Quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
--------------------------------------

VŨ THỊ THỦY

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI
CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI, 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
--------------------------------------

VŨ THỊ THỦY

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC PHI
CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số

: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ


1.4 Các yếu tố chủ yếu tác động đến hoạt động của các tổ chức phi chính phủ
nước ngoài tại Việt Nam ................................................................................. 12
1.5 Phân loại hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài ............... 16
1.6 Kinh nghiệm quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại một số
nước ................................................................................................................. 27
CHƯƠNG 2 Thực trạng quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ
nước ngoài tại Việt Nam ............................................................................... 34
2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý hoạt động của các tổ chức
phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam .......................................................... 34
2.2 Khái quát về tình hình hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước
ngoài tại Việt Nam .......................................................................................... 35
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
tại Việt Nam .................................................................................................... 37
2.4 Các cơ chế chính sách quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ
nước ngoài tại Việt Nam ................................................................................. 44
2.5 Những vấn đề đặt ra trong quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính
phủ nước ngoài tại Việt Nam .......................................................................... 51
Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động của các tổ
chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam ............................................. 56
3.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến hoạt động của các tổ chức
phi chính phủ nước ngoài ................................................................................ 56
3.2 Quan điểm và định hướng của tác giả về quản lý hoạt động của các tổ
chức phi chính phủ nước ngoài ....................................................................... 61


3.3 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động của các tổ chức
phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam .......................................................... 67
KẾT LUẬN .................................................................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 72


INGOs

6

USAID

7

UNDP

8

EU

The Eropean Union (Liên minh Châu Âu)

9

WB

World Bank (Ngân hàng Thế giới)

10

ADB

The Asian Development (Ngân hàng Phát triển Châu Á)

12


United Nations Development Programme (Chương trình Phát
triển Liên Hiệp quốc)


DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT

DANH MỤC BẢNG BỂU

TRANG

1

Bảng 1.5.1: Giá trị viện trợ PCPNN phân loại theo tỉnh, thành phố

16

2
3
4
5

Bảng 1.5.2: Lĩnh vực hoạt động của một số tổ chức PCPNN tại
Việt Nam
Bảng 1.6.1: Lĩnh vực hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Lào
năm 2015
Bảng 1.6.2 Lĩnh vực hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Cămpu-chia năm 2015
Bảng 2.3.1: Số lượng các tổ chức PCPNN hoạt động tại Việt Nam
giai đoạn 2006-2016


(gọi tắt là PCPNN). Tuy nhiên, năm 1975 nhiều tổ chức PCPNN đã chấm dứt
hoạt động tại miền Nam Việt Nam. Đến năm 1978, có 70 tổ chức PCPNN
đăng ký hoạt động tại Việt Nam với giá trị cam kết khoảng 30 triệu đô la Mỹ/
năm, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nhân đạo, từ thiện và giúp Việt Nam
khắc phục hậu quả chiến tranh. Từ năm 1986, với chính sách đổi mới của
Đảng và Nhà nước, hoạt động của các tổ chức PCPNN tăng lên cả về số
lượng và chất lượng. Có thể nói, các tổ chức PCPNN đã trở thành nhân tố
quan trọng trong nhiều lĩnh vực đặc biệt trong lĩnh vực y tế, giáo dục - đào
tạo, tài nguyên - môi trường và phát triển kinh tế - xã hội.
Tính đến thời điểm hiện tại Việt Nam có quan hệ với trên 1.000 tổ chức
PCPNN, trong đó trên 507 tổ chức thường xuyên có hoạt động, trên 300 tổ
chức có văn phòng đặt tại Việt Nam, các tổ chức này chủ yếu đến từ Châu Âu
(42%), Bắc Mỹ (40%) và Châu Á -Thái Bình Dương (18%), hoạt động của
các tổ chức PCPNN được triển khai trên địa bàn 63 tỉnh/thành phố.
Hoạt động của các tổ chức PCPNN được triển khai không vì mục đích
lợi nhuận, không vì mục đích tôn giáo và không vì mục đích chính trị đã hỗ
trợ tích cực các chương trình xóa đói giảm nghèo, bảo về môi trường, phát
triển kinh tế - xã hội; đồng thời cũng góp phần tích cực trong việc tạo dựng
dư luận ủng hộ Việt Nam trên trường quốc tế về các vấn đề dân chủ, nhân
quyền, dân tộc, tôn giáo. Nhiều tổ chức PCPNN đã khẳng định được vai trò
góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững; giảm nghèo bền vững; tham
gia xây dựng chính sách; bảo đảm quyền con người; thúc đẩy quan hệ thương
mại bình đẳng giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển.

1


Tuy nhiên, cùng với những đóng góp tích cực về kinh tế, xã hội và
chính trị đối ngoại, bản thân các tổ chức PCPNN đã trở thành một tác nhân và
lực lượng trong quan hệ quốc tế. Thành phần, xuất sứ, tính chất và mục tiêu

- Phân tích thực trạng quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN tại
Việt Nam, chỉ ra những kết quả đạt được và những tồn tại cần khắc phục
trong quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN.
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động của các tổ
chức PCPNN tại Việt Nam nhằm phát huy những mặt tích cực, hạn chế tối đa
những mặt tiêu cực trong hoạt động và viện trợ của các tổ chức phi chính phủ
nước ngoài tại nước ta.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu trả lời những câu hỏi sau:
- Những cơ sở lý luận và hoạt động thực tiễn nào liên quan đến tổ chức
phi chính phủ?
- Thực trạng quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam?
- Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động của các tổ chức
PCPNN tại Việt Nam?
4. Đối tượng và phạm vi nghiêm cứu
Đối tượng nghiên cứu: các tổ chức PCPNN có hoạt động tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: hoạt động của các tổ chức PCPNN trên lãnh thổ Việt
Nam;
Về thời gian: Hiện trạng thời kỳ 2006-2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

3


Phương pháp phân tích tổng hợp: Được thể hiện xuyên suốt trong quá
trình nghiên cứu đề tài.
Phương pháp thống kê: Nghiên cứu số liệu thứ cấp, các tài liệu thống
kê, báo cáo về công tác PCPNN, phương pháp này giúp thống kê, tổng hợp
các số liệu tình hình thực tế từ đó đưa ra phân tích đánh giá.
Phương pháp khảo sát thực tế được thực hiện bằng phương thức phỏng



Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA
CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI
1.1 Khái niệm
1.1.1. Khái niệm tổ chức phi chính phủ
Tổ chức phi chính phủ nước ngoài đã ra đời rất lâu trên thế giới và tồn
tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Một số nước quan niệm tổ chức phi chính
phủ nước ngoài là tổ chức không phải của chính phủ, một số nước khác pháp
luật lại quy định các tổ chức phi chính phủ nước ngoài là các chủ thể có tư
cách pháp nhân. Theo Liên hiệp quốc, tổ chức phi chính phủ là một tổ chức
không vì mục đích lợi nhuận, ngoài nhà nước và tự nguyện; được tổ chức theo
các cấp khác nhau, từ địa phương, quốc gia, khu vực và quốc tế; thực hiện các
chức năng nhận đạo và phát triển, truyển tài ý kiến của người dân đến với
chính phủ; giám sát thực hiện chính sách và khuyến khích người dân tham gia
vào các tổ chức xã hội tại cộng đồng, tồn tại cùng với khu vực Nhà nước, khu
vực tư nhân và khu vực tập thể; tổ chức phi chính phủ là tổ chức được hình
thành mang tính độc lập tương đối với chính phủ; được cơ quan có thẩm
quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, có sự quản lý nhà nước; hoạt động
phi lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật. Điểm nổi bật của các tổ chức phi
chính phủ là không thuộc bất cứ chính phủ nào; các tổ chức này tạo ra những
hệ thống gắn kết và mạng lưới kết nối những cá nhân xuyên quốc gia. Theo
Hiệp hội các tổ chức phi chính phủ thế giới thì “một tổ chức phi chính phủ nói
chung được hiểu phải là một tổ chức ngoài nhà nước, phi lợi nhuận và tự
nguyện. Với tư cách là một thực thể ngoài nhà nước, một tổ chức phi chính
phủ nói chung phải độc lập với ảnh hưởng của chính phủ và không do chính
phủ thành lập, cũng không được thành lập theo một thỏa thuận liên chính phủ.

6



thậm chí là toàn cầu. Quản lý tốt thì xã hội phát triển, ngược lại nếu buông
lỏng hay quản lý không tốt thì sẽ mở đường cho sự rối loại, kìm hãm sự phát
triển xã hội. Quản lý là khái niệm rộng về diện và phức tạp về nội hàm, mặc
dù quản lý là một vấn đề đã được nhiều học giả nghiên cứu từ rất lâu, nhưng
cho đến nay vẫn còn nhiều khác biệt trong cách hiểu và dẫn đến có rất nhiều
khái niệm khác nhau về quản lý như : “Quản lý là nghệ thuật hoàn thành công
việc thông qua những người khác” (Mary Parker Follett, 1936) hay “Quản lý
là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra công việc của các thành
viên trong tổ chức, sử dụng các nguồn lực sẵn có để đạt được các mục tiêu
của tổ chức” (Stoner, 1995), có tác giả khác lại coi quản lý như là hoạt động
thiết yếu để bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân để đạt tới mục tiêu của
tổ chức.
Tuy nhiên, có thể thấy các nhà nghiên cứu đều thống nhất quan điểm
cho rằng bao giờ quản lý cũng xuất hiện cùng với nhu cầu của con người. Để
một hoạt động quản lý có thể diễn ra, bên cạnh chủ thể quản lý cần có các yếu
tố khác như đối tượng quản lý, cách thức tác động của chủ thể lên đối tượng
quản lý và những mục tiêu mà quản lý đề ra để đạt hiệu quả tốt nhất.
Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ
thể quản lý lên đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu đã đề ra, việc tác động
theo cách nào tùy thuộc vào góc độ khoa học khác nhau, lĩnh vực khác nhau
và cách tiếp cận của người nghiên cứu.
1.1.3 Khái niệm quản lý hoạt động
Có nhiều khái niệm khác nhau về hoạt động, cụ thể như: hoạt động là
làm những việc khác nhau với mục đích nhất định trong đời sống xã hội; khái
niệm khác thì cho rằng hoạt động là toàn bộ những hành động của tổ chức, cá
nhân thuộc mọi tầng lớp khác nhau nhằm đem lại quyền là lợi ích hợp pháp

8



pháp của người dân; tăng cường sự tham gia của người dân vào công tác quản
lý, để người dân không đơn thuần là đối tượng được nhận viện trợ từ các tổ
chức PCPNN mà còn là đối tác trong cơ chế phối hợp giữa bên là: Nhà nước,
người dân và tổ chức PCPNN.
1.2.2 Nguyên tắc phối hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa
phương và theo vùng lãnh thổ
Nguyên tắc này đòi hỏi các lĩnh vực và địa bàn hoạt động của các tổ
chức PCPNN được quản lý theo ngành, theo địa phương phải được thống nhất
và phối hợp chặt chẽ với nhau. Các bộ ngành liên quan (Văn phòng Chính
phủ, Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ, Bộ Tài Chính, Bộ
Ngoại giao, Ban Tôn giáo Chính phủ và Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt
Nam) và 63 tỉnh/thành phố có trách nhiệm trong việc phối kết hợp để quản lý
hiệu quả các tổ chức PCPNN đang hoạt động tại Việt Nam, đảm bảo tính hệ
thống trong bộ máy quản lý Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, giữa cơ
cấu ngành và cơ cấu vùng lãnh thổ.
1.2.3 Nguyên tắc công khai minh bạch
Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải được công khai
và cập nhật cho người dân và các tổ chức PCPNN được biết. Nguyên tắc này
quan trọng vì quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN có liên quan đến
quản lý tài chính, nguồn nhân lực của các tổ chức PCPNN và cả quyền lợi về
kinh tế. Ngoài việc đảm bảo người dân và các tổ chức PCPNN nắm rõ chủ
trương, đường lối thì cần trú trọng một số nguyên tắc sau:
- Quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN theo pháp luật của Nhà
nước và thống nhất; có sự phân công, phối hợp chặt chẽ trong công tác quản
lý từ cấp Trung ương đến cấp địa phương.

10


Bao gồm các hoạt động đào tạo, tập huấn, tăng cường sự tham gia của
người dân, nhóm đối tượng hưởng lợi vào đời sống kinh tế - xã hội. Các tổ
chức PCPNN cho rằng, để đảm bảo tính bền vững của các hoạt động, nếu chỉ
dừng lại ở việc cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản và nâng cao thu nhập cho
người dân thì chưa đủ, điều cần thiết là nâng cao năng lực cho nhóm đối
tượng để họ có thể tự giải quyết vấn đề của mình mà không cần sự hỗ trợ.
- Các hoạt động vận động chính sách, vận động hành lang
Bao gồm các hoạt động nhằm tác động các chính sách trực tiếp liên
quan đến nhóm đối tượng hưởng lợi. Về lý thuyết, các nhóm đối tượng hưởng
lợi có thể bị các chính sách tác động tích cực hoặc tiêu cực. Vì vậy, các tổ
chức PCPNN cho rằng để giúp giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của
những vấn đề mà các nhóm đối tượng hưởng lợi đang phải đối mặt, ngoài các
hoạt động hỗ trợ trực tiếp (như 03 nhóm hoạt động nêu trên), cần có sự thay
đổi về chính sách để có lợi cho các nhóm đối tượng đó. Ví dụ như tổ chức
Save the Children hoạt động trong các lĩnh vực nhân đạo, y tế, giáo dục,
quyền trẻn em, bảo vệ trẻ em và vận động chính sách; một số tổ chức PCPNN
của Đức tiếp tục hỗ trợ các đối tác ở Trung ương tổ chức các Hội nghị, Hội
thảo liên quan đến lĩnh vực nâng cao năng lực tổ chức như: tổ chức Friedrich
Naumann Foundation for Freedom (FNF), Rosa Luxemburg Stiftung (RLS)
và Friedrich Ebert Stiftung (FES); lĩnh vực hỗ trợ cải cách tư pháp như: tổ
chức RLS và Konrad Adenauer Stiftung (KAS); lĩnh vực nghiên cứu chính
sách như tổ chức FES.
1.4 Các yếu tố chủ yếu tác động đến hoạt động của các tổ chức phi
chính phủ nước ngoái tại Việt Nam

12


Có nhiều yếu tố tác động đến hoạt động của các tổ chức PCPNN tại
Việt Nam, tuy nhiên ta có thể chia thành 02 nhóm yếu tố tác động chính đó là

nghèo và phát triển bền vững.
- Thực tiễn và nhu cầu của Việt Nam
Là quốc gia đang phát triển, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, công
đồng quốc tế và các tổ chức PCPNN đã rất quan tâm hỗ trợ Việt Nam trong
phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo… Nhiều tỉnh/thành phố trực
thuộc Trung ương đã xác định những nhu cầu và ưu tiên hợp tác với các tổ
chức PCPNN triển khai các hoạt động phù hợp với địa phương mình.
Trước khi trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp, hầu hết các
tổ chức PCPNN đều coi Việt Nam là quốc gia được ưu tiên trong chính sách
viện trợ. Sau khi trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp, nhiều tổ
chức PCPNN đã thay đổi ưu tiên, nhiều tổ chức PCPNN khó vận động nguồn
tài trợ để triển khai hoạt động tại Việt Nam. Tuy nhiên, với thực tiễn của Việt
Nam còn nhiều khó khăn, nhiều tổ chức PCPNN đã cam kết tiếp tục hoạt
động tại Việt Nam. Theo thống kê của Ban Điều phối viện trợ nhân dân, trong
06 tháng đầu năm 2017 có 19 tổ chức PCPNN đăng ký hoạt động tại Việt
Nam .
- Tính chủ động của các cơ quan Trung ương và địa phương trong
quan hệ với các tổ chức PCPNN
Chính sự chủ động trong tiếp cận, đặt quan hệ, xác định rõ mục tiêu
hợp tác, nội dung và hỗ trợ triển khai hoạt động đã phần nào khuyến khích,
tạo điều kiện để các tổ chức PCPNN mở rộng hoạt động với quy mô ngày
càng lớn hơn. Cụ thể, ở một số Bộ, ngành Trung ương như: Bộ Y tế, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn… đã thiết lập, duy trì và mở rộng quan hệ với
hàng trăm tổ chức PCPNN; ở địa phương: 63 tỉnh/thành phố đều có cơ quan

14


đầu mối quan hệ với các tổ chức PCPNN để phối phối hợp triển khai hoạt
động. Nhiều địa phương tổ chức Hội nghị chia sẻ thông tin với các tổ chức

hoạt động không đạt hiệu quả hoặc hiệu quả đạt được không như mong đợi.
Khi các hoạt động được triển khai không hiệu quả hoặc hiệu quả đạt được
không cao thì khả năng tiếp tục triển khai hoạt động hoặc mở rộng lĩnh vực
cũng như địa bàn hoạt động sẽ không dễ vận động được.
1.5 Phân loại hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
1.5.1 Theo địa bàn hoạt động
- Tại Việt Nam, hoạt động của các tổ chức PCPNN được triển khai tại
63 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương, ở hầu hết các Bộ, ban, ngành, các
tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức nhân dân của Việt Nam. Những năm
gần đây, một số tỉnh/thành phố như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,
Thừa Thiên Huế, Kiên Giang.. tiếp nhận được khoảng 10 triệu đến 35 triệu
đô la Mỹ /năm từ các tổ chức PCPNN. Một số cơ quan Trung ương như Bộ
Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Hội Nông dân Việt Nam, Hội
Chữ thập đỏ Việt Nam… tiếp nhận được khoảng 5 triệu đến 20 triệu đô la
Mỹ/năm.
Hoạt động của các tổ chức PCPNN tại các địa phương cũng không
giống nhau nên giá trị viện trợ cho các tỉnh/thành cũng có sự chênh lệch. Cụ
thể: Hà Nội tiếp nhận hơn 294 triệu đô la Mỹ, chiếm gần 11% tổng giá trị
viện trợ PCPNN tại Việt Nam thì Bạc Liêu chỉ tiếp nhận được 1,54 triệu đô la
Mỹ, tương đương 0,06% tổng giá trị viện trợ (Bảng 1.5.1).
STT

1

Tỉnh/thành
phố/cơ quan
Các cơ quan Trung
ương

Số lượng %


2

Nhiều tỉnh

4.329

13,29

917.57

28,49

773.12

27,81

3

Hà Nội

3.734

11,46

345.64

10,73

294.21


116.76

4,20

6

Đà Nẵng

1.441

4,42

127.29

3,95

103.50

3,72

7

Thanh Hóa

723

2,22

103.85


50.60

1,57

41.67

1,50

10

Đắk Lắk

685

2,10

48.76

1,51

39,76

1,43

11

Bắc Ninh

122


91

0,39

3.84

0,12

3.55

0,13

14

Tuyên Quang

69

0,21

4.16

0,13

3.94

0,13

15


- Các lĩnh vực khác.

17


Giáo dục - đào tạo: 15%
Giải quyết các vấn đề xã hội: 21%
y tế: 33%

19%

33%

các lĩnh vực khác: 5%
Tài nguyên - môi trường: 7%
phát triển kinh tế - xã hội: 19%

15%
5%
21%
7%

Hình 1.5.2: Phân loại theo lĩnh vực hoạt động của các tổ chức PCPNN
(nguồn: Liên hiệp Hữu nghị Việt Nam)
a) Lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội
Hoạt động của các tổ chức PCPNN trong lĩnh vực phát triển kinh tế xã
hội gồm các nội dung như: tín dụng vi mô; hỗ trợ phát triển doanh nghiệp,
đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ; phát triển nông - lâm - ngư nghiệp;
các dự án nâng cao thu nhập cho người dân… Hoạt động của các tổ chức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status