ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LÊ THỊ HÀ
B¶O §¶M QUYÒN CñA TRÎ EM SèNG CHUNG Vµ
BÞ ¶NH H¦ëNG BëI HIV/AIDS ë VIÖT NAM Chuyên ngành: Pháp luật về Quyền con ngƣời
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng, biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ BẢO ĐẢM QUYỀN TRẺ EM SỐNG
CHUNG VÀ BỊ ẢNH HƢỞNG BỞI HIV/AIDS 6
1.1. QUYỀN CON NGƢỜI CỦA TRẺ EM 6
1.1.1. Khái niệm quyền con ngƣời 6
1.1.2. Quyền của trẻ em trong hệ thống quyền con ngƣời 6
1.2. TÁC ĐỘNG CỦA HIV/AIDS ĐẾN SỰ THỤ HƢỞNG CÁC QUYỀN
CON NGƢỜI CỦA TRẺ EM SỐNG CHUNG VÀ BỊ ẢNH HƢỞNG
BỞI HIV/AIDS 10
1.2.1. Thế nào là trẻ em sống chung và bị ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS 10
1.2.2. Các hệ quả tiêu cực của tình trạng trẻ em sống chung và bị ảnh hƣởng
bởi HIV/AIDS 13
1.2.3. Các quyền con ngƣời cơ bản cần đƣợc bảo vệ đối với trẻ em sống
chung và bị ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS 15
1.3. PHÁP LUẬT QUỐC TẾ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA TRẺ EM SỐNG
CHUNG VÀ BỊ ẢNH HƢỞNG BỞI HIV/AIDS 24
1.4. PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA
TRẺ EM SỐNG CHUNG VÀ BỊ ẢNH HƢỞNG BỞI HIV/AIDS 27
1.4.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta trong việc bảo đảm quyền của trẻ em 27
1.4.2. Nội dung quyền của trẻ em sống chung và bị ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS
TRONG BẢO VỆ QUYỀN CỦA EM SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS 51
2.4.1. Nguyên nhân của hạn chế 51
2.4.2. Bài học kinh nghiệm trong việc bảo đảm quyền của trẻ em sống chung
và bị ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS 59
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM BẢO
ĐẢM QUYỀN CỦA TRẺ EM SỐNG CHUNG VÀ BỊ ẢNH
HƢỞNG BỞI HIV/AIDS Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 65
3.1. DỰ BÁO CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN VIỆC BẢO ĐẢM
QUYỀN CỦA TRẺ EM SỐNG CHUNG VÀ BỊ ẢNH HƢỞNG BỞI
HIV/AIDS Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 65
3.1.1. Về quy mô dân số trẻ em và trẻ em cần bảo vệ đặc biệt 65
3.1.2. Tình hình trẻ em bị ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS trong thời gian tới 66
3.1.3. Tình hình lây nhiễm HIV từ mẹ sang con 67
3.2. MỘT SỐ PHƢƠNG HƢỚNG CƠ BẢN NHẰM BẢO ĐẢM QUYỀN
CỦA TRẺ EM SỐNG CHUNG VÀ BỊ ẢNH HƢỞNG BỞI HIV/AIDS
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 71
3.2.1. Bảo đảm quyền của trẻ em sống chung và bị ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS
là nghĩa vụ của toàn xã hội 71
3.2.2. Tiếp tục hoàn thiện thể chế bảo đảm quyền của trẻ em sống chung và
bị ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS 72
3.2.3. Tăng cƣờng công tác giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật, chính
sách về phòng chống HIV/AIDS ở trẻ em 74
3.2.4. Giảm tình trạng kỳ thị và phân biệt đối xử đối với trẻ em sống chung
và bị ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS 74
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA TRẺ EM
SỐNG CHUNG VÀ BỊ ẢNH HƢỞNG BỞI HIV/AIDS HIỆN NAY 76
3.3.1. Giải pháp đẩy mạnh tuyên truyền thay đổi hành vi trong bảo đảm
quyền của trẻ em sống chung và bị ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS 76
3.3.2. Sửa đổi, bổ sung pháp luật có liên quan đến bảo đảm quyền trẻ em
sống chung và chịu ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS 82
Công ƣớc của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em (The UN
Convention on the Rights of the Child)
HIV
Virut gây suy giảm miễn dịch ở ngƣời (Human Immune
Deficiency Virus)
HOPE
Quỹ hi vọng
ICCPR
Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị
(International Convent on Civil and Political Rights)
ICESCR
Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội
(International Convent on Economic, Social and Cultural Rights)
ILO
Tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization)
MDGs
Mục tiêu thiên niên kỷ
UDHR
Tuyên ngôn toàn thế giói về quyền con ngƣời (Universal
declaration of Human Rights
UNAIDS
Chƣơng trình Phòng chống AIDS của Liên Hợp Quốc (Joint
United Nations Program on AIDS)
UNDP
Chƣơng trình phát triển Liên Hợp Quốc (United nAtions
Development Prgramme)
UNICEF
Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (United nations childrens fund)
UNITED
FRIENDSHIP
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm cuối của thế kỷ XX, sự xuất hiện của đại dịch HIV/AIDS
đã cƣớp đi mạng sống của hàng triệu con ngƣời trên thế giới. Đối với trẻ em, do
đặc điểm non nớt về thể chất và tinh thần, nên đại dịch HIV/AIDS gây ra những
hệ quả đặc biệt nghiêm trọng. Nó hủy hoại về sức khỏe, tinh thần, đe dọa về tính
mạng và hạn chế sự thụ hƣởng các quyền con ngƣời đối với trẻ em ở nhiều nƣớc
cũng nhƣ ở Việt Nam.
Theo thống kê của Cục bảo vệ và Chăm sóc trẻ em (Bộ LĐ- TB- XH) cả
nƣớc có khoảng 5.700 trẻ em dƣới 13 tuổi nhiễm HIV, con số này trên thực tế
còn cao hơn do nhiều nguyên nhân chƣa thống kê chính xác đƣợc. Đó là những
“tảng băng chìm” khi trẻ em bị lây nhiễm từ ngƣời mẹ mang thai và trẻ em sống
trong hoàn cảnh có ngƣời thân bị nhiễm HIV và chết do AIDS. Bên cạnh đó, các
yếu tố kinh tế - xã hội nhƣ nghèo đói, chênh lệch về thu nhập, sự kỳ thị phân biệt
trong đối xử cùng với sự chuyển đổi của nền kinh tế thị trƣờng đã làm cho các
em trở nên dễ bị tổn thƣơng hơn.
Phù hợp với Luật Nhân quyền quốc tế, Hiến pháp và luật pháp Việt Nam quy
định mọi trẻ em không phân biệt dân tộc, giới tính, ngôn ngữ, hoàn cảnh kinh tế,
tình trạng bệnh tật đều có các quyền con ngƣời cơ bản. Nhƣ vậy, trẻ em sống
chung và bị ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS đều đƣợc hƣởng quyền bình đẳng nhƣ mọi
trẻ em khác, đó là: quyền sống, quyền đƣợc học tập, quyền đƣợc chăm sóc sức
khoẻ, quyền đƣợc vui chơi, hoà nhập cộng đồng, quyền đƣợc sống chung với cha
mẹ….là quốc gia sớm phê chuẩn Công ƣớc quốc tế về Quyền trẻ em (CRC),Việt
Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện một cách đồng bộ để bảo đảm thực thi
quyền của trẻ em hiệu quả nhất. Đối với trẻ em sống trong hoàn cảnh HIV/AIDS,
Đảng và Nhà nƣớc ta xác định rằng HIV/AIDS không chỉ là mối hiểm hoạ đối với
sức khoẻ, tính mạng của con ngƣời mà còn là vấn đề liên quan đến tƣơng lai phát
triển nòi giống của dân tộc. Các quyền con ngƣời cơ bản của các em chỉ đƣợc tôn
2
3
Từ những lý do trên tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài: “Bảo đảm quyền của
trẻ em sống chung và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS ở Việt Nam” để làm đề tài
luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trƣớc đến nay Việt Nam đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về
quyền của ngƣời nhiễm HIV/AIDS, trong đó có trẻ em. Nhiều tài liệu, bài viết tiêu
biểu đã đƣợc sử dụng làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu của sinh viên, học
viên, nghiên cứu sinh… tiêu biểu nhƣ:
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu
quyền con ngƣời, Giáo trình lý luận về quyền con ngƣời, Hà Nội, 2002.
Viện Nghiên cứu quyền con ngƣời thuộc Học viện Chính trị- Hành chính-
quốc gia Hồ Chí Minh, Quyền trẻ em, Hà Nội, 2006.
Viện Nghiên cứu quyền con ngƣời, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh, Tài liệu hƣớng dẫn giải đáp về HIV/AIDS và quyền con ngƣời Hà
Nội. 2008.
TS. Nguyễn Văn Sáu - TS. Cao Đức Thái (Đồng chủ biên), Chính sách quốc
gia về phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008
Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình lý luận và pháp luật về
quyền con ngƣời (PGS.TS Nguyễn Đăng Dung chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2009.
Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, Hỏi - Đáp về quyền con ngƣời, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,
Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011
GS.TS Hoàng Kim Quế, Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của các
nhóm xã hội dễ bị tổn thƣơng, Hà Nội, 2010.
Ths Đỗ Thị Hồng Thơm, Luật quốc tế về quyền của những nhóm ngƣời dễ bị
tổn thƣơng, Hà Nội, 2010.
Những công trình nêu trên đã cung cấp những thông tin, kiến thức về
- Hệ thống hoá những văn bản pháp luật có liên quan đến bảo vệ quyền của
trẻ em sống chung và bị ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS ở Việt Nam.
-Thông qua đánh giá quá trình thực thi luật pháp, luận văn đã luận chứng một
5
số giải pháp cơ bản để hoàn thiện pháp luật, cơ chế bảo vệ tốt hơn quyền của trẻ em
sống chung và bị ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS ở Việt Nam hiện nay.
6. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Kết quả của luận văn có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
nghiên cứu, tuyên truyền, đào tạo về quyền trẻ em sống chung và bị ảnh hƣởng bởi
HIV/AIDS; đồng thời cung cấp cơ sở pháp lý cho các nhà hoạch định luật pháp và
chính sách về quyền nhóm trẻ em trên ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn kết
cấu gồm 3 chƣơng nhƣ sau:
Chương 1: Cơ sở pháp pháp lý bảo đảm quyền của trẻ em sống chung và bị
ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS.
Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền trẻ em sống chung và bị ảnh hƣởng
bởi HIV/AIDS ở Việt Nam thời gian qua.
Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm quyền của trẻ
em sống chung và bị ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS ở Việt Nam hiện nay.
1.1.2. Quyền của trẻ em trong hệ thống quyền con ngƣời
Lịch sử phát triển quyền trẻ em
Trong lịch sử phát triển xã hội ở nhiều quốc gia, trẻ em đã sớm đƣợc coi là
một trong những nhóm xã hội dễ bị tổn thƣơng nhất và đƣợc các Nhà nƣớc, các
7
cộng đồng quan tâm bảo vệ. Từ thế kỷ XIV, ở Châu Âu đã xuất hiện những dự án
công cộng dành cho trẻ em (bệnh viện Spedale Degli Innocenti ở Florent, Italia) và
trong thời kỳ này ở Châu Á, Bộ luật Hồng Đức của Việt Nam cũng đã quy định
trách nhiệm của dân chúng và các quan lại địa phƣơng phải giúp đỡ trẻ em tàn tật,
trẻ em mồ côi không nơi nƣơng tựa, bảo vệ chăm sóc trẻ bị lạc, đồng thời quy định
về trừng trị tội gian dâm với trẻ em gái, tội buôn bán phụ nữ, giảm án và hoãn thi
hành án với phụ nữ có thai, đang nuôi con nhỏ. [25, tr.253]
Mặc dù vậy, trong thời kỳ trƣớc đây, ở tất cả các xã hội, việc bảo vệ trẻ em
về cơ bản xuất phát từ các góc độ tình thƣơng, lòng nhân đạo và sự che chở chứ
không phải dƣới góc độ pháp lý từ nghĩa vụ bảo vệ quyền. Do vậy, việc bảo vệ trẻ
em ở thời kỳ trƣớc về cơ bản chƣa mang tính phổ biến, thống nhất, quy chuẩn và
ràng buộc về nghĩa vụ với mọi đối tƣợng trong xã hội.
Phải đến đầu thế kỷ XX, thuật ngữ pháp lý “Quyền trẻ em” (QTE) mới đƣợc
đề cập sau một loạt các biến cố quốc tế lớn mà đặc biệt là cuộc Chiến tranh thế giới
lần thứ nhất (1914 - 1918). [25, tr.253]
Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến các đề xuất bảo vệ quyền trẻ em trên phạm vi
quốc tế xuất phát từ thực trạng vi phạm QTE diễn ra phổ biến khắp mọi nơi trên thế
giới. Trẻ em là nạn nhân của các cuộc xung đột, chiến tranh, các hoạt động tội phạm
có tổ chức, sự phân biệt đối xử với trẻ em, nhất là trẻ em gái diễn ra rất phổ biến ở
hầu hết các nƣớc đang phát triển. Trƣớc thực trạng trên, ở Châu Âu, phong trào bảo
vệ trẻ em đã phát triển mạnh mẽ với việc xuất hiện nhiều tổ chức phi Chính phủ
đứng ra vận động chính sách và tài chính nhằm bảo vệ trẻ em. Sự phát triển mạnh
mẽ của các phong trào này đã thúc đẩy cộng đồng quốc tế thông qua những biện
pháp tập thể trong việc bảo vệ trẻ em. Vào những năm 1920, Hội quốc liên đã thành
ngƣời. Nhƣ vậy, quyền trẻ em chính là quyền của một nhóm xã hội dễ bị tổn
thƣơng. Với tƣ cách là chủ thể của quyền, trẻ em cũng cần đƣợc tôn trọng, bảo
vệ và thực hiện quyền nhƣ ngƣời lớn; bên cạnh đó trẻ em còn đƣợc bảo vệ bằng
những biện pháp đặc thù.
Nguyên tắc và nội dung cơ bản của quyền trẻ em trong công ước CRC
CRC ra đời là một bƣớc ngoặt đánh dấu sự thay đổi trong nhận thức của
9
nhân loại về địa vị pháp lý của trẻ em. Trƣớc kia, vấn đề trẻ em đƣợc nhìn nhận
trong phạm vi gia đình thì nay vấn đề trẻ em đã trở thành mối quan tâm chung của
toàn xã hội. Công ƣớc còn thể hiện khát vọng chung của cộng đồng quốc tế nhằm
nuôi dƣỡng trẻ em trong sự tôn trọng nhân phẩm và là chủ thể quyền con ngƣời,
giúp xua đi mọi hận thù, bất công và từ đó sẽ là một đảm bảo cho hòa bình và an
ninh thế giới trong tƣơng lai.
Công ƣớc đã đề cập đến bốn nguyên tắc cơ bản là: Lợi ích tốt nhất dành cho
trẻ em là ƣu tiên hàng đầu; Không phân biệt đối xử; Đảm bảo sự sống cho trẻ ở mức
tối đa; Đảm bảo quyền đƣợc tham gia của trẻ. Các quyền cụ thể đƣợc ghi nhận chủ
yếu xuất phát từ bốn nguyên tắc này. Trong bối cảnh HIV/AIDS, các nguyên tắc của
CRC vẫn đƣợc coi là cốt lõi trong việc xây dựng luật pháp, chính sách để đảm bảo
các quyền con ngƣời của trẻ em. Chẳng hạn, liên quan đến nguyên tắc không phân
biệt đối xử, Điều 2 CRC ghi nhận: “các quốc gia tham gia công ƣớc phải thi hành mọi
biện pháp thích họp để đảm bảo cho trẻ em đƣợc bảo vệ, tránh khỏi mọi hình thức
phân biệt đối xử”. Đây là nguyên tắc đặc biệt quan trọng mang tính phổ quát, chi phối
toàn bộ các qui định khác của công ƣớc trên mọi phƣơng diện bảo vệ, chăm sóc trẻ
em. Vận dụng vào bối cảnh HIV/AIDS, nguyên tắc này đòi hỏi mọi trẻ em bị nhiễm
HIV/AIDS, trẻ em có bố, mẹ bị nhiễm HIV/AIDS hay trẻ em vì lý do này hay lý do
khác, chịu sự tác động của đại dịch HIV/AIDS phải đƣợc bảo vệ và đối xử bình đẳng
nhƣ tất cả mọi trẻ em khác. Do vậy, trẻ em sống chung và bị ảnh hƣởng bởi
HIV/AIDS cũng đƣợc hƣởng các quyền đã đƣợc quy định trong CRC nhƣ:
- Quyền sống và phát triển (Điều 6)
điều này cho phép các quốc gia có thể quy định độ tuổi đƣợc coi là trẻ em có thể
khác nhau giữa các nƣớc thành viên.
Chính vì lẽ đó, để phù hợp với quy định của Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ
em và Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đối tƣợng trẻ em có
HIV/AIDS cần đƣợc bảo đảm các quyền con ngƣời là những ngƣời dƣới 18 tuổi,
với những đặc trƣng nhƣ sau:
a. Trẻ em sống chung với HIV/AIDS là những trẻ mang trong cơ thể căn bệnh
về HIV, đƣợc xét nghiệm dƣơng tính (+), nếu không đƣợc điều trị kịp thời căn bệnh
11
này sẽ phát triển sang giai đoạn tiếp theo (AIDS), làm nhanh chóng hủy hoại cơ thể
của các em bằng cách làm suy giảm khả năng miễn dịch của cơ thể. Những trẻ em
này phải chung sống suất đời với căn bệnh trên.
b. Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS bao gồm các nhóm đối tƣợng: Trẻ em
có nguy cơ nhiễm HIV cao là trẻ em mồ côi cha, mẹ hoặc cha, mẹ chết vì lý do liên
quan đến HIV/AIDS; trẻ em sống cùng cha, mẹ hoặc ngƣời nuôi dƣỡng nhiễm HIV;
trẻ em sử dụng ma túy; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em là con của ngƣời mua bán
dâm; trẻ em lang thang; trẻ em mồ côi do các nguyên nhân khác; trẻ em sống trong
các cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở giáo dục, trƣờng giáo dƣỡng.
Trẻ em sống chung và bị ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS thƣờng thiếu tình thƣơng
ruột thịt và nhận đƣợc ít tình yêu thƣơng, sự vuốt ve nhƣ những trẻ nhỏ khác, các
em thƣờng cảm thấy buồn tủi và chán nản. Bên cạnh đó do thiếu sự giáo dục của
cha, mẹ và sự ghẻ lạnh, tránh né của những ngƣời xung quanh nên các em thƣờng
dễ bị trầm cảm, chậm nói, chậm phát triển trí não, thiếu khả năng vận động và
không đƣợc vui chơi cùng bạn bè.
Những trẻ em sống chung với căn bệnh HIV/AIDS thì lo sợ khi thấy
những biểu hiện trên cơ thể mình. Trong suy nghĩ, các em hình thành ý niệm
chết sớm bởi lo sợ không có thuốc chữa, những trẻ bị ảnh hƣởng bởi ngƣời thân
bị HIV/AIDS thì hoang mang ám ảnh, không có bệnh mà coi nhƣ có bệnh, các
em luôn bị xa lánh, kỳ thị.
của mình bằng các thành tích học tập, tấm gƣơng vƣợt khó
Nhƣ vậy trẻ em sống chung và bị ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS cũng có những
nhu cầu nhƣ tất cả mọi thành viên khác cũng cần đƣợc đáp ứng đầy đủ các nhu cầu
của cuộc sống để phát triển về thể chất và tinh thần bình thƣờng. Xem xét các khía
cạnh trên để thấy rõ sự tác động nghiêm trọng của HIV/AIDS đối với trẻ em đồng
thời đòi hỏi cộng đồng xã hội phải thay đổi nhận thức, giúp cho các cơ quan, chính
quyền có trách nhiệm bảo đảm quyền lợi của các em trong xây dựng chính sách phải
xuất phát từ những nhu cầu căn bản để từ đó làm cơ sở để thực hiện các chƣơng trình
hành động đúng hƣớng nhằm đảm bảo quyền con ngƣời tốt nhất cho các em.
13
1.2.2. Các hệ quả tiêu cực của tình trạng trẻ em sống chung và bị ảnh
hƣởng bởi HIV/AIDS
- Tác động tiêu cực về mặt tinh thần.
HIV/AIDS đã tạo ra những tác động to lớn và sâu sắc về cuộc sống tinh
thần của trẻ em. Phần lớn các em bị nhiễm HIV/AIDS hoặc sống trong gia đình có
ngƣời thân bị nhiễm HIV/AIDS phải thƣờng xuyên đối mặt với những vấn đề nan
giải và khó khăn nhƣ: đói nghèo, thiếu dinh dƣỡng, thiếu sự chăm sóc của ngƣời
thân và gia đình. HIV/AIDS đã làm cho các em bị mặc cảm, chán nản, sợ hãi và
tuyệt vọng, làm cho các em bị mất mát cô lập, mất đi sự trong sáng hồn nhiên thơ
ngây đúng lứa tuổi, các em luôn tự ti trƣớc bạn bè cùng trang lứa Điều này ảnh
hƣởng đến sự phát triển về thể chất và tinh thần làm hạn chế việc hƣởng thụ các
quyền con ngƣời của các em. Một bộ phận lớn trẻ em mồ côi cha, mẹ hoặc cả hai
bị mất do HIV/AIDS đã mất đi quyền sống chung với cha mẹ, không còn nơi
nƣơng tựa đƣợc đƣa vào các trại mồ côi, các cơ sở từ thiện, cơ sở điều trị nhiều
em lang thang đƣờng phố làm đủ mọi nghề để kiếm sống nên dễ bị lạm dụng hoặc
tham gia vào các tệ nạn xã hội Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thƣơng binh và
Xã hội, hiện nay cả nƣớc có khoảng 457.691 trẻ em bị ảnh hƣởng bởi HIV/AIDS,
trong đó có 9.757 trẻ nhiễm HIV/AIDS. Hơn 50% trẻ trong số đó thuộc các gia
đình nghèo và rất nghèo. [5]
cảm ruột thịt và nhận đƣợc ít tình thƣơng yêu, sự vuốt ve nhƣ các trẻ nhỏ khác.
Trẻ bị nhiễm HIV/AIDS thƣờng bị hạn chế các hoạt động giao tiếp xã hội.
Các em thƣờng bị sống cách li và đƣợc chăm sóc riêng vì sợ gây ảnh hƣởng đến
ngƣời khác và do nhiều ngƣời không muốn tiếp xúc với các em. Khi không bị đau
yếu, các em thƣờng vui đùa, nghịch ngợm, hồn nhiên nhƣ bao trẻ em khác. Tuy
nhiên các em thƣờng bị ghẻ lạnh, bị trêu trọc, bị coi thƣờng, bị canh chừng từ chúng
bạn và thậm chí cả từ những ngƣời chăm sóc các em. Nếu trẻ vị thành niên bị
HIV/AIDS do sử dụng ma tuý, mại dâm… các em sẽ bị cộng đồng, xã hội và thậm
chí cả gia đình kỳ thị, lên án. Bệnh tật, thiếu thốn, cô đơn, lo sợ, mặc cảm…. có thể
nhanh chóng đẩy các em quay lại với các tệ nạn xã hội … Nhìn chung trẻ em bị
nhiễm HIV/AIDS trong bối cảnh hiện nay về cơ bản là không có tƣơng lai.
15
Xem xét nguồn gốc các gia đình, các em bé bị nhiễm HIV/AIDS đa phần xuất
phát từ hậu quả của nạn phân biệt đối xử. Cha mẹ các em thƣờng nghèo khó, mất
nguồn thu nhập và có thể bị tan vỡ hoặc bị chết. Với những trẻ còn cha, mẹ, sự mặc
cảm tự ti, tủi nhục và sự vô trách nhiệm đã khiến họ xa lánh, bỏ rơi các em. Bị bỏ rơi
có nghĩa là các em bị từ chối nuôi dƣỡng, sẽ phải sống và lớn lên trong môi trƣờng
không có ngƣời thân, có nhiều ngƣời cha, mẹ chỉ sau khi phát hiện đứa con do mình
sinh ra bị nhiễm HIV đã đang tâm vứt bỏ các em. Các em bị mất đi quyền sống chung
với cha, mẹ và hậu quả của sự bỏ rơi là các em lớn lên và trƣởng thành không đƣợc
phát triển bình thƣờng về thể chất và tinh thần nhƣ những trẻ em khác.
- Bị xâm phạm những bí mật đời tư.
Trẻ bị nhiễm HIV/AIDS có thể không đƣợc giữ những bí mật đời tƣ liên
quan đến tình trạng sức khỏe, bệnh tật. Điều này khiến cho các em là nạn nhân của
tình trạng phân biệt, kỳ thị hay bỏ mặc, bỏ rơi, ảnh hƣởng nghiêm trọng tới việc thụ
hƣởng quyền con ngƣời cơ bản của các em. [42]. Và với những trẻ em có ngƣời
thân mắc phải căn bệnh HIV/AIDS cũng bị nhìn nhận sai lệch, bị xa lánh trong môi
trƣờng học tập và chăm sóc sức khỏe
Nhìn về tƣơng lai, trẻ em bị lây nhiễm HIV/AIDS mang bệnh cho đến lúc
chƣơng trình phòng chống chỉ đạt hiệu quả khi đánh giá đúng thực tế cuộc sống của
vị thành niên, đồng thời tác động đến đời sống tình dục bằng cách đảm bảo bình
đẳng trong tiếp cận thông tin, kỹ năng sống và các biện pháp phòng tránh phù hợp.
Công ƣớc đã khẳng định trẻ em có quyền đƣợc sống, cũng nhƣ đƣợc hƣởng lợi
ích từ các chính sách kinh tế, xã hội tạo cho các em cơ hội tiếp tục trƣởng thành và
phát triển theo nghĩa rộng nhất của từ này. Nhà nƣớc có nghĩa vụ thừa nhận quyền
sống và phát triển của trẻ em. Điều này cũng nảy sinh yêu cầu quan tâm đúng mức
đến đặc trƣng giới tính cũng nhƣ các hành vi và lối sống của trẻ em, kể cả khi điều
này không còn phù hợp với quan niệm xã hội về những gì có thể chấp nhận đƣợc theo
các quy tắc, chuẩn mực văn hóa thông thƣờng đối với nhóm tuổi nhất định.
Liên quan đến quyền sống còn của trẻ em tại Điều 65, Hiến pháp năm 1992
quy định: “Trẻ em đƣợc gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục” Điều 67
quy định: "Bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho trẻ khi trẻ bị mồ côi không nơi nƣơng
17
tựa đƣợc nhà nƣớc và xã hội giúp đỡ". Trong hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2013
tại Điều 21 qui định ngắn gọn và súc tích: “Mọi ngƣời có quyền sống” Nhƣ vậy,
theo quy định của Hiến pháp Việt Nam, tất cả mọi ngƣời không phân biệt thành
phần nam, nữ, tín ngƣỡng tôn giáo, địa vị pháp lý trong đó có trẻ em đều có quyền
đƣợc sống và đƣợc hƣởng một mức sống cao nhất có thể và trẻ em có HIV/AIDS
cũng không nằm ngoài đối tƣợng đƣợc hƣởng quyền này.
- Quyền được chăm sóc sức khỏe
Đây là quyền cơ bản của trẻ em đƣợc ghi nhận trong Công ƣớc tại Điều 24.
Theo đó, mọi trẻ em có quyền đƣợc hƣởng tình trạng sức khỏe cao nhất có thể đƣợc và
đƣợc chăm sóc y tế Các quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng không có trẻ em nào
bị tƣớc đoạt quyền đƣợc hƣởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Theo các Hƣớng dẫn
quốc tế về HIV/AIDS và quyền con ngƣời năm (1966), các quốc gia cần cung cấp
thƣờng xuyên và bình đẳng các dịch vụ hàng hóa và các thông tin liên quan đến điều trị
HIV/AIDS cho những ngƣời bị nhiễm HIV, trong đó đặc biệt quan tâm đến phụ nữ, trẻ
em và những nhóm dễ bị tổn thƣơng khác Hƣớng dẫn số 8 khuyến nghị: Các quốc gia