MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay trên thế giới, các tổ chức phi chính phủ (PCP) đã trở thành
một nhân tố quan trọng hoạt động trên nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực cứu trợ
nhân đạo và phát triển xã hội. Trong thời gian qua, các tổ chức PCP đã phát
triển rất mạnh mẽ, trở thành một hiện tượng có tính toàn cầu đến mức người
ta đã nói tới một “cộng đồng PCP” mà quan hệ đối ngoại của các quốc gia cần
phải tính đến. Trong quá trình phát triển xã hội bên cạnh nỗ lực của các chính
phủ và tổ chức quốc tế, các tổ chức PCP cũng đã góp một phần công sức đáng
kể nhằm cải thiện cuộc sống của những người nghèo và những người bị thiệt
thòi trong xã hội. Vai trò của các tổ chức PCP ngày càng được khẳng định, sự
tham gia của họ trên các diễn đàn về kinh tế, xã hội và phát triển ngày một
tăng. Tiếng nói của các tổ chức PCP đối với các vấn đề thuộc mối quan tâm
chung của cộng đồng quốc tế ngày càng được các nước và các tổ chức quốc tế
lớn như Liên hợp quốc (UN), Chương trình phát triển của Liên hợp quốc
(UNDP) và đặc biệt các tổ chức ngân hàng, tài chính thế giới như Ngân hàng
thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) quan tâm. Chính phủ nhiều nước
ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về vai trò và ảnh hưởng của các tổ chức
PCP, tăng cường thông qua các tổ chức PCP triển khai các dự án viện trợ
nhằm thực hiện chính sách đối ngoại của mình.
Việt Nam có quan hệ với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
(PCPNN) từ khá lâu và trên nhiều lĩnh vực như cứu trợ thiên tai, y tế, giáo
dục đào tạo, trao đổi văn hóa và kỹ thuật, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi
trường… Mức độ tham gia của các tổ chức này vào công cuộc phát triển kinh
tế - xã hội của Việt Nam ngày càng trở nên sâu rộng, điều này không chỉ thể
hiện qua số lượng các tổ chức PCPNN hoạt động tại Việt Nam và giá trị
nguồn viện trợ ngày càng tăng; lĩnh vực và địa bàn hoạt động ngày càng mở
1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về công
tác PCPNN song mới chỉ nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ những vấn đề như
vai trò, phương thức hoạt động, kinh nghiệm xây dựng dự án viện trợ, những
đóng góp tích cực và những vấn đề mặt trái của các tổ chức PCPNN tại Việt
Nam, hoàn thiện QLNN về công tác PCPNN tại Việt Nam…Tuy nhiên, chưa
có nhiều tài liệu nghiên cứu đầy đủ và chính thức về thực trạng hoạt động và
QLNN về hoạt động của các tổ chức PCPNN tại TPHCM. Đã có một số cơ
quan quản lý và một số nhà nghiên cứu đưa ra các bài tham luận đề cập tới
vấn đề QLNN về hoạt động của các tổ chức PCPNN tại TPHCM song những
nghiên cứu đó chủ yếu phản ánh thực trạng quản lý của đơn vị cụ thể, chưa
phải là nghiên cứu ở tầm vĩ mô, chưa mang tính khái quát và tính lý luận cao.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực trạng QLNN về hoạt động
của các tổ chức PCPNN tại TPHCM hiện nay và đề xuất một số giải pháp để
hoàn thiện. Cụ thể, đề tài tập trung giải quyết những vấn đề sau:
-
Làm rõ cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức
phi chính phủ nước ngoài.
-
Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức phi
chính phủ nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
-
Đề xuất những giải pháp và kiến nghị hoàn thiện quản lý nhà nước về
hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại TP.HCM.
phi chính phủ nước ngoài.
-
Chương II: Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức
phi chính phủ nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
-
Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về hoạt động
của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh.
7. Đóng góp mới của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
cán bộ tham gia trong lĩnh vực QLNN về hoạt động của các tổ chức PCPNN
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và cho việc học tập hoặc nghiên cứu trên
lĩnh vực có liên quan.
4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT
ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI
1.1. Một số vấn đề lý luận về tổ chức phi chính phủ nước ngoài
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm tổ chức phi chính phủ
Thuật ngữ “tổ chức phi chính phủ”, theo tiếng Anh thường gọi là Non
Governmental Organization (viết tắt là NGO), theo tiếng Pháp là Organisation
Non Gouvernementale (viết tắt là ONG) chính thức xuất hiện lần đầu tiên tại
Châu Âu vào đầu thế kỷ XX. Cụm từ này sau đó đã được sử dụng phổ biến
Tóm lại, có thể thấy PCP theo cách hiểu một cách phổ quát chung nhất
là các tổ chức Hội, Quỹ văn hóa – xã hội, Hội từ thiện, các tổ chức phi vụ lợi
hoặc các pháp nhân khác theo luật pháp không thuộc khu vực nhà nước tham
gia vào các hoạt động hỗ trợ phát triển và hoạt động không vì lợi nhuận. Nghĩa
là, mọi khoản lợi nhuận (nếu có) thì không được và không thể phân phối theo
kiểu chia lợi nhuận.
Tuy nhiên, không phải tất cả các nước trên thế giới đều hoàn toàn thống
nhất với nhau về mặt định nghĩa pháp lý cũng như trong cách gọi về tổ chức
PCP. Tùy theo đặc thù và tính chất cần nhấn mạnh mà ở các nước khác nhau
lại sử dụng những thuật ngữ khác nhau để chỉ các tổ chức PCP. Chẳng hạn ở
Pháp, đó là Tổ chức kinh tế - xã hội (Économie Sociale); ở Mỹ thì gọi là Tổ
chức phi lợi nhuận hay Tổ chức tự nguyện cá thể (Private Voluntary
Organizations); Đối với Anh, đó là Hội từ thiện công (Public Charities); Đối
với Đức, chỉ đơn giản gọi là Hiệp hội (Verbände); trong khi đó Trung tâm
nghiên cứu toàn cầu thúc đẩy sự tham gia của công dân (The Center for Study
of Global Governance) lại thường sử dụng thuật ngữ Tổ chức xã hội dân sự
(Civil Society Organization).
Tại Việt Nam “Tổ chức phi chính phủ” cũng là một thuật ngữ mới. Cụm
từ này được nhắc đến một cách chính thức lần đầu tiên vào năm 1992 trong
Luật Tổ chức Chính phủ, sau đó là Luật Hợp tác xã năm 1996. Tuy nhiên,
6
chúng mới chỉ dừng lại ở mức đơn giản là được đề cập đến chứ không được
định nghĩa hay quy định cụ thể và cho tới nay ở Việt Nam chưa có một định
nghĩa pháp lý chính thức về tổ chức PCP. [11]
Trên cơ sở nhận định của các nhà khoa học, tại Việt Nam khái niệm tổ
chức PCP có thể được hiểu là “tổ chức tự nguyện của nhân dân, có tư cách
pháp nhân, cùng ngành, nghề, giới, nhu cầu… hoạt động một cách thường
1.1.2.1 Đặc trưng của các tổ chức PCP
Tùy theo tên gọi khác nhau các tổ chức PCP cũng có những đặc trưng
riêng của mình. Tuy nhiên, từ các khái niệm của mình có thể thấy hầu hết các
tổ chức PCP đều có cùng một số đặc trưng chính như:
- Tính xã hội. Tổ chức PCP chỉ xuất hiện từ khi con người có ý thức
được về sức mạnh tập thể, sức mạnh của sự hợp tác với nhau giữa các nhóm
người, giữa các cộng đồng người. Khi xã hội càng phát triển, dân chủ trong xã
hội càng được nâng cao thì tính năng động, tích cực của con người càng được
nâng cao, thúc đẩy nhu cầu gắn bó với nhau trong một tổ chức hòa hợp tâm lý,
hòa hợp lợi ích. Những tác động đó khiến tính xã hội của các tổ chức PCP
càng đậm nét hơn
- Tính tự nguyện. Hầu hết các tổ chức PCP được lập ra từ sự tự
nguyện của các thành viên và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện. Tính tự
nguyện được thể hiện qua việc các thành viên tự giác thực hiện các nhiệm vụ
của tổ chức mà thường không đòi hỏi bất kỳ điều kiện nào. Sự tự nguyện có
thể là hình thức đóng góp về thời gian, công sức hay về của cải vật chất. Tính
tự nguyện của các tổ chức PCP bền vững tới mức nó trở thành một trong
những nguyên tắc hoạt động nội bộ và quan hệ đối ngoại của các tổ chức PCP.
- Tính độc lập. Các tổ chức PCP thường được hình thành và hoạt
động mang tính độc lập tương đối với Chính phủ. Chúng tuy được cơ quan có
thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, nhưng lại không lệ thuộc vào
các cơ quan đó và hoạt động theo sự quản lý điều hành của những người sáng
8
lập; tự trang trải về kinh phí trên nguyên tắc độc lập với chính phủ và nằm
trong trong khuôn khổ chung của xã hội.
- Tính không vụ lợi bản thân. Mục tiêu hoạt động của các tổ chức
PCP hết sức đa dạng tùy theo loại tổ chức cụ thể. Tuy nhiên, đích hướng tới
thường có nguồn gốc, cách thức hoạt động, cách huy động nguồn ngân sách
hoạt động rất đa dạng và không theo một khuôn mẫu chung nhất định nào. Có
thể thấy rõ điều này qua một số dẫn chứng như:
Một số tổ chức như các trường đại học, viện nghiên cứu, viện bảo
tàng, Hiệp hội doanh nghiệp...nếu theo quan điểm quốc tế thì không phải là tổ
chức PCP mà chỉ là tổ chức phi lợi nhuận. Tuy nhiên, khi các tổ chức này vào
Việt Nam tiến hành hoạt động từ thiện nhân đạo thì vẫn được xem là tổ chức
PCPNN và được đối xử không phân biệt với những loại PCPNN khác. Ví dụ
các tổ chức Phòng Thương mại và công nghiệp Slovakia, Đơn vị nghiên cứu
lâm sàng trường Đại học Oxford…
Một số cá nhân là người nước ngoài, người Việt Nam mang quốc
tịch nước ngoài hoặc người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài với ngân sách tự
có khi vào hoạt động từ thiện nhân đạo ở Việt Nam với một quy mô nhất định
và cách thức tổ chức nhất định cũng có thể được coi là tổ chức PCPNN, dù
rằng nhiều thành viên trong tổ chức này vẫn mang quốc tịch Việt Nam. Chẳng
hạn như các tổ chức Hiệp hội các tình nguyện viên đã nghỉ hưu vì sự phát triển
(AREBCO), Hội huynh đệ Á- Âu (FEA) …
- Tính đa dạng về nội dung hoạt động: nội dung hoạt động của các tổ
chức PCPNN triển khai thực hiện tại Việt Nam cũng rất đa dạng và phức tạp.
Họ không chỉ hoạt động trên các lĩnh vực từ thiện nhân đạo mà còn tham gia
trong nhiều lĩnh vực khác như xây dựng thiết chế, bảo vệ môi trường, cố vấn
kỹ thuật…
10
- Tính phối hợp trong hoạt động. Các tổ chức PCPNN hoạt động tại
Việt Nam hầu hết đều không hoạt động độc lập mà thường phải hoạt động
thông qua chính quyền các cấp hoặc qua các tổ chức hội đoàn, quần chúng của
Việt Nam. Đây cũng là điểm khác biệt lớn trong cách làm việc của các tổ chức
thành viên. Bên cạnh những đóng góp về vật chất và hiện vật, các tổ chức
PCPNN cùng các tình nguyện viên của mình còn có các hỗ trợ khác như
hướng dẫn kỹ thuật, đào tạo và chuyển giao kinh nghiệm. Từ việc tham gia
quản lý và thực hiện các dự án các đối tác Việt Nam đã không chỉ tranh thủ
được nguồn vốn, kỹ thuật mà còn học hỏi được kinh nghiệm tổ chức, điều
hành hoạt động và quản lý của các tổ chức PCPNN, nâng cao kỹ năng chuyên
môn, trình độ hiểu biết và phương pháp làm việc của mình.
Các tổ chức PCPNN còn có vai trò tích cực trong việc phát huy tính
năng động, tăng cường kiến thức, khả năng tự quản lý của người dân. Có thể
nói, việc tham gia các dự án và hoạt động của các tổ chức PCPNN là một môi
trường xã hội rèn luyện tính chủ động, sáng tạo cho người dân.
Ba là, giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Các tổ chức PCPNN
qua các hoạt động của mình cũng đã tạo điều kiện để người dân phản ánh
được những nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của mình, qua đó giúp nhà nước có
những chủ trương, chính sách và biện pháp quản lý đúng và phù hợp với thực
tiễn xã hội.
Nhiều chương trình, dự án của các tổ chức PCPNN đã có hỗ trợ tích
cực trong việc hoạch định các chính sách và hoàn thiện các văn bản QLNN
của Việt Nam trên lĩnh vực đó. Nhất là các chương trình dự án liên quan đến
vấn đề bình đẳng giới, bảo vệ quyền của phụ nữ, trẻ em.
Bốn là, mở rộng quan hệ hợp tác và tham gia hội nhập khu vực và
thế giới. Các tổ chức PCPNN do đặc điểm, tính chất và mục tiêu hoạt động đã
tạo ra sự hợp tác đa phương và song phương giúp các nước có điều kiện mở
rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực. Ngày nay, nhiều Hội nghị
quan trọng của Liên hiệp quốc, Hội nghị khu vực hoặc liên khu vực hay các
12
diễn đàn quốc tế khi được tổ chức thì đều có các diễn đàn song hành của các
vụ lợi của Hội Chữ thập đỏ Quốc tế đã thu hút sự tham gia nhiệt tình của chính
phủ nhiều nước và nhanh chóng lan tỏa phát triển hệ thống chi nhánh của
mình tại nhiều quốc gia khác. Sau đó, các tổ chức Caritas Switzland được
thành lập ở Thụy Sỹ năm 1901 hay “Quỹ cứu trợ nhi đồng Anh” (Save the
Children Fund) được thành lập ở Anh Quốc vào năm 1919.... có thể được xem
là các tổ chức PCP lớn đầu tiên ra đời với mục đích giúp đỡ, cứu trợ các nạn
nhân trong chiến tranh, thiên tai ở nước sở tại.
Tuy nhiên, càng về sau hoạt động của các tổ chức PCP ngày càng mở
rộng đặc biệt là sau Chiến tranh thế giới thứ II. Không còn đơn thuần là những
hoạt động tương thân tương ái như nguồn gốc ban đầu, hoạt động của các tổ
chức PCP ngày càng được thực hiện một cách có tổ chức hơn, tính xã hội ngày
càng cao và hình thức hoạt động ngày càng đa dạng, phong phú hơn. Tồn tại
dưới nhiều hình thức và tên gọi khác nhau, các tổ chức PCP có mặt ở khắp
mọi nơi trên thế giới. Số lượng các tổ chức PCP ngày càng gia tăng, nhiều
người cho rằng ước tính số tổ chức PCP quốc tế đang hoạt động có thể có
không ít hơn 5 vạn tổ chức. Số lượng các PCP tại các quốc gia còn cao hơn
nhiều chẳng hạn như Ấn Độ có khoảng 3.3 triệu tổ chức, Nga có 277.000 tổ
chức, Indonesia có tới gần 20.000 tổ chức. Tại Việt Nam hiện nay chưa thể
xác định cụ thể số lượng các tổ chức PCP, nhưng ước tính có không dưới vài
chục ngàn tổ chức PCP ở cấp cơ sở.[28]
Ngày nay, các tổ chức PCP đã nổi lên như một lực lượng xã hội rộng
khắp. Hoạt động của các tổ chức PCP không chỉ tại các nước công nghiệp phát
triển mà còn vươn sang cả các nước thuộc thế giới thứ ba. Ngày càng có nhiều
tổ chức PCP đến triển khai hoạt động hỗ trợ các nước kém và đang phát triển,
trong đó có Việt Nam. Tính đến nay theo số liệu thống kê được thì có khoảng
gần 1000 tổ chức PCP của các nước trên thế giới (gọi là các tổ chức PCPNN)
hiện có hoạt động tại Việt Nam.
14
15
Mỹ trong năm 2010. Chương trình viện trợ của các tổ chức PCPNN được
triển khai ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước, đặc biệt tập trung vào những
vùng còn nghèo, vùng sâu, vùng xa và ngày càng tập trung hơn vào các lĩnh
vực phù hợp với các ưu tiên và theo định hướng phát triển kinh tế-xã hội của
đất nước ta, đặc biệt là xoá đói giảm nghèo và phát triển bền vững. [30]
1.1.5. Phân loại các tổ chức PCPNN
Như đã giới thiệu ở trên, các tổ chức PCP thường rất đa dạng và có thể
phân loại theo nhiều cách khác nhau tùy theo các tiêu chí khác nhau. Dưới
đây là một số hình thức chính phân loại các tổ chức PCPNN đang hoạt động
tại Việt Nam thường được sử dụng nhất.
Thứ nhất là phân loại theo phạm vi hoạt động. Hiện có ba loại hình
PCPNN hoạt động tại Việt Nam là
- Các tổ chức PCPNN mang tính chất quốc gia là tổ chức mà các
thành viên đều mang một quốc tịch. Các tổ chức này xuất hiện trên thế giới
rất sớm. Phạm vi hoạt động chủ yếu phục vụ cho từng cộng đồng, hoạt động
trong phạm vi một nước. Tại Việt Nam các tổ chức dạng này chiếm số lượng
đa số tuyệt đối.
- Các tổ chức PCPNN mang tính chất quốc tế là tổ chức mà các thành
viên của nó mang nhiều quốc tịch khác nhau sáng lập ra. Về số lượng, các tổ
chức dạng này ít hơn nhiều so với các tổ chức PCP quốc gia, tuy nhiên, phạm
vi hoạt động của họ rộng khắp trên thế giới, và họ phải tuân theo luật pháp
của nước nhận sự hợp tác. Tính chất hoạt động của các tổ chức dạng này
thường rất chuyên nghiệp, có trụ sở làm việc, biên chế bộ máy, đội ngũ nhân
viên đông đảo và làm việc rất chuyên nghiệp. Ví dụ các tổ chức Care Quốc tế,
OXFAM quốc tế…
17
- Các tổ chức PCPNN do các doanh nghiệp, công ty thành lập. Người
sáng lập tổ chức thường có công ty và vẫn thực hiện các hoạt động kinh
doanh. Tuy nhiên họ sẽ đóng góp một phần lợi nhuận để làm các công việc từ
thiện như chia sẻ đóng góp trách nhiệm xã hội. Đây là xu hướng mà hiện nay
nhiều công ty đang hướng tới. Ví dụ như Qũy phòng chống thương vong châu
Á (AIPF), Qũy Vina Capital…
- Các tổ chức PCPNN không trực tiếp viện trợ. Các tổ chức dạng này
thường đứng ra thực hiện dự án nhưng nguồn ngân sách hoạt động không phải
của tổ chức mà do tổ chức đó vận động, quyên góp từ chính phủ hoặc các tổ
chức PCPNN khác. Các tổ chức dạng này thường có bộ máy làm việc chuyên
nghiệp, có kinh nghiệm điều hành dự án hoặc có đội ngũ tình nguyện viên
lớn. Ví dụ tổ chức Sức khỏe gia đình quốc tế (FHI) nhận nguồn tài trợ từ
USAIDS.
- Phần còn lại và chiếm đa số là các tổ chức dạng nhỏ hoặc trung
bình. Các tổ chức dạng này thường có bộ máy nhỏ gọn, ít nhân viên chuyên
nghiệp mà đa phần là tình nguyện viên. Đây là lực lượng chủ yếu đang hoạt
động trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Tuy không có nguồn ngân sách và
tầm ảnh hưởng lớn nhưng các hiệu quả đem lại của các tổ chức PCPNN dạng
này là khá thiết thực.
Thứ ba là hình thức phân loại theo lĩnh vực hoạt động của các tổ
chức PCPNN, thường có các nhóm chính sau
- Các tổ chức hoạt động trên lĩnh vực y tế. Các tổ chức này thường
thực hiện các hoạt động nhằm cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho
một số đối tượng cụ thể; khuyến khích các hành vi có lợi cho sức khỏe; hỗ trợ
nghiên cứu các bệnh, phương pháp phòng ngừa, chữa trị bệnh; hỗ trợ giúp
nâng cao năng lực, điều kiện kỹ thuật, trang thiết bị y tế của các đối tác thụ
khác vay hoặc dùng vốn đó để thực hiện một hoạt động khác trong địa
phương.
19
- Các tổ chức hoạt động trên lĩnh vực hỗ trợ nâng cao năng lực. Đây
là lĩnh vực hoạt động khá mới mẻ bên cạnh việc viện trợ về vật chất. Các tổ
chức PCPNN sẽ giúp các cơ quan, tổ chức của Việt Nam tăng cường khả năng
tổ chức, quản lý hoạt động. Hình thức hoạt động chính của dạng này là
chuyển giao kỹ thuật, tổ chức tập huấn, tổ chức hội thảo trao đổi kinh nghiệm
qua đó giúp nâng cao năng lực của đối tác.
- Các tổ chức hoạt động trên các lĩnh vực khác như nông nghiệp, bảo
vệ và quản lý tài nguyên thiên nhiên, phát triển cộng đồng, phụ nữ…
Ngoài ra còn có một số hình thức phân loại khác như phân loại theo
quốc tịch, theo tính chất và quy mô nguồn vốn hay theo khu vực hoạt động
cũng thường được sử dụng khi sắp xếp, phân loại các tổ chức PCPNN.
1.2. Quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức phi chính phủ
nước ngoài
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức phi
chính phủ nước ngoài
Để nghiên cứu chuyên sâu và làm rõ hơn khái niệm quản lý nhà nước về
hoạt động của các tổ chức PCPNN, trước hết cần phải nghiên cứu làm rõ thuật
ngữ “Quản lý nhà nước”.
Quản lý nhà nước (QLNN) là sự tác động có chủ đích của nhà nước vào
các quan hệ xã hội nhằm làm cho các quan hệ đó diễn ra theo chiều hướng tốt
nhất cho sự phát triển đất nước và mỗi con người. Nói cách khác QLNN là việc
thực thi các loại quyền lực nhà nước nhằm tác động và điều chỉnh mọi quan hệ
xã hội nhằm làm cho quốc gia phát triển ổn định và bền vững.
QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà
thể hoạt động QLNN về đối ngoại nhân dân, vì vậy nó cũng mang những đặc
điểm chung của hoạt động QLNN về đối ngoại và đối ngoại nhân dân.
Có thể thấy QLNN về hoạt động của các tổ chức PCPNN có một số đặc
điểm chính như :
21
- Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị. Việc quản lý hoạt
động của các tổ chức PCPNN trước hết phải đảm bảo đúng đường lối, chính
sách chỉ đạo của Đảng về đối ngoại nói chung và đối ngoại nhân dân nói riêng;
phải đảm bảo sự quản lý thống nhất, tăng cường sự tham gia của nhân dân
trong công tác quản lý, phát huy cơ chế hợp tác 3 bên: chính quyền – nhân dân
vùng hưởng lợi – tổ chức PCPNN. Do vậy, quản lý nhà nước đối với các
TCPCPNN phải luôn song hành với hệ thống chính trị, phù hợp với các quyết
sách chính trị của Đảng và Nhà nước.
- Tính pháp quyền. Mọi hoạt động QLNN phải đảm bảo nằm trong
khuôn khổ quy định của pháp luật. Việc quản lý hoạt động của các tổ chức
PCPNN phải dựa trên cơ sở pháp luật của Nhà nước và pháp luật được sử
dụng làm công cụ chủ yếu để quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN.
- Tính thống nhất và linh hoạt. QLNN về hoạt động của các tổ chức
PCPNN phải dựa trên cơ sở quy định chung của pháp luật; không cho phép
các cơ quan quản lý của Nhà nước thực hiện việc quản lý một cách tùy tiện,
theo cảm tính hay theo ý muốn chủ quan. Do tính chất đa dạng, hoạt động của
các tổ chức PCPNN liên quan đến rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như
chính trị, kinh tế, văn hoá, an ninh, quốc phòng, ngoại giao nên QLNN trên
lĩnh vực này cần có sự thống nhất trong quản lý. Bên cạnh đó, trong quá trình
quản lý cũng cần có sự linh hoạt, giao một số quyền hạn và trách nhiệm qua
đó tạo điều kiện cho các bộ, ngành và địa phương có thể chủ động, linh hoạt
giải quyết một số vấn đề cụ thể nào đó. Qua đó, phát huy tính sáng tạo, chủ
khuôn khổ pháp luật và những chính sách hiện hành của Việt Nam, đồng thời
không trái với pháp luật quốc tế.
Hai là, quản lý nhà nước để phát huy mặt tích cực của các tổ chức
PCPNN.
Không chỉ nhằm mục đích quản lý, QLNN còn nhằm mục đích tạo điều
kiện thuận lợi cho các tổ chức PCPNN hoạt động và phát huy những tác dụng
tích cực của mình và qua đó thu hút tối đa mọi nguồn lực đóng góp cho sự
phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
23
Là một nước nông nghiệp lạc hậu, lại trải qua nhiều năm bị chiến tranh
tàn phá, thường xuyên bị thiên tai đe doạ, cuộc sống của người dân còn gặp
nhiều khó khăn thiếu thốn, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã không ngừng nỗ
lực đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước để đạt được
mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Trong
sự nghiệp to lớn và nặng nề này, chúng ta luôn cần huy động và tranh thủ sự
giúp đỡ quí báu, có hiệu quả của chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế
trong đó có cả các tổ chức PCPNN.
QLNN còn nhằm mục đích khai thác có hiệu quả nguồn viện trợ của các
tổ chức PCPNN. Sự hỗ trợ của các tổ chức PCPNN tuy không lớn so với các
nguồn viện trợ khác như viện trợ phát triển chính thức (ODA), song cũng là
một nguồn lực quan trọng giúp nhà nước tháo gỡ khó khăn trong giai đoạn
khôi phục, xây dựng kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Nhìn chung nguồn viện trợ
này có tác dụng thiết thực đối với nhiều ngành, địa phương và cơ sở, nhất là
những cơ sở nghèo và là một nguồn bổ sung đáng kể cho ngân sách quốc gia.
Do đó nó có một ý nghĩa nhất định đối với nền kinh tế của Việt Nam, đặc biệt
là khi nguồn viện trợ này được tập trung cho các vùng sâu, vùng xa, vùng bị
thiên tai.
Ba là, quản lý nhà nước để hạn chế mặt tiêu cực của các tổ chức
PCPNN.
Do những đặc thù riêng, hoạt động của các tổ chức PCPNN cũng rất cần
có sự quan tâm đặc biệt và quản lý sâu sát của nhà nước và chính quyền các
cấp bởi đây là một lĩnh vực rất nhạy cảm, liên quan nhiều đến ổn định chính
trị, an ninh, quốc phòng của quốc gia. Nếu không có sự quản lý chặt chẽ sẽ
không loại trừ những tác động xấu cũng như không thể phát huy được hiệu
quả của hoạt động này.
QLNN về hoạt động của các tổ chức PCPNN nhằm bảo vệ lợi ích dân
tộc, độc lập chủ quyền, bí mật quốc gia; ngăn ngừa rò rỉ thông tin và ngăn
ngừa phòng chống sự xâm nhập của các yếu tố độc hại từ bên ngoài.
25