Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ HUYỀN TRANG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA TRẺ EM KHUYẾT TẬT
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con ngƣời
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA TRẺ
EM KHUYẾT TẬT 9
1.1. Trẻ em khuyết tật 9
1.1.1. Khái niệm trẻ em 9
1.1.2. Khái niệm trẻ em khuyết tật 11
1.1.3. Ảnh hưởng của tình trạng khuyết tật đến hoạt động của trẻ 17
1.1.4. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng khuyết tật ở trẻ 18
1.1.5. Phân loại trẻ em khuyết tật 20
1.2. Quyền của trẻ em khuyết tật và Bảo đảm quyền của trẻ em
khuyết tật 22
1.2.1. Khái niệm Quyền của trẻ em khuyết tật 22
1.2.2. Khái niệm Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật 27
Tiểu kết chƣơng 1 29
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA TRẺ EM
KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 30
2.1. Tình trạng trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay 30
2.2. Thực trạng Bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật trong lĩnh
vực xây dựng pháp luật 31
2.2.1. Thành tựu 32
2.2.2. Hạn chế 34
2.3. Thực trạng Bảo đảm một số quyền của trẻ em khuyết tật 37
2.3.1. Quyền được giáo dục 38
2.3.2. Quyền được hưởng bảo trợ xã hội 42
2.3.3. Quyền được chăm sóc sức khỏe 46
2.3.4. Quyền được tham gia hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí 50
2.3.5. Quyền được tiếp cận cơ sở hạ tầng, dịch vụ công cộng 53
2.4. Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật trong cộng đồng 57
2.4.1. Thành tựu 57

UDHR Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền 1948 (The Universal
Declaration of Human Rights) 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong luật nhân quyền quốc tế, phần nội dung về quyền của các nhóm
xã hội dễ bị tổn thương chiếm vị trí rất quan trọng. Kể từ khi Liên Hợp Quốc
thành lập (1945), nhiều văn kiện quốc tế về nhân quyền đã được tổ chức này
thông qua, trong đó có một số lượng ngày càng lớn văn kiện đề cập đến quyền
của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương. Đây là các nhóm, cộng đồng có vị thế
về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ có nguy cơ cao hơn
trong việc bị bỏ quên hay bị vi phạm các quyền con người, bởi vậy, họ cần
được chú ý bảo vệ đặc biệt so với những nhóm, cộng đồng người khác. Nhóm
này bao gồm: phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người sống chung với HIV,
người di tản hoặc tìm kiếm nơi lánh nạn, người không quốc tịch, người thiểu
số, người lao động di trú… Trong đó, người khuyết tật nói chung và trẻ em
khuyết tật nói riêng được coi là một trong các nhóm thiểu số lớn nhất trên thế
giới và cũng là một trong những nhóm dễ bị tổn thương nhất.
Quyền của người khuyết tật được pháp luật quốc tế ghi nhận, và ngày
càng được quan tâm đặc biệt. Tháng 11 năm 1989, Công ước về Quyền trẻ em
được thông qua, đây là Công ước đầu tiên về quyền con người mà trong đó có
dẫn chiếu cụ thể đến người khuyết tật, và có một điều riêng biệt về quyền và
nhu cầu của trẻ em khuyết tật (Điều 23). Sau đó, hàng loạt các hướng dẫn, các
quy tắc, các khuyến nghị về vấn đề này được ban hành nhằm thúc đẩy và bảo
vệ hơn nữa quyền của nhóm người khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật
nói riêng, quan trọng nhất là Công ước về quyền của những người khuyết tật
được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào tháng 03/2007 đã đánh dấu

từ khi sinh ra như: dị tật bẩm sinh; vĩnh viễn không nghe được âm thanh của

3
cuộc sống; không được trò chuyện như các bạn cùng trang lứa; hay không
cảm nhận thấy ánh sáng của cuộc đời… thì việc tiếp cận những gì tốt đẹp nhất
dường như quá xa vời. Phải sống trong sự kì thị, phân biệt đối xử của mọi
người xung quanh, kết hợp với mặc cảm tự ti về bản thân mình, khiến nhiều
trẻ em khuyết tật không dám đến các nơi công cộng vì sợ những ánh mắt để ý;
không dám đến trường vì sợ bạn bè trêu chọc… Bên cạnh đó, một thực tế chỉ
ra rằng, đa số trẻ em khuyết tật đều sống trong nghèo khó; và dễ bị bạo hành
hoặc lạm dụng; bị đối xử vô trách nhiệm, ngược đãi hay bóc lột; trong khi đó,
việc tiếp cận với sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp lại gặp nhiều trở ngại vì
những lý do khách quan và chủ quan. Có thể thấy, trẻ em khuyết tật thực sự
phải trải qua nhiều khó khăn, phải đối mặt với nhiều rào cản để được hưởng
trọn vẹn những quyền vốn có của mình. Rào cản này không chỉ nằm ở bản
thân của sự khuyết tật, mà còn là tổng hợp những trở ngại về mặt xã hội, văn
hóa, quan điểm và cả về vật chất mà trẻ em khuyết tật phải đối mặt trong đời
sống hàng ngày.
Chính vì những lý do trên, mà tác giả đã chọn chủ đề “Bảo đảm quyền
của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ của
mình. Với cách tiếp cận thông qua lăng kính nhân quyền, luận văn mong
muốn góp phần tích cực vào việc đề xuất những ý kiến, giải pháp trong hoạch
định và thực thi chính sách pháp luật về quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt
Nam. Đồng thời qua đó, nâng cao hiểu biết, thái độ cảm thông đến nhóm đối
tượng dễ bị tổn thương này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, đề tài quyền của người khuyết tật là vấn đề được nhiều cơ
quan nhà nước, tổ chức xã hội, trường đại học, viện nghiên cứu, tổ chức liên
chính phủ, tổ chức phi chính phủ quan tâm. Đặc biệt, trong thời đại hội nhập
kinh tế quốc tế hiện nay, vấn đề quyền con người ngày càng được chú trọng

5
- Báo cáo đánh giá (2009), Quyền của trẻ em khuyết tật tại Việt Nam –
Đưa luật pháp của Việt Nam phù hợp với Công ước Liên Hợp Quốc về
Quyền của Người khuyết tật, tháng 12/2009, của Eric Rosenthal và Viện
Quốc tế bảo vệ quyền người khuyết tật tâm thần thực hiện theo yêu cầu của
UNICEF Việt Nam.
- Báo cáo của nghiên cứu viên về (2011), Người khuyết tật ở Việt Nam,
Một số kết quả chủ yếu từ Tổng điều tra Dân số và nhà ở Việt Nam, là xuất
bản phẩm thứ 9 trong tập hợp các ấn phẩm được Quỹ dân số Liên hợp Quốc
(UNFPA) công bố vào 2011.
- Báo cáo thường niên năm (2010), Về hoạt động hỗ trợ người khuyết tật
Việt Nam, của Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam NCCD.
- Báo cáo (2010), Phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam, 2010 do
UNICEF xây dựng dưới sự cộng tác với Chính phủ Việt Nam về quyền trẻ em.
Như vậy, có thể thấy, các công trình nghiên cứu về người khuyết tật
khá phong phú, song so với yêu cầu thực tiễn thì còn khiêm tốn, chỉ dừng lại
ở mức chung, khái quát nhất, chưa đi sâu vào các mảng cụ thể. Vì vậy, việc
nghiên cứu vấn đề Quyền của trẻ em khuyết tật ở Việt Nam trong thời điểm
hiện tại là hết sức cần thiết cả về lý luận và thực tiễn. Luận văn sẽ góp phần
làm phong phú hơn nguồn tài liệu về lĩnh vực này, đồng thời, bổ sung thêm
kiến thức về đảm bảo quyền của người khuyết tật nói chung và của trẻ em
khuyết tật nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan về tình hình trẻ em khuyết tật ở Việt Nam.
- Đánh giá được thực trạng đảm bảo quyền của trẻ em khuyết tật ở
nước ta hiện nay trong các khía cạnh xây dựng pháp luật, thực thi pháp luật,
từ phía cộng đồng… Từ đó rút ra được các quyền mà trẻ em khuyết tật dễ bị
xâm phạm và bị bỏ qua trên thực tế.


quan, đồng thời học hỏi kinh nghiệm thực tiễn của các nhà nghiên cứu về vấn
đề quyền của trẻ em khuyết tật.
6. Kết quả và ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần cung cấp những tri thức
khoa học cơ bản mang tính lý luận được nhìn nhận dưới góc độ quyền con
người về bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật; giúp người đọc nhận thức đầy
đủ và toàn diện hơn quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước về quyền và đảm bảo quyền cho trẻ em khuyết tật.
Luận văn cũng nêu bật được các quyền mà trẻ em khuyết tật Việt Nam
dễ và đang bị bỏ qua hay bị xâm phạm; đồng thời tìm hiểu thực trạng của việc
đảm bảo quyền của trẻ em khuyết tật, rút ra nguyên nhân của những thành tựu
và hạn chế trong việc bảo đảm quyền của đối tượng này. Từ đó, là cơ sở cho
việc nghiên cứu, bổ sung để hoàn chỉnh hơn các quyền, cách thức đảm bảo
quyền cho trẻ em khuyết tật ở Việt Nam hiện nay.
7. Điểm mới của luận văn
Luận văn là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên, có tính hệ
thống thông qua lăng kính nhân quyền về vấn đề “Bảo đảm quyền của trẻ em
khuyết tật ở Việt Nam hiện nay”, và đã có những điểm mới nổi bật như sau:
- Thông qua việc làm sáng tỏ những vấn đề chung có liên quan đến trẻ
em khuyết tật, luận văn đã đưa ra được khái niệm trẻ em khuyết tật, khái niệm
quyền trẻ em khuyết tật và khái niệm đảm bảo quyền của trẻ em khuyết tật.
- Đánh giá có hệ thống và khái quát về thực trạng bảo đảm quyền của
trẻ em khuyết tật trong một số lĩnh vực cụ thể, nêu rõ thành tựu, hạn chế và
đưa ra được nguyên nhân có các thành tựu và hạn chế đó.
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm có hiệu quả
các quyền của trẻ em khuyết tật trong các lĩnh vực: xây dựng, thực thi pháp
luật, thái độ của cộng đồng và nhận thức của bản thân trẻ bị khuyết tật.

8
8. Kết cấu của luận văn

và trí tuệ, cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích
hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”. Theo đó, trẻ em là những
người đảm bảo đầy đủ các điều kiện sau: Một là, phải là người còn non nớt về
thể chất và trí tuệ; Hai là, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt; Ba là người
từ 0 đến dưới 18 tuổi.
Do mỗi nước có quan niệm không giống nhau về trẻ em, nên độ tuổi
được xác định là trẻ em cũng khác nhau, và Công ước về quyền trẻ em đã quy
định vấn đề này theo hướng mở. Tức là, tuổi 18 được coi là mức tiêu chuẩn
nhưng không phải cố định, bắt buộc, mà cho phép mỗi quốc gia tùy thuộc vào
điều kiện kinh tế xã hội của nước mình, có thể quy định độ tuổi trẻ em sớm hơn
(dưới 18 tuổi). Tuy nhiên, việc quy định mang tính chất mềm dẻo này, có thể

10
làm số lượng trẻ em được bảo vệ theo Công ước giảm đi ở một số nước, nhưng
lại có tác dụng tích cực trong việc tăng lên về số lượng các quốc gia chấp nhận
tham gia công ước. Điều đó kéo theo việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em theo quy
định của điều ước quốc tế này trở nên phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới.
Liên quan đến khái niệm Trẻ em, Liên hợp quốc còn dùng khái niệm
“người chưa thành niên”. Theo quy tắc Bắc Kinh (Những quy tắc tối thiểu,
phổ biến của Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa
thành niên ngày 20/11/1985) nêu rõ “người chưa thành niên là người dưới 18
tuổi”. Họ là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tâm sinh lý,
trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống của họ bị hạn chế, thiếu những điều
kiện và bản lĩnh tự lập, khả năng kiềm chế kém, dễ bị kích động, lôi kéo vào
các hoạt động phiêu lưu mạo hiểm. Như vậy, việc sử dụng những khái niệm
này có ý nghĩa quan trọng về mặt pháp lý. Liên hợp quốc đặt các em trong đối
tượng điều chỉnh của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia với mục đích
bảo vệ quyền trẻ em và người chưa thành niên khi phạm pháp. Kêu gọi các
nước thành viên tham gia CRC phải quan tâm đầy đủ đến các biện pháp; tích
cực, huy động các nguồn lực có thể để giúp đỡ trẻ em và người chưa thành

em có ý nghĩa khá quan trọng. Bởi nó sẽ là cơ sở để làm rõ các khái niệm có
liên quan đồng thời tạo điều kiện thực hiện có hiệu quả các biện pháp bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục nhóm đối tượng dễ bị tổn thương này.
1.1.2. Khái niệm trẻ em khuyết tật
Trên phạm vi quốc tế lẫn khu vực hiện nay, chưa có một khái niệm cụ
thể về trẻ em khuyết tật. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Vì
vậy, để hiểu chính xác khái niệm trẻ em khuyết tật, trước hết, cần đi tìm hiểu
khái niệm người khuyết tật.
Trong một thời kỳ dài, người khuyết tật được coi là đối tượng phúc lợi

12
xã hội, việc bảo vệ hỗ trợ họ chủ yếu dựa trên tình thương và lòng nhân đạo
chứ không được nhìn nhận dưới tư cách chủ thể có quyền như công dân bình
thường. Những văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến quyền con người
được các nước phê chuẩn từ những năm 1940 đến năm 1960 như: Tuyên ngôn
quốc tế Nhân quyền 1948 (The Universal Declaration of Human Rights - UDHR),
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 (International
Convenant on Civil and Political Rights – ICCPR); Công ước quốc tế về các
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 1996 (International Convenant on Economic,
Social and Cultural Rights – ICCSCR)… cũng không trực tiếp đề cập đến
người khuyết tật.
Đến những năm 70, 80 của thế kỷ XX, dưới sự đấu tranh mạnh mẽ của
người khuyết tật và các hiệp hội của họ trên thế giới, nhận thức về người
khuyết tật là đối tượng của phúc lợi xã hội mới dần dần được thay thế thông
qua việc coi trọng năng lực của nhóm đối tượng này và coi vấn đề khuyết tật
là vấn đề bình thường trong xã hội. Sự chuyển biến về nhận thức đã dẫn đến
thay đổi cả cách gọi tên của nhóm này. Thay cho việc dùng từ Những người
tàn tật (Disable persons) có hàm ý miệt thị và hạ thấp, hiện nay, nhóm xã hội
này được gọi một cách tôn trọng là Những người khuyết tật (Persons with
Disabilities). Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi nhận thức đó diễn ra trong

giúp họ nhận thức đầy đủ các nghĩa vụ của mình với tư cách là một công dân.
Đây là mô hình khá nổi trội trong những nghiên cứu về khuyết tật trên thế
giới vào những năm 1990, nó được coi là mô hình có cơ sở lý thuyết và có
quy tắc riêng, là nền tảng những biến chuyển của vấn đề người khuyết tật.
Điểm khác biệt chủ yếu giữa hai quan điểm này là: nếu ở mô hình y tế,
nguyên nhân gây nên khuyết tật được xác định là do chính bản thân người
khuyết tật thì ở mô hình xã hội, khởi nguồn khuyết tật là ở xã hội. Hơn nữa,

14
bản chất của mô hình y tế là sự suy giảm về mặt thể chất, cảm giác và trí tuệ
người khuyết tật; còn mô hình xã hội, bản chất của khuyết tật là các rào cản
đã ngăn cản người khuyết tật tham gia vào các hoạt động đời sống. Nhìn
chung mỗi quan điểm đều có những điểm mạnh và hạn chế nhất định: Quan
điểm khuyết tật y tế có tác dụng tốt trong một số lĩnh vực cụ thể như y tế phục
hồi chức năng và đảm bảo xã hội. Còn quan điểm khuyết tật theo mô hình xã
hội cho thấy nguyên nhân gốc rễ của việc người khuyết tật bị tách biệt khỏi
cuộc sống chung, những bất lợi và vấn đề phân biệt đối xử.
Hiện nay trên thế giới, cũng không có khái niệm về người khuyết tật
được áp dụng chung cho tất cả các nước. Tùy vào điều kiện kinh tế xã hội,
truyền thống văn hóa mà mỗi quốc gia có định nghĩa khác nhau về vấn đề
này. Như, Điều 2 Luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ
người khuyết tật năm 1990 quy định:
Người khuyết tật là một trong những người bị bất thường,
mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng tâm lí hay
sinh lí, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những người đã mất
toàn bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động một
cách bình thường.
Người khuyết tật là những người có thính giác, thị giác, lời
nói hoặc khuyết tật về thể chất, chậm phát triển tâm thần, rối loạn
tâm thần, khuyết tật nhiều và/hoặc khuyết tật khác.

niệm “người khuyết tật”, tuy nhiên, đây là lần đầu tiên có một định nghĩa về
“người khuyết tật” được ghi nhận trong pháp luật quốc tế về quyền con người,
nó là cơ sở trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền của nhóm đối tượng này.
Ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về người

16
khuyết tật hoặc người tàn tật. Đại đa số đều dùng từ khuyết tật và tàn tật để chỉ
cùng một khái niệm, và được dùng song song trên cả phương tiện truyền thông
đại chúng và văn bản pháp quy. Điều 1 Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998
định nghĩa người tàn tật là: “Người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ
thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm
khả năng hoạt động khiến cho lao động, học tập gặp nhiều khó khăn”
Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội cũng như quá
trình hội nhập quốc tế, cụm từ “Người tàn tật” ngày càng được sử dụng ít đi,
thay vào đó là cụm từ “Người khuyết tật” với mục đích tạo sắc thái tình cảm
tích cực, coi trọng hơn, đề cao khả năng phục hồi hơn. Trong cuộc hội thảo do
Văn phòng Điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam (NCCD)
và Tổ chức Cứu trợ và Phát triển (CRS) thực hiện thì có đến 17 trên tổng số
19 ý kiến cho rằng nên thay cụm từ tàn tật bằng khuyết tật. [31]
Ngày 17/6/2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã thông qua Luật Người khuyết tật, có hiệu lực từ 01/01/2011 thay thế Pháp
lệnh về người tàn tật 1998, chính thức sử dụng khái niệm “Người khuyết tật”
thay cho khái niệm “Người tàn tật” hiện hành, phù hợp với xu hướng nhìn
nhận chung của thế giới. Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Người
khuyết tật 2010 thì người khuyết tật được hiểu là “người bị khiếm khuyết một
hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới
dạng tật khiến cho lao đô
̣
ng, sinh hoa
̣

cho những người có chức năng được thực hiện bình thường, việc xây dựng
làn đường, hoặc lối đi dành riêng cho người khuyết tật chưa phổ biến. Do vậy,
trẻ em khuyết tật khó tiếp cận với các dịch vụ giao thông, công cộng, giáo
dục, việc làm… dẫn đến họ bị cô lập hoặc loại trừ khỏi sinh hoạt của cộng
đồng. Từ chỗ khó tiếp cận các dịch vụ công cộng, tiếp cận giáo dục… trẻ
khuyết tật bị đẩy vào tình trạng có trình độ học vấn thấp hơn và cơ hội việc

18
làm thấp hơn. Khó khăn về vật chất dẫn đến thiệt thòi về tinh thần, tình trạng
khuyết tật này làm tăng nguy cơ nghèo đói, và sự nghèo đói lại làm tình trạng
khuyết tật trầm trọng hơn rất nhiều.
Thứ ba, khó khăn xuất phát từ tâm lý tự ti, mặc cảm, và thái độ kỳ thị
của xã hội nói chung. Bởi quan niệm của xã hội về người khuyết tật còn tiêu
cực, dẫn đến sự kì thị và phân biệt đối xử. Điều này diễn ra dưới nhiều hình
thức, ở nhiều bối cảnh khác nhau như gia đình, cộng đồng, trường học… Đối
với cộng đồng, trẻ khuyết tật được nhìn nhận là đối tượng “đáng thương”,
không có cuộc sống “bình thường”, là “gánh nặng” của toàn xã hội. Trong khi
những quy định ghi nhận ở nhiều đạo luật, nghị định lại chưa phổ biến, người
dân không biết đến sự tồn tại của các quy định đó nên không hiểu được trách
nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với trẻ em khuyết tật là như thế nào… Từ đó,
dẫn đến sự kì thị, phân biệt đối xử. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến trạng
thái tâm lý của trẻ khuyết tật, khiến các em tự xây cho mình một rào cản với
thế giới bên ngoài. Đây chính là khó khăn lớn nhất, ảnh hưởng mạnh mẽ nhất
đến mọi hoạt động của trẻ em khuyết tật.
Có thể thấy, tình trạng khuyết tật gây ra ảnh hưởng lớn đến không chỉ
bản thân trẻ khuyết tật mà còn với cả gia đình có trẻ khuyết tật. Từ đó, hình
thành nên những rào cản hữu hình và vô hình, cản trở trẻ khuyết tật tham gia
vào các hoạt động xã hội, khó có điều kiện phát huy năng lực bản thân, hòa
nhập vào cộng đồng. Do vậy, cần có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế
phần nào tác động tiêu cực mà tình trạng khuyết tật đã gây ra.

tình trạng khuyết tật ở những đứa trẻ được sinh ra từ bố mẹ từng bị phơi
nhiễm chất độc này. Vì vậy, cần phải thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo
vệ trẻ em khỏi những tác động có hại của chiến tranh và xung đột vũ trang đó.
Như vậy, có rất nhiều nguyên nhân gây ra khuyết tật ở trẻ em với tính

20
chất và mức độ rất khác nhau. Do vậy, cần nhận biết và ngăn chặn sớm để
giảm bớt phần nào số trẻ em bị khuyết tật đang ngày càng gia tăng trên phạm
vi toàn cầu. Đồng thời việc xác định rõ nguyên nhân gây ra khuyết tật của trẻ
sẽ là cơ sở giúp phân loại trẻ em khuyết tật, từ đó có cách chăm sóc và giáo
dục cho phù hợp với từng loại trẻ.
1.1.5. Phân loại trẻ em khuyết tật
Pháp luật Việt Nam không quy định cụ thể, riêng biệt về trẻ em khuyết
tật, vì vậy khi phân loại, sẽ dựa vào dạng tật và mức độ khuyết tật được ghi
nhận trong Luật Người khuyết tật năm 2010. Cụ thể:
- Căn cứ trên dạng tật thì trẻ em khuyết tật bao gồm:
Một là, khuyết tật vận động: Là những trẻ có cơ quan vận động bị tổn
thương, biểu hiện dễ nhận thấy là khó khăn trong việc nằm, ngồi, di chuyển,
cầm, nắm… Do đó, trẻ khuyết tật vận động gặp rất nhiều khó khăn trong sinh
hoạt cá nhân, vui chơi, học tập và lao động. Vì vậy trẻ khuyết tật vận động
cần được hỗ trợ về phương tiện đi lại như xe lăn, gậy chống; và đặc biệt là
không gian cần thiết, thuận tiện, phù hợp để di chuyển.
Hai là, khuyết tật nghe nói: Là những trẻ gặp khó khăn trong việc giao
tiếp xã hội, dẫn đến hạn chế trong sinh hoạt, làm việc, học tập và hòa nhập
cộng đồng. Để tiếp nhận thông tin, trẻ cần có sự trợ giúp của ngôn ngữ kí
hiệu, trợ giúp của công nghệ hiện đại. Tuy nhiên, ngôn ngữ kí hiệu cũng có
nhiều hạn chế vì không thể phản ánh được đầy đủ tính chất, mức độ và hoạt
động của cuộc sống như tiếng nói hay chữ viết.
Ba là, Khuyết tật thị giác: là những tật về mắt khiến trẻ giảm hoặc mất
khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status