việt Nam cũng nên lập những tiêu chuẩn chăm sóc và quy chế phân loại TKT trong
những cơ sở, trung tâm hiện nay.

6.1. Quyền được gia đình bảo vệ
Theo luật nhân quyền quốc tế, mọi TKT đều có quyền không bị chia ly khỏi gia đình chỉ vì khuyết tật.
CRPD yêu cầu các quốc gia thành viên “bảo đảm rằng trẻ em không bị chia ly khỏi cha mẹ nếu cháu
90
91
92
93

24

Phân tích tình hình trẻ em khuyết tật tại Việt Nam, như đã trích dẫn chú giải 1, at 155.
Tiến sĩ T. Duy Kiên, như đã trích dẫn chú giải 35, at 12.
Như trên at 13.
Dự thảo Luật Người khuyết tật, 5-10-2009, điều. 33.


không muốn, ngoại trừ khi cơ quan chức năng chiểu theo bản án quyết định, tuân thủ theo luật định
và quy chế áp dụng, rằng việc chia ly đó là cần thiết vì lợi ích tốt nhất của trẻ. Ngoài ra không có trường

Trong 30 năm qua, quyền này được khẳng định và tái khẳng định trong những nguyên tắc của LHQ
bảo vệ người đau ốm về thần kinh, những quy định tiêu chuẩn về Cơ hội công bằng cho NKT, và Nghị
quyết về dịch vụ xã hội cho người bị tật nguyền thể chất và trí tuệ.100 Tuy nhiên, CRC là hiệp ước ràng
buộc đầu tiên công nhận rằng TKT có quyền “tham gia tích cực vào cộng đồng.”101 Các quốc gia thành
94
95
96
97
98
99
100
101

CRPD, 22-10-2007, điều 23(4).
Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em, No.25/2004/QH 11-6-2004, điều 13.
Như trên
Tạo lập một môi trường bảo vệ trẻ em tại Việt Nam, như đã trích dẫn chú giải 6, at 23.
Như trên
Eric Rosenthal, Elizabeth Bauer, Mary F. Hayden, và Andrea Holley, Thực hiện quyền hòa nhập cộng đồng cho trẻ em
khuyết tật tại Nga: Một khuôn khổ nhân quyền cho Hành động quốc tế, 4 Health and Hum. Rts. 83, 85 (1999).
Như trên at 85-86.
CRC, 28-2-1990, tại Điều 23(1).

25


Trích đoạn Môi trường phù hợp trong các chương trình giáo dục Quyền về danh tính, khai sinh và năng lực pháp lý Tham gia công dân Kiến nghị cho chính phủ Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status