TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH VÀ
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Môn: Kinh tế vĩ mô II
Nhóm 18.
GVHD: cô TRẦN THỊ BÍCH DUNG
Nhóm 18:
1.
Võ Anh Đức
NL2
2.
Phan Nữ Ngân Hà NL2
3.
Cao Trần Huy
4.
Nguyễn Đức Nam NL2
5.
Bùi Thị Thiện Tâm NL2
6.
được đặc trưng hoá bởi sự can thiệp quá mức
của nhà nước vào các hoạt động và các quá
trình tài chính.
Hậu quả của tài chính kiềm chế
Gây ra tình trạng thiếu vốn đầu tư, khan
hiếm hàng hoá giả tạo, mất cân đối nghiêm
trọng trên thị trường hàng hoá.
Cầu về vốn vượt xa khả năng của các nguồn
cung cấp nên các danh mục đầu tư có tỷ
suất lợi nhuận cao phải huỷ bỏ hoặc sử
dụng vốn từ các thị trường ngầm.
Hậu quả của tài chính kiềm chế
Ngân sách nhà nước bao cấp và thiếu hụt dẫn
tới doanh nghiệp luôn ỷ lại, không sản xuất và
kinh doanh không hiệu quả.
Hệ thống tài chính không được phát triển và
dọc gồm:
thị trường
tiền tệ và thị
trường vốn
Theo chiều
ngang gồm:
Tự do hóa tài
chính trong và
ngoài nước
4. Trình tự tự do hóa tài chính
Tự do hóa tài chính
Giảm thâm
hụt ngân sách
Giảm dự Bỏ kiểm Đa dạng
trữ bắt soát lãi hóa sở
buộc
suất
hữu
Tăng
Bỏ tín
cạnh dụng chỉ
tranh
đònh
5. Những lợi ích của tự do hoá tài
chính
Góp phần huy động
được nguồn vốn lớn
hơn và phân bổ vốn có
hiệu quả hơn.
Nâng cao tính cạnh
tranh của hệ thống
tài chính trong nước:
6. Những mặt trái của tự do hoá tài
chính:
Làm tăng thêm khả năng gây ra khủng
hoảng tài chính nếu tiến trình tự do
hóa được thực hiện một cách nôn
nóng, sai trình tự.
Việc mở cửa thị trường tài chính có
thể có nguy cơ làm xao nhãng hoặc
Hệ thống tài chính hoạt
động hiệu quả.
Hệ thống giám sát ngân
hàng hợp lý và việc thi
hành có hiệu quả.
7. Điều kiện để tự do hóa tài chính
thành công
Không có khoản cho vay
mang tính chất chính trị
và lạm dụng hệ thống
tài chính.
Một chính phủ triệt để
chống tham nhũng và
lãng phí.
Tính minh bạch trong
dụng đồng bộ và quán triệt các tiêu chuẩn, chuẩn
mực quốc tế.
Thứ năm, các sản phẩm tài chính phái sinh là khái
niệm khá là mới mẻ trong hệ thống ngân hàng nước
ta và hầu như chúng được nghiên cứu và triển khai
không đồng bộ trong một số tổ chức tài chính đơn
lẻ
II- Tự do hoá
tài chính và
tăng trưởng:
1. Sự cần thiết tiến hành tự do hoá tài chính tại
Việt Nam
Mục tiêu chính của các nước đang phát tri ển hi ện nay là phát tri ển kinh
tế.
Việt Nam không thể chỉ sử dụng nguồn lực trong n ước mà c ần ph ải huy
động tối đa các nguồn lực bên ngoài (m ở cửa nền kinh t ế, th ực hi ện t ự
do hoá kinh tế nói chung và tự do hoá tài chính nói riêng).
Bài học về những thay đổi sẽ xảy ra khi tự do hóa tài chính
Bài học về tự do hóa tài khoản vốn trong quá trình hội nhập
3. Thực trạng tiến trình tự do
hoá tài chính của Việt Nam
Chủ trương hội nhập của Đảng
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 3 (khoá VI) chỉ rõ:
Việt Nam sẵn sàng mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả
các nước, các công ty nước ngoài trên cơ sở cùng có lợi
và không có điều kiện chính trị ràng buộc, hạn chế đến
mức thấp nhất cái giá phải trả.
Đại hội VII (năm 1991) đã thông qua Cương lĩnh c ủa
Đảng và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm,
đồng thời nêu ra tư tưởng hội nhập kinh tế quốc tế là:
Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng
đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát
triển.
Ngày 25/7/1995 đã chính thức gia nhập Hiệp hội các nước Đông
Nam Á (ASEAN), tham gia vào AFTA và Ch ương trình thu ế quan ưu
đãi có hiệu lực chung (CEPT); 3/1996 tham gia Di ễn đàn Á - Âu
(ASEM) với tư cách là thành viên sáng lập; 15/6/1996 gửi đơn xin
gia nhập APEC; 11/1998 được công nhận là thành viên của APEC;
năm 2000 ký Hiệp định thương mại song phương Việt - Mỹ…
Các bước đi trong quá trình hội
nhập
Đối với trong nước:
Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật, văn bản dưới luật tạo
hành lang pháp lý phù hợp cho hội nhập
Thực hiện sự chuyển đổi thể chế kinh tế, đổi mới chính sách và
hệ thống kinh tế vĩ mô và cố gắng cải cách kinh tế, xây dựng cơ
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ngày 10/2/1998 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 31/1998TTg thành lập Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc t ế.