ỨNG DỤNG mô HÌNH ARIMA vào dự báo GIÁ CHỨNG KHOÁN - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM
KHOA KẾ TOÁN – TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ỨNG DỤNG MÔ HÌNH ARIMA VÀO DỰ BÁO GIÁ
CHỨNG KHOÁN

Ngành

:

: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Chuyên ngành : TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Giảng viên hướng dẫn
Lớp:
Sinh viên thực hiện
MSSV

: Ths. Nguyễn Linh Nhâm
: 11DTDN5
: Nguyễn Thanh Phú
: 1154020741

TP. HỒ CHÍ MINH, 2015


i



iii
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1
Lý do chọn đề tài............................................................................................................. 1
Mục tiêu nghiên cứu. ...................................................................................................... 1
Đối tượng nghiên cứu. .................................................................................................... 2
Phạm vi nghiên cứu. ....................................................................................................... 2
Phương pháp nghiên cứu. ............................................................................................... 2
Kết cấu khóa luận............................................................................................................ 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG. .................................................................... 3
1.1. Một số thuật ngữ trong chứng khoán. ...................................................................... 3
1.1.1 Chứng khoán và thị trường chứng khoán. ............................................................. 3
1.1.2. Giá chứng khoán. .................................................................................................. 3
1.1.3. Một số thuật ngữ khác được dùng. ....................................................................... 4
1.1.4. Phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật. ................................................................ 6
1.2. Giới thiệu mô hình ARIMA. .................................................................................. 12
1.2.1. Chuỗi thời gian và các thành phần của chuỗi thời gian. ..................................... 12
1.2.2. Các thành phần của chuỗi thời gian. ................................................................... 12
1.2.3. Chuỗi thời gian tĩnh. ........................................................................................... 13
1.2.4. Mô hình kết hợp tự hồi quy và trung bình di động (ARIMA(p,d,q)) ................. 13
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH, DỰ BÁO GIÁ CÔNG TY CHỨNG
KHOÁN VNDIRECT ĐANG SỬ DỤNG TRONG BÁO CÁO PHÂN TÍCH
NHANH. ....................................................................................................................... 15
2.1. Phân tích cơ bản. .................................................................................................... 15
2.1.1. Ứng dụng phân tích cơ bản. ................................................................................ 15
2.1.2. Phân tích cơ bản trong báo cáo phân tích nhanh của VND. ............................... 15
2.2. Phân tích kỹ thuật................................................................................................... 22
2.3. Đánh giá hoạt động phân tích của VND. ............................................................... 25


Công ty cổ phần

VND

Công ty cổ phần chứng khoán VNDirect

HOSE (HSX)

Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ
chí minh

HNX

Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

TP HCM

Thành phố Hồ Chí Minh

UBCK NN

Ủy ban chứng khoán nhà nước

KTTCNH

Kế toán – Tài chính – Ngân hàng

VCSH


Hình 14: Kết quả sau khi chạy mô hình tối ưu. ................................................. 32
Hình 15: Cửa sổ chọn cách dự báo trong Eviews 8. .......................................... 33
Hình 16: Kết quả dự báo. ..................................................................................... 33


1
LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài.
Lý do lý luận: Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời từ những năm đầu của thế kỷ
21 và nhanh chóng trở thành một kênh đầu tư hấp dẫn, từ nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ,
cho đến các nhà đầu tư chuyên nghiệp, các tổ chức với nhiều phong cách đầu tư khác
nhau. Họ đều mong muốn lợi nhuận, mức sinh lời cao và dĩ nhiên đi kèm cùng việc đó
là rủi ro tiềm ẩn cũng không hề ít. Do đó, việc dự báo chính xác giá của các tổ chức
phân tích chứng khoán luôn được đặt lên hàng đầu, từ phân tích kỹ thuật đến phân tích
cơ bản để cho các nhà đầu tư có sách lược và phong cách đầu tư phù hợp nhất do
mình. Nhưng liệu với một nền kinh tế với số liệu không minh bạch, hành lang pháp lý
còn nhiều sơ hở để sự thao túng giá cổ phiếu luôn xảy ra hàng phút trên bảng điện tử
sau 15 năm hoạt động, nhà đầu tư còn có thể tin vào những báo cáo đơn thuần về định
tính nữa không? Liệu tài chính định lượng có thể được áp dụng vào hoạt động phân
tích giá tại thị trường chứng khoán Việt Nam không?
Lý do thực tiễn: Qua quá trình thực tập tại CTCP CK VNDIRECT để thực hiện báo
cáo tốt nghiệp “Đánh giá hiệu quả hoạt động môi giới tại CTCP CK VNDIRECT”.
Cùng với nhu cầu của hoạt động phân tích và trên những quan sát về hoạt động phân
tích cũng như qua tham khảo các báo cáo phân tích của VND, bản thân em rất muốn
phát triển báo cáo thực tập để tìm hiểu, áp dụng một mô hình định lượng đặt vào việc
phân tích giá chứng khoán. Đó chính là những lý do khiến em quyết định thực hiện đề
tài: “Ứng dụng mô hình ARIMA vào hoạt động phân tích giá trong thị trường chứng
khoán Việt Nam”.
Mục tiêu nghiên cứu.
-

Chương 2: Hoạt động phân tích tại CTCP Chứng khoán VNDIRECT qua Báo cáo
phân tích công ty.
Đánh giá hoạt động phân tích tại VND bằng việc phân tích Báo cáo phân tích
cổ phiếu được phát hành.
Chương 3: Xây dựng mô hình ARIMA để dự báo giá chứng khoán trên thị trường
chứng khoán Việt Nam.
Trình bày thực nghiệm mô hình ARIMA cho dữ liệu của một công ty được
chọn. Thực hiện các bước song song với quá trình thi hành chương trình với phần
mềm Eviews.
Chương 4: Nhận xét tính ứng dụng của mô hình sau khi thực nghiệm.
Kết luận.


3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG.
1.1. Một số thuật ngữ trong chứng khoán.
1.1.1 Chứng khoán và thị trường chứng khoán.
- Theo Điều 6 Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của
Quốc hội thì:
“Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu
đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới
hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng
tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán;
c) Hợp đồng góp vốn đầu tư;
d) Các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định.”
- Thị trường chứng khoán (Securities Market) là nơi trao đổi các chứng khoán. Thị
trường chứng khoán giúp những người thiếu vốn huy động được vốn và người có vốn
chuyển vốn của mình thành vốn đầu tư. Vì thế, thị trường chứng khoán còn được gọi

giao dịch.
- Giá trần: Là giá cao nhất mà một loại chứng khoán có thể được thực hiện trong ngày
giao dịch.
Giá trần = Giá tham chiếu x (1 + Biên độ dao động giá)
- Giá sàn: Là giá thấp nhất mà một loại chứng khoán có thể được thực hiện trong ngày
giao dịch.
Giá sàn = Giá tham chiếu x (1 – Biên độ dao động giá).
1.1.3. Một số thuật ngữ khác được dùng.
- Báo cáo phân tích nhanh là các báo cáo phân tích cung cấp ngắn gọn nhưng đầy đủ
thông tin về tình hình doanh nghiệp. Báo cáo được lập khi khách hàng yêu cầu, và
phải được phát hành trong 24-48 tiếng.
- Chi phí dự phòng là phần tiền để dự phòng cho các rủi ro trong kinh doanh (Tại khóa
luận này là phần tiền Ngân hàng dùng để tự phòng cho việc phân loại nợ của mình).
- Thu nhập từ lãi là phần tiền vượt vốn mình thu lại được từ hoạt động cho vay.
- Chỉ số NIM. Thu nhập từ lãi biên %(NIM_Net interest margin) = (Thu nhập cho vay
và đầu tư CK - Chi trả lãi tiền gửi và nợ khác)/ tổng tài sản có sinh lời bình quân((cuối
kỳ + đầu kỳ)/2). Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên được tính bằng cách chia phần thu nhập từ
lãi cho thu nhập tài sản bình quân. Theo như đánh giá của S&P thì tỷ lệ NIM dưới 3%
được xem là thấp trong khi NIM lớn hơn 5% thì được xem là quá cao. NIM có xu
hướng cao ở các ngân hàng bán lẻ quy mô nhỏ, các ngân hàng thẻ tín dụng và các tổ


5
chức cho vay hơn là NIM của các ngân hàng bán buôn, các ngân hàng đa quốc gia hay
các tổ chức cho vay cầm cố. Tỷ lệ NIM tăng cho thấy dấu hiệu của quản trị tốt tài sản
Nợ - Có trong khi NIM có xu hướng thấp và bị thu hẹp thì cho thấy lợi nhuận ngân
hàng đang bị co hẹp lại.
- Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về
khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các
con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn

Nếu như điều kiện đầu tiên xảy ra, các nhà đầu tư nên tránh xa các cổ phiếu này bởi vì
giá trị tài sản của công ty sẽ nhanh chóng được thị trường điều chỉnh về đúng giá trị
thật. Còn nếu điều thứ hai đúng, thì có khả năng lãnh đạo mới của công ty hoặc các
điều kiện kinh doanh mới sẽ đem lại những triển vọng kinh doanh cho công ty, tạo
dòng thu nhập dương và tăng lợi nhuận cho các cổ đông.
Ngược lại, nếu một công ty có giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá trị ghi sổ thì
đây thường là dấu hiệu cho thấy công ty làm ăn khá tốt, thu nhập trên tài sản cao.
Chỉ số P/B chỉ thực sự có ích khi nhà đầu tư xem xét các doanh nghiệp có mức độ tập
trung vốn cao hoặc các công ty tài chính, bởi giá trị tài sản của các công ty này tương
đối lớn. Vì công tác kế toán phải tuân thủ những tiêu chuẩn ngặt nghèo, nên giá trị ghi
sổ của tài sản hoàn toàn không tính tới các tài sản vô hình như thương hiệu, nhãn hiệu,
uy tín, bằng sáng chế và các tài sản trí tuệ khác do công ty tạo ra. Giá trị ghi sổ không
có ý nghĩa nhiều lắm với các công ty dịch vụ vì giá trị tài sản hữu hình của họ không
lớn.
1.1.4. Phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật.
Phân tích chứng khoán là nhu cầu không thể thiếu trong đầu tư chứng khoán. Tùy theo
khả năng trình độ, thời gian cũng như nhu cầu sử dụng, có thể có rất nhiều cách tiếp
cận nghiên cứu, phân tích và ra các quyết định đầu tư khác nhau đối với từng chứng
khoán riêng lẻ hoặc đối với cả danh mục đầu tư.
Cổ phiếu là một loại chứng khoán chủ yếu cần phân tích phục vụ đầu tư. Đến nay
người ta đã tổng kết lại rằng có hai phương pháp phân tích đã và đang được sử dụng
một cách phổ biến tại hầu hết các thị trường chứng khoán (TTCK) trên thế giới, đó là
phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật. Trong đó, phân tích cơ bản về thực chất là
phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp phát hành chứng khoán. Hiệu quả hoạt
động kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến giá
cả cổ phiếu được niêm yết và giao dịch trên thị trường. Khác với phân tích cơ bản,
phân tích kỹ thuật dựa vào các diễn biến của giá cả chứng khoán và khối lượng giao
dịch trong quá khứ để dự đoán xu thế biến đổi của giá cả chứng khoán trong tương lai.
Việc phân tích kỹ thuật được thực hiện dựa trên cơ sở ứng dụng rộng rãi các đồ thị và
các công thức toán học, các mô hình toán kinh tế để xác định xu thế thị trường của

Sau khi nghiên cứu, nhà phân tích có nhiệm vụ phải chỉ ra được những dự đoán cho
những chỉ tiêu quan trọng như thu nhập kỳ vọng, giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu, giá
trị hợp lý của cổ phiếu, các đánh giá quan trọng cũng như khuyến nghị mua/bán cổ
phiếu trên thị trường.
Cụ thể, các nhân tố cần chú trọng trong phân tích cơ bản về cổ phiếu là:


8
- Hoạt động kinh doanh của công ty.
- Mục tiêu và nhiệm vụ của công ty.
- Khả năng lợi nhuận (hiện tại và ước đoán).
- Nhu cầu đối với sản phẩm và dịch vụ của công ty.
- Sức ép cạnh tranh và chính sách giá cả.
- Kết quả SXKD theo thời gian.
- Kết quả SXKD so với công ty tương tự và với thị trường.
- Vị thế trong ngành.
- Chất lượng quản lý.
Ở góc độ tổng quát, phân tích cơ bản có thể được sử dụng theo phương pháp
phân tích từ nhân tố vĩ mô đến nhân tố vi mô có ảnh hưởng đến cổ phiếu (thường gọi
là phương pháp top-down) gồm 5 cấp độ như sau:
1/ Phân tích các điều kiện kinh tế vĩ mô.
2/ Phân tích thị trường tài chính – chứng khoán.
3/ Phân tích ngành mà công ty đang hoạt động.
4/ Phân tích công ty.
5/ Phân tích cổ phiếu.
Trong thực tế, tùy vào mục tiêu và khả năng phân tích mà nhà phân tích có thể sử
dụng một trong năm mức độ phân tích nêu trên. Ví dụ, trong phân tích về công ty, ta
có thể sử dụng phương pháp phân tích phi tài chính, đó là đánh giá về bộ máy quản lý
doanh nghiệp, về nguồn nhân lực, khả năng phát triển sản phẩm mới, thị trường và thị
phần, khả năng cạnh tranh… Cũng như trong phân tích công ty, nhà phân tích còn có

hay với chung toàn bộ thị trường và sau đó sẽ dựa trên “bức tranh về quá khứ để suy
luận ra xu thế có thể xảy ra trong tương lai”.
Còn theo Steven B. Achelis, tác giả của cuốn sách “Technical Analysis from A
to Z” thì “Phân tích kỹ thuật là việc nghiên cứu giá, với công cụ cơ bản là biểu đồ,
nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư…”.
Xét cho cùng định nghĩa về phân tích kỹ thuật cũng chỉ cần đơn giản như vậy, còn cụ
thể bản chất của từng công cụ ta sẽ không bàn đến trong phạm vi của khóa luận.
Phương pháp phân tích kỹ thuật được xây dựng dựa trên 3 giả định:
- Thị trường luôn có tính xu hướng: Khi một thị trường đã đi vào một xu hướng
(đi lên, đi xuống, hay đi ngang) thì sẽ tiếp tục xu hướng của nó, cho đến khi xu hướng
đó bị phá hủy, và chuyển hẳn sang một xu hướng mới.
- Giá phản ánh tất cả: Đây là nguyên tắc quan trọng nhất. Các nhà phân tích kỹ
thuật tin rằng, mọi yếu tố cơ bản như kinh tế, chính trị, tâm lý… đều đã được phản ánh
trên giá cả thị trường. Không có gì là bât thường khi cổ phiếu của một công ty được
giao dịch thấp hơn hay cao hơn so với giá trị sổ sách trên một cổ phiếu.


10
- Lịch sử sẽ lặp lại: Khi một cổ phiếu đã từng vận động như thế nào, thì sự vận
động đó, có khả năng rất cao sẽ lặp lại nếu giá của cổ phiếu hội tụ các yếu tố để rơi
vào vùng vận động giá đó. Ở phân tích kỹ thuật, giá cả và khối lượng giao dịch là 2
biến số chính, và qua nghiên cứu những diễn biến trong lịch sử mà nhà phân tích kỹ
thuật sẽ đưa ra những dự báo cho tương lai.
Một trong những thế mạnh lớn của phân tích kỹ thuật là sự ứng dụng của nó trong bất
kỳ phương thức giao dịch nào và vào với bất kỳ khoản thời gian giao dịch nào. Không
có một phần nào trong giao dịch chứng khoán hay các chứng khoán phái sinh mà phân
tích kỹ thuật không ứng dụng được.
Một nhà phân tích kỹ thuật có thể sử dụng đồ thị trong bất kỳ và bao nhiêu thị trường
tùy thích, nhưng điều này là không thể đối với một người sử dụng phân tích cơ bản.
Điều này là do với mỗi thị trường, một người áp dụng phân tích cơ bản sẽ phải xử lý

- SMA là đường trung bình đơn giản, được tính bằng cách lấy tổng giá đóng cửa thị
trường chia cho số khoảng thời gian. Vd SMA (20) là 20 ngày. Bằng việc so sánh giữa
2 đường SMA khác nhau về khoảng thời gian sẽ cho ta biết được xu hướng của giá,
khi đường SMA ngắn hạn cắt và ở phía trên đường SMA dài hạn thì giá có xu hướng
tăng và ngược lại. Tuy nhiên SMA là trung bình giá của quá khứ nên sẽ có độ trễ.
- Bollinger Band: dải băng Bollinger được sử dụng để đo sự bất ổn của thị trường,
công cụ này cho biết thị trường đang yên lặng hay sôi động, khi thị trường ổn định bải
băng thu hẹp, khi thị trường biến động lớn thì dải băng mở rộng. Từ đó cũng cho thấy
được xu hướng của thị trường dựa trên xu hướng của dải băng.
- Hỗ trợ và kháng cự, các đường xu thế, kênh là các công cụ hỗ trợ cho phân tích xu
hướng của thị trường.
Phân tích cơ bản:
- Ưu:
+ Phù hợp hơn cho việc quyết định đầu tư dài hạn ( do lựa chọn công ty tốt để đầu tư).
- Nhược:
+ Tốn nhiều thời gian và công sức (do phải tiếp cận và xử lí nhiều thông tin tài chính).
+ Kết quả phân tích hạn chế ( phụ thuộc độ chính xác của báo cáo tài chính) .
+ Mang tính chủ quan của người phân tích, bỏ qua tâm lí của nhà đầu tư.
Phân tích kĩ thuật:
- Ưu:
+ Dự báo giá trong cả ngắn, trung,dài hạn
+ Phân tích không phụ thuộc báo cáo tài chính.
+ Xác định được thời điểm đâu tư thích hợp.
+ Cho phép phát hiện ra xu thế chuyển dịch giá sang mức giá cân bằng mới.
- Nhược:


12
+ Mang nặng tính chủ quan của người phân tích.
+ Dự đoán có thế bị chậm vì khi phát hiện ra xu thế thì giá đã chuyển động mạnh.



13
- Thành phần chu kỳ (cyclical) là chuỗi biến đổi dạng sóng quanh xu hướng.
- Trong thực tế thành phần này rất khó xác định và người ta thường xem nó như là một
phần của thành phần xu hướng.
- Thành phần bất quy tắc (irregular) là thành phần thể hiện sự biến đổi ngẫu nhiên
không thể đoán được của chuỗi thời gian.
- Thành phần mùa (Seasonal) là thành phần thể hiện sự biến đổi lặp đi lặp lại tại từng
thời điểm cố định theo từng năm của chuỗi thời gian. Đối với chuỗi thời gian có thành
phần mùa thì giá trị tại những thời điểm cố định theo từng năm sẽ có sự tương quan
lớn với nhau.
1.2.3. Chuỗi thời gian tĩnh.
- Trong quá trình quan sát các chuỗi thời gian, ta nhận thấy có những chuỗi thời gian
mà trung bình và phương sai của nó không phụ thuộc vào thời gian. Những chuỗi thời
gian như vậy gọi là chuỗi thời gian có tính chất tĩnh (stationary) hay gọi là chuỗi thời
gian tĩnh.
1.2.4. Mô hình kết hợp tự hồi quy và trung bình di động (ARIMA(p,d,q))
- Mô hình ARIMA (p,d,q) là mô hình trung bình trượt, đồng liên kết, tự hồi quy. Mô
hình sử dụng dữ liệu chính là số liệu trong quá khứ của biến cần giải thích để dự báo
cho biến đó. Công thức tổng quát của mô hình:

Dd (Yt) = Ф + [ α1Dd(Yt-1) +…+ αpDd(Yt-p) ] + [ β1Ut-1 +…+ βqUt-q ] + Ut
Trong đó:
Ф là giá trị trung bình của quá trình
Dd là sai phân bậc d
α1,…,αp ; β1,…,βq là hệ số ước lượng, điều kiện : -1< α1,…,αp ; β1,…,βq


16
Hình 1: Biểu đồ biến động giao dịch của cổ phiếu VCB.

(Nguồn: Báo cáo phân tích nhanh 13/03/2015 của VNDirect)
Các thông tin cơ bản như: Đồ thị giá giao dịch và khối lượng giao dịch trong thời gian
gần đây, khối lượng cổ phiếu niêm yết, khối lượng cổ phiếu đang lưu hành, khối lượng
khớp lệnh trung bình, vốn hóa thị trường, room nước ngoài còn lại… đều được thể
hiện đầu tiên và trực quan nhất tại phần đầu của báo cáo.
Giá chứng khoán hiện tại, đồ thị giá và khối lượng giao dịch trong 52 tuần, kết hợp với
khối lượng giao dịch trung bình 10 phiên gần nhất cung cấp cho nhà đầu tư thông tin
về biến động giá và tính thanh khoản của cổ phiếu.
- Giới thiệu tổng quan công ty.


17
Hình 2: Tổng quan về VCB

(Nguồn: Báo cáo phân tích nhanh 13/03/2015 của VNDirect)
Ngoài ra, dựa theo vốn hóa thị trường của cổ phiếu, chúng ta có thể phân loại theo
nhóm: cổ phiếu vốn hóa lớn (large cap), cổ phiếu vốn hóa vừa (mid cap), cổ phiếu vốn
hóa nhỏ (small cap). Để nhà đầu tư cân nhắc lựa chọn cổ phiếu theo chiến lược đầu tư.
Hiện nay, chưa có một quy tắc chuẩn mực chính thức về phân loại cổ phiếu theo vốn
hóa, nên bộ lọc cổ phiếu theo vốn hóa có thể dựa theo phân loại của HSX theo chỉ số
VN30 (30 mã), VNMID (70 mã) và VNSML được sắp xếp theo giá trị vốn hóa từ cao
xuống thấp hoặc tùy theo yêu cầu của nhà đầu tư.


18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status