Thực trạng và phương hướng xuất khẩu gạo của Việt Nam vào khu vực mậu dịch tự do Asean. - Pdf 32

Lời mở đầu
Trong điều kiện hiện nay, hoạt động giao tiếp giữa các quốc gia trên thế
giới trong lĩnh vực kinh tế thương mại ngày càng phát triển mở rộng và mang
tính khu vực hóa và toàn cầu hóa một cách mạnh mẽ, đặc biệt là sự hình
thành, tồn tại và phát triển của các liên kết kinh tế thương mại trong phạm vi
khu vực, tiểu khu vực và của các công ty xuyên quốc gia trong các thập kỉ qua
đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lịch sử phát triển các quan hệ
kinh tế thương mại quốc tế. Tình hình này làm cho các quốc gia không thể chỉ
bó hẹp hoạt động kinh tế thương mại trong phạm vi quốc gia mà phải tham
gia vào các hoạt động kinh tế thương mại trong khu vực hoặc toàn cầu nhằm
tận dụng lợi thế so sánh của mình. Trong xu hướng toàn cầu hóa, ngày
8/8/1967, ngoại trưởng của 5 quốc gia Đông Nam Á là Malaisia, Indonesia,
Thái Lan, Philippin và Singapore đã ra tuyên bố thành lập Asean. Ngày
28/7/1995, Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
tại hội nghị các bộ trưởng Ngoại giao Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á lần
thứ 28 tại Brunây mở ra triển vọng mới cho xuất khẩu của Việt Nam vào khu
vực mậu dịch tự do Asean (Afta). Nhìn chung, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt
Nam tương đồng với cơ cấu hàng xuất khẩu của các nước ASEAN khác như
Thái lan, Philíppin... với thế mạnh là hàng nông sản. Nhìn vào cơ cấu xuất
khẩu của Việt Nam sang ASEAN năm 2006, có thể thấy hai mặt hàng xuất
khẩu có kim ngạch và tỷ trọng lớn nhất là dầu thô (thường chiếm tỷ trọng
xung quanh mức 40% - năm 2005 lên tới trên 46,6%), sau đó là gạo (chiếm tỷ
trọng trên 10%). Các nước nhập khẩu gạo lớn trong ASEAN như Inđônêxia,
Philipin, Malaixia đều coi gạo là mặt hàng đặc biệt quan trọng và thực hiện
nhiều biện pháp phi quan thuế để quản lý mặt hàng này. Các nước này đều để
mặt hàng gạo trong danh mục hàng nhạy cảm (SL), và việc nhập khẩu thường
do cơ quan nhà nước quyết định dựa trên sản lượng sản xuất trong nước.
Trong bản đề án này, em sẽ trình bày một số khái niệm cơ bản, tác động và
những biện pháp được sử dụng trong buôn bán quốc tế, về khu vực mậu dịch
tự do Asean và xuất khẩu gạo của Việt Nam vào khu vực thương mại quan
trọng này. Nội dung của đề án gồm những phần cơ bản như sau:

nghiên cứu
Thực tiễn hoạt động buôn bán giữa các nước trên thế giới hiện nay đã
cho thấy rõ xu hướng tự do hóa thương mại và vai trò của thương mại quốc tế
đối với tăng trưởng kinh tế của các nước. Thương mại quốc tế đã trở thành
một lĩnh vực quan trọng tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công
lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước.
Thương mại quốc tế ngày nay đã không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là
buôn bán mà thể hiện sự phụ thuộc tất yếu của các quốc gia vào phân công
lao động quốc tế. Vì vậy thương mại quốc tế được coi như là một tiền đề, một
nhân tố để phát triển kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu
sự phân công lao động và chuyên môn hóa quốc tế.
Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hóa dịch vụ giữa các nước
thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế và lợi nhuận. Trao đổi hàng hóa,
dịch vụ là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự
phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
riêng biệt của các quốc gia.
Thương mại quốc tế vừa được coi là một quá trình kinh tế lại vừa được
coi là một ngành kinh tế. Với tư cách là một quá trình kinh tế, thương mại
quốc tế được hiểu là một quá trình bắt đầu từ khâu điều tra nghiên cứu thị
trường cho đến khâu sản xuất kinh doanh, phân phối, lưu thông –tiêu dùng và
cuối cùng lại tiếp tục tái diễn lại với qui mô và tốc độ lớn hơn. Còn với tư
cách là một ngành kinh tế thì thương mại quốc tế là một lĩnh vực chuyên môn
hóa, có tổ chức, có phân công và hợp tác, có cơ sở vật chất kĩ thuật, lao động,
vốn, vật tư, hàng hóa... là hoạt động chuyên mua bán, trao đổi hàng hóa dịch
vụ với nước ngoài nhằm mục đích kinh tế.
Thương mại quốc tế bên cạnh việc khai thác mọi lợi thế tuyệt đối của đất
nước phù hợp với xu thế phát triển và quan hệ kinh tế quốc tế thì cũng cần
phải tính đến lợi thế tương đối có thể được. Có nghĩa là phải luôn tính toán
giữa cái có thể thu được với cái phải trả khi tham gia vào thương mại quốc tế
để có biện pháp chính sách thích hợp. So với buôn bán trong nước thì thương

hình thị trường tiền tệ, chính sách tiền tệ của các nước khác để lựa chọn sử
dụng một đồng tiền thanh toán hợp lí nhất vì đồng tiền thanh toán trong
thương mại quốc tế là ngoại tệ đối với ít nhất là một bên tham gia.
Trong thương mại quốc tế hàng hóa, dịch vụ được di chuyển qua biên
giới quốc gia. Vì vậy, quan hệ thương mại quốc tế phụ thuộc nhiều vào chính
sách thương mại quốc tế của các nước, đặc biệt là việc quản lí thương mại
quốc tế thông qua các công cụ chính sách như thuế, hạn ngạch và các công cụ
phi thuế quan khác của các nước. Chính phủ các nước có thể sử dụng các
hàng rào để ngăn ngừa hay điều tiết luồng hàng hóa nhập khẩu để bảo hộ cho
các doanh nghiệp nội địa hoặc cũng có thể sử dụng các công cụ khác nhau
như trợ cấp để giúp các doanh nghiệp nội địa tăng khả năng cạnh tranh trên
thị trường. Ngoài ra, do phải vận chuyển qua biên giới quốc gia với khoảng
cách tương đối xa nên quá trình giao nhận vận chuyển cũng trở nên phức tạp
hơn rất nhiều, đòi hỏi thêm nhiều hoạt động kèm theo như làm các thủ tục
thông quan, vận chuyển thường thông qua các hãng vận tải, mua bảo hiểm
cho hàng hóa...
Đặc biệt là đối với những hàng hóa, dịch vụ tham gia vào thương mại
quốc tế thì phải phù hợp với những qui định của các nước về chính sách mặt
hàng và loại hàng hóa dịch vụ mà thế giới chấp nhận. Vì vậy đối với hàng hóa
và dịch vụ tham gia vào thương mại quốc tế thường phải đạt được một số tiêu
chuẩn nhất định hay nói cách khác là phải được tiêu chuẩn hóa. Những tiêu
4
chuẩn này có thể là tiêu chuẩn của quốc gia, có thể là tiêu chuẩn của khu vực
cũng có thể là những tiêu chuẩn quốc tế.
Nói chung thì so với thương mại trong nước, thương mại quốc tế có
những nét đặc trưng riêng. Chính những nét đặc trưng này làm thương mại
quốc tế trở nên phức tạp hơn rất nhiều, điều này đòi hỏi doanh nghiệp tham
gia vào quan hệ thương mại quốc tế phải có cái nhìn tổng quát đồng thời phải
hiểu rõ được bản chất của các quan hệ thương mại quốc tế chứ không thể nghĩ
một cách đơn giản cứ buôn bán trong nước được thì cũng có thể buôn bán với

cùng với quá trình sống và rèn luyện bản thân thông qua học tập và tích lũy
kinh nghiệm đã hình thành nên những kĩ năng lao động khác nhau phù hợp
với khả năng của mỗi người. Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và phân
công lao động có vai trò lịch sử quan trọng đối với sự phát triển của loài
Hoàng Thị Thu Hà Thương Mại 46 B
5
người. Thông qua phân công lao động và trao đổi hàng hóa, con người có khả
năng nâng cao năng suất lao động bằng cách chuyên môn hóa vào sản xuất
những hàng hóa và dịch vụ mình có khả năng sản xuất được tốt nhất sau đó
trao đổi với các nhà sản xuất khác để đổi lấy tất cả những hàng hóa cần thiết.
Theo Adam Smith, phân công lao động không chỉ có ý nghĩa đối với
nâng cao năng suất lao động trong phạm vi một quốc gia, mà các nước tham
gia vào phân công lao động quốc tế và tiến hành trao đổi hàng hóa quốc tế
cũng sẽ đem lại lợi ích cho tất cả các nước tham gia vào thương mại quốc tế.
Theo lí thuyết thương mại cổ điển thì tất cả các nước, không phân biệt
qui mô, tư tưởng chính trị, trình độ phát triển đều có thể có lợi khi tham gia
vào thương mại quốc tế. Thương mại quốc tế đem lại lợi ích cho tất cả các
quốc gia và mở rộng khả năng tiêu dùng của các quốc gia với những nguồn
lực sẵn có thông qua việc trao đổi hàng hóa với thị trường thế giới và xuất
khẩu được hàng hóa với mức giá cao hơn tương đối so với giá của thị trường
trong nước và nhập khẩu hàng hóa với mức giá thấp hơn tương đối so với giá
của thị trường trong nứoc. Như vậy, thương mại quốc tế có thể nâng cao tổng
sản lượng quốc dân của một nước và mở rộng khả năng tiêu dùng của nước
đó.
Các nhà kinh tế cũng cho rằng thương mại quốc tế giúp các nước nghèo
nâng cao tốc độ tăng trưởng và giảm nghèo, tạo cơ hội cho các nước nghèo
tiếp cận nguồn vốn của các nước giàu thông qua trao đổi các yếu tố sản xuất
giữa các nước.
Thương mại quốc tế còn giúp cân bằng các yếu tố sản xuất, phân phối
thu nhập giữa các yếu tố sản xuất ở nước nghèo sẽ bị điều chỉnh phù hợp với

Thuế quan có thể được áp đặt bởi nước xuất khẩu, nước nhập khẩu. Nếu
các quốc gia và vùng lãnh thổ không có các hiệp định chống đánh thuế hai lần
thì nhiều hàng hóa, dịch vụ có thể bị đánh thuế trùng lắp trong quá trình mua
bán.
Thuế quan trên thế giới có xu hướng hài hòa hóa do tự do hóa thương
mại và toàn cầu hóa kinh tế.
Phương pháp đánh thuế quan
Hiện nay có 3 phương pháp đánh thuế quan cơ bản: thuế quan theo giá
trị hàng hóa, thuế quan tuyệt đối và thuế quan hỗn hợp.
Thuế theo giá trị hàng hóa (ad valorem): Thuế quan theo giá trị hàng hóa
được tính bằng tỉ lệ % so với giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu. Thuế quan theo
giá trị hàng hóa được sử dụng phổ biến ở các nước hiện nay. Ưu điểm của
phương pháp đánh thuế này là gắn với giá trị hàng hóa nhập khẩu của doanh
nghiệp, không bị xói mòn bởi lạm phát, thuế suất dễ điều chỉnh nên mang tính
linh hoạt, dễ hài hòa khi tham gia các liên kết kinh tế.
Thuế cố định (fixed payment): Thuế quan tuyệt đối là thu một khoản tiền
cố định trên một đơn vị hàng hóa xuất nhập khẩu. Thuế quan tuyệt đối chiếm
vào khoảng 1/3 biểu thuế quan của Mĩ và hầu như toàn bộ biểu thuế quan của
Thụy Sĩ. Thuế quan tuyệt đối có ưu điểm dễ áp dụng hơn và ngăn chặn được
làm hóa đơn giả, gian lận thuế tuy nhiên dễ bị xói mòn bởi lạm phát.
Thuế hỗn hợp (Compound): Thuế hỗn hợp vừa tính theo tỉ lệ % so với
giá trị hàng hóa, dịch vụ vừa thu một hoàn tiền tuyệt đối trên một đơn vị hàng
hóa xuất nhập khẩu.
Các loại thuế quan và vai trò của các loại thuế quan
Tùy thuộc vào mục đích đánh thuế quan, hoạt động kinh doanh, loại
hàng hóa dịch vụ và trong từng điều kiện cụ thể về thị trường và quan hệ
thương mại mà các loại thuế quan khác nhau được áp đặt với vai trò khác
nhau.
• Thuế quan xuất khẩu và vai trò của thuế xuất khẩu
Thuế quan xuất khẩu áp đặt vào hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu của quốc

giá.
Thuế quan đối kháng: Thuế quan đối kháng là loại thuế được áp dụng
nếu hàng hóa nhập khẩu bị xác định là đã được chính phủ của nước xuất khẩu
trợ cấp trái với qui định của WTO. Thuế quan đối kháng qui định một khoản
bồi thường dưới dạng thuế nhập khẩu phụ thu để bù vào phần trợ giá của hàng
hóa nước ngoài nhập khẩu mà việc bán hàng hóa đó ở nước nhập khẩu gây
thiệt hại cho nhà sản xuất hàng hóa giống hoặc tương tự hàng hóa nhập khẩu.
Trong hầu hết các trường hợp, phần trợ giá hàng nhập khẩu phải bù lại do
chính phủ nước ngoài trả.
Thuế quan hạn ngạch: Thuế quan hạn ngạch là thuế đánh vào hàng hóa
nhập khẩu vượt hạn ngạch vào một quốc gia hay vùng lãnh thổ. Số lượng
hàng hóa trong hạn ngạch nhập khẩu được hưởng thuế quan thấp, ngoài hạn
ngạch càng cao thuế càng cao. Thông thường, thuế quan hạn ngạch được thực
hiện theo thuế tuyệt đối và khi đó thuế hàng hóa nhập khẩu vượt hạn ngạch sẽ
trở thành thuế quan hỗn hợp. Phần thuế quan tuyệt đối nếu tính theo giá trị
hàng hóa sẽ rất cao. Một số quốc gia và vùng lãnh thổ sử dụng thuế quan hạn
8
ngạch như một hàng rào thương mại kĩ thuật hiệu quả để ngăn cản hàng hóa
nhập khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước và tăng tính cạnh tranh cho những
hàng hóa sản xuất có chi phí cao trong cùng một liên kết kinh tế.
Thuế quan ưu đãi: Thuế quan ưu đãi là thuế quan giành cho hàng hóa
nhập khẩu từ một số quốc gia hoặc vùng lãnh thổ. Thuế quan ưu đãi thấp hơn
cả thuế quan MFN. Vai trò của thuế quan ưu đãi trước hết là khuyến khích các
quốc gia tham gia các liên kết kinh tế quốc tế ở cấp độ cao, thúc đẩy các quốc
gia đàm phán và kí kết các hiệp định thương mại song phương, từ đó thúc đẩy
thương mại quốc tế và đầu tư.
1.2.2 Các hàng rào thương mại phi thuế quan:
• Các hàng rào định lượng
Cấm nhập khẩu: Là hàng rào phi thuế quan được áp đặt lên một số
hàng hóa, dịch vụ nhất định trong một khoảng thời gian xác định. Cấm nhập

Cấp phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu là hàng rào định lượng do chính phủ
sử dụng đối với một số hàng hóa khi xuất hoặc nhập khẩu vào một thị trường
xác định. Có thể áp đặt cho các doanh nghiệp xuất hoặc nhập khẩu. Cấp phép
có thể theo thời kì hoặc cho từng số lượng hàng hóa nhất định. Cấp phép xuất
hoặc nhập khẩu có thể tự động hoặc ``không tùy vào điều kiện thương mại cụ
thể giữa hai quốc gia. Mục đích là quản lí những mặt hàng ảnh hưởng đến an
ninh, quốc phòng, bảo vệ tài nguyên...
• Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Là hàng rào phi thuế quan mà các quốc gia xuất khẩu thỏa thuận hạn chế
xuất khẩu một số loại hàng hóa cụ thể sang một số thị trường cụ thể. Hạn chế
xuất khẩu tự nguyện có thể là chính thức hoặc không chính thức. Hạn ngạch
của hạn chế xuất khẩu tự nguyện không nghiêm ngặt, mang tính linh hoạt.
Tùy sự biến động của cung cầu về hàng hóa trên thị trường cụ thể, các thành
viên tham gia hạn chế xuất khẩu tự nguyện có thể thắt chặt hay nới lỏng hạn
ngạch.
Tác động kinh tế của hạn chế xuất khẩu tự nguyện cũng tương tự như
hạn ngạch nhập khẩu nhưng có ba sự khác biệt lớn là tiến thuê hạn ngạch do
hạn chế xuất khẩu tự nguyện hoàn toàn thuộc về dân cư của nước xuất khẩu.
Có nghĩa là nước nhập khẩu bị thiệt. Thứ hai, ảnh hưởng cân bằng tổng quan
ở chỗ nước nhập khẩu phải thanh toán ở mức giá nội địa đầy đủ mà không ở
mức giá thế giới cho các hàng hóa nhập khẩu. Thứ ba, hạn chế xuất khẩu tự
nguyện mang tính phân biệt đối xử nên chỉ áp dụng cho các nước cung ứng
sản phẩm với chi phí thấp nhất. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện cũng có thể
buộc các nhà nhập khẩu phải chấp nhận nhập khẩu của nước có chi phí cao
hơn và phân phối không hiệu quả các nguồn lực của thế giới.
• Các hàng rào liên quan đến giá và quản lí giá
Phương thức định giá hải quan: Phương thức định giá hải quan là hàng
rào phi thuế quan kĩ thuật dễ nhận thấy nhất. Nếu thực hiện tính thuế theo giá
trị hàng hóa, bằng cách định giá hàng nhập khẩu ở mức giá cao hơn, nhân
viên hải quan tăng tiền thuế phải trả. Sử dụng phương thức định giá hải quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status