Khảo sát và đánh giá hiện trạng môi trường thành phố quy nhơn tỉnh bình định nhằm xây dựng các giải pháp quản lý môi trường theo hướng khu đô thị sinh thái - Pdf 32

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Chương 1:
MỞ ĐẦU
1.1.

ĐẶT VẤN ĐỀ:

Trong thời gian gần đây khái niệm niệm "đô thị sinh thái" được nhắc đến nhiều
ở Việt Nam. Khái niệm này xuất hiện trên thế giới vào cuối thập kỷ 80, đầu 90 của
thế kỷ XX ở các nước phát triển đề cập đến vấn đề chất lượng môi sinh của đô thị
với các tiêu chí rất cụ thể nhằm tới việc nâng cao điều kiện và chất lượng sống cho
các cư dân đô thị.
Đô thị hóa diễn ra làm phát sinh vô vàn các vấn đề về môi trường tự nhiên và xã
hội. Để giải quyết các vấn đề môi trường đô thị trong bối cảnh phức tạp như vậy đối
với các nước đang phát triển, quy hoạch đô thị sinh thái là một giải pháp phù hợp.
Đây là giải pháp quy hoạch có tính định hướng, áp dụng vào thực tế những kiến
thức mới nhất và kinh nghiệm từng trải của các nước phát triển nhằm hướng thẳng
tới một đô thị hiện đại mà không vấp phải những vấn đề của quá trình công nghiệp
hóa và đô thị hóa bùng phát trên diện rộng.
Đô thị sinh thái là một khái niệm gắn liền với các tiêu chí cụ thể và gắt gao
nhằm tạo ra sự cân bằng với thiên nhiên, cho phép cư dân tận hưởng tối đa chất
lượng cuộc sống với sự tác động tối thiểu đến thiên nhiên. Việc xây dựng các khu
đô thị sinh thái ngày càng chứng minh được tính ưu việt trước yêu cầu gìn giữ và
bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời làm chậm lại hiện tượng ấm lên
của trái đất.
Thành phố Qui Nhơn là một trong 3 trung tâm kinh tế của vùng duyên hải Nam
Trung Bộ. Thành phố Qui Nhơn cũng là trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh Bình
Định.Thành phố Qui Nhơn có tốc độ đô thị hóa nhanh chóng và mạnh mẽ góp phần
quan trọng trong tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Bình Định. Tốc độ đô thị hóa
nhanh chóng của thành phố làm cho chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng


1.3.

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
Để đạt được các mục tiêu như đã đề ra ở trên, Đề tài đã tiến hành các nội

dung công việc sau đây:
o Thu thập thông tin về đặc điểm tự nhiên , xã hội và tình hình phát
triển kinh tế thành phố Qui Nhơn.
o Phân tích, xác định các loại chất thải do hoạt động sống trong khu đô
thị gây ra có khả năng gây ảnh hưởng tới môi trường.
o Đánh giá mức độ ô nhiễm do hoạt động của khu đô thị gây ra tới môi
trường xung quanh, dự báo phạm vi, mức độ ô nhiễm từ các loại chất
thải khác nhau phục vụ công tác quản lý bảo vệ môi trường.

Trang 2


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

o Xem xét đánh giá hiệu quả của các hệ thống xử lý môi trường hiện có
trên địa bàn thành phố Qui Nhơn
o Xem xét các mô hình, biện pháp quản lý môi trường theo hướng khu
đô thị sinh thái trên thế giới và Việt Nam.
o Đánh giá thực trạng công tác quản lý môi trường tại địa bàn thành phố
Qui Nhơn.
o Đề xuất các biện pháp quản lý môi trường theo hướng khu đô thị sinh
thái cho thành phố Qui Nhơn.

Trang 3

-

môi trường nước đã thực hiện trên địa bàn .
Điều tra xã hội học để phân tích những tác động tích cực và tiêu cực đến

môi trường trên địa bàn thành phố Qui Nhơn .
1.4.3. Phân tích ,tổng hợp và dự báo thông tin:
Trên cơ sở dữ liệu đã tổng hợp được ,quan trắc hiệu chỉnh số liệu nhằm
chính xác hóa các thông tin về môi trường không khí ,đất ,nước ,môi trường
kinh tế xã hội để kết luận để kết luận hiện trạng môi trường trên địa bàn
thành phố Qui Nhơn.
1.4.4. Phương pháp so sánh : Phương pháp so sánh được sử dụng để đánh giá
hiện trạng môi trường không khí ,nước,đất theo các TCCP như TCVN 2005,
QCVN 2008...
1.4.5. Phương pháp điều tra ,tổng hợp và phân tích tài liệu :
Thu thập thông tin tài liệu từ các nguồn cung cấp thông tin là các căn bản
,báo cáo ,các tài liệu thống kê có liên quan đến hiện trạng môi trường và các
thông tin liên quan trên sách báo ,trang mạng internet.

Trang 4


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

1.5.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Do khả năng và thời gian có hạn, đồ án sẽ nghiên cứu trong phạm vi giới hạn

về không gian và trên các đối tượng sau:

Theo định nghĩa của tô chức sinh thái Úc “Môt thành phô sinh thái là thành
phô đảm bảo sự cân bằng vơí thiên nhiên ,hay cụ thể hơn là sư định cư cho phép các
cư dân sinh sống trong điều kiên chất lượng cuộc sống nhưng sử dụng tốí thiêủ các
nguồn tài nguyên thiên nhiên.Thành phố sinh thái bền vững thì mật độ thấp ,dàn trải
, được chuyển đôỉ thành các khu dân cư đô thị mật độ cao hoặc trung bình có qui
mô giơí hạn bơỉ các phân cách không gian xanh.
 Bốn nguyên tắc chính của thành phố sinh thái:

1. Xâm phạm ít nhất đến môi trường tự nhiên.

Trang 6


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

2. Đa dạng hóa việc sử dụng đất, chức năng đô thị và các hoạt động khác của
con người.
3. Trong điều kiện có thể, cố gắng giữ cho hệ thống đô thị được khép kín và tự
cân bằng.
4. Giữ cho sự phát triển dân số đô thị và tiềm năng của môi trường được cân
bằng một cách tối ưu.
2.2. Tổng quan các mô hình quản lý môi trường khu đô thị theo hướng khu
đô thị sinh thái:
Có 2 loại hình đô thị sinh thái: Đó là đô thị sinh thái cho vùng đô thị mới
hoặc là đô thị cũ được sửa chữa, thay đổi trong điều kiện có thể thành đô thị theo
kiểu đô thị sinh thái.
2.2.1. Mô hình đô thị cũ cải tạo thành đô thị sinh thái:
Phải mất nhiều thời gian. Ở Nhật, người ta đã cải tạo thành công một khu hải
cảng cũ thành đô thị sinh thái. Chính quyền TP Kitakyushu đã đưa ra quyết tâm xây
dựng một đô thị sinh thái trên một khu rộng hơn 200ha, số tiền chi phí lên đến 6 tỷ

- Về

kiến trúc: các công trình trong đô thị sinh thái phải đảm bảo khai thác tối đa các

nguồn mặt trời, gió và nước mưa để cung cấp năng lượng và đáp ứng nhu cầu nước
của người sử dụng. Thông thường là nhà cao tầng để dành mặt đất cho không gian
xanh.
- Sự đa dạng sinh học của đô thị: phải được đảm bảo với các hành lang cư trú tự
nhiên, nuôi dưỡng sự đa dạng sinh học và đem lại sự tiếp cận với thiên nhiên để
nghỉ ngơi,giải trí.
- Giao thông và vận tải: cần hạn chế bằng cách cung cấp lương thực và hàng hóa
chủ yếu nằm trong phạm vi đô thị hoặc các vùng lân cận. Phần lớn dân cư đô thị sẽ
sống và làm việc trong phạm vi bán kính đi bộ hoặc xe đạp để giảm thiểu nhu cầu di
chuyển cơ giới. Sử dụng các phương tiện giao thông công cộng nối liền các trung
tâm để phục vụ nhu cầu di chuyển xa hơn của người dân
- Công nghiệp của đô thị sinh thái: sẽ sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa có thể tái
sử dụng, tái sản xuất và tái sinh. Các quy trình công nghiệp bao gồm cả việc tái sử
dụng các sản phẩm phụ và giảm thiểu sự vận chuyển hang hóa.

Trang 9


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

- Kinh tế đô thị sinh thái: là một nền kinh tế tập trung sức lao động thay vì tập
trung sử dụng nguyên liệu, năng lượng và nước, nhằm duy trì việc làm thường
xuyên và giảm thiểu nguyên liệu sử dụng.
 Để qui hoạch một đô thị sinh thái phải đảm bảo thực hiện các tiêu chí cụ thể
sau đây:
-


Không cho chất thải làm ô nhiễm môi trường đất, sử dụng quỹ đất thành phố
thích hợp để vừa có đất xây dựng cơ sở hạ tầng vừa có đất dành cho khu dân
cư, công viên, đất cho rừng phòng hộ môi trường.

-

Không khai thác nước ngầm quá mức gây mất nguồn tài nguyên, ô nhiễm
nước ngầm và sụt lún. Bảo đảm sự cân bằng nước tự nhiên trên lưu vực sông
xây dựng các đô thị.

-

Quy mô dân số và phát triển kinh tế - xã hội của đô thị được giữ ở mức phù
hợp với khả năng “chịu tải” (khi quy hoạch phải tính kỹ) của môi trường và
tài nguyên thiên nhiên.

-

Môi trường không khí không vượt quá ô nhiễm cho phép. Hạn chế sử dụng
năng lượng nhiên liệu hóa thạch, sử dụng năng lượng mặt trời, năng lượng
gió tự nhiên.

Trang 10


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

-



-

Ở nhiều nơi, chu trình nguyên vật liệu truyền thống đã chuyển sang các dòng
nguyên vật liệu mới, rộng lớn từ cơ sở TNTN sang cả chất thải.

-

Làng sinh thái là một bằng chứng tốt cho cách tiếp cận tái chế, quản lý các
dòng tái chế hiệu quả để giải quyết vấn đề rác thải.

-

Trong làng sinh thái, nhà ở thường thuộc kiểu tiêu thụ năng lượng thấp, với
tổng nhu cầu không quá 10.000kWh/năm (< 1/3 mức tiêu thụ hiện nay).

-

Sử dụng các phương tiện giao thông công cộng như: hàng hóa được chuyển
đến các kiôt bán lẻ trong khu ở, người dân chỉ cần đi bộ là có thể mua được
sản phẩm.

-

Thực hiện cơ chế tự cung , tự cấp đối với các loại rau quả, hoa và cả cây lấy
gỗ.

-

Sử dụng phế thải hữu cơ dễ phân hủy để sản xuất phân bón (compost) là một

-

Diện tích mảng xanh tăng lên 100 lần chỉ trong vài năm

-

Lượng xăng dầu tiêu thụ thấp hơn 30% so với mức trung bình ở các thành phố
khác của Brazil.
+ Ở Thụy Điển, người ta đã xây dựng Symbio City (thành phố có sự phối hợp các
hệ thống hạ tầng kỹ thuật của đô thị nhằm bảo vệ môi trường hiệu quả và tiết kiệm
nhất) tại khu hải cảng cũ của Stockholm. Đây cũng là đô thị đầu tiên trên thế giới
vận hành theo tiêu chuẩn bền vững với môi trường.
-

Tại TP có 11 nghìn nóc nhà này, rác thải được tái chế làm nhiên liệu sưởi ấm;
các tòa nhà lắp các tấm pin mặt trời.

-

TP có một nhà máy điện chạy bằng sức gió; nước mưa được thu gom, xử lý
và tận dụng cung cấp trở lại cho hệ thống các nhà vệ sinh, giúp giảm bớt khai
thác nước ngầm…

2.5.2. Ở Việt Nam:
+ Phú Mỹ Hưng được coi là khu đô thị mới với môi trường sạch đẹp và không gian
sống lý tưởng và các tiện ích đi kèm như nhà ở, khu mua sắm, bệnh viện, trường
học, công viên...Mới đây, tập đoàn này đã đầu tư 200 triệu đô-la Mỹ trong giai đoạn
một cho dự án Hồ Bán Nguyệt với 300 căn hộ cao cấp cho thuê, 10.000 m 2 văn
phòng, 22.000 m2 dành cho khu bản lẻ. Với lợi thế tiên phong, Phú Mỹ Hưng được


tuyến đường thủy và đường bộ quốc nội tại Nam Trung Bộ của Việt Nam. Đây cũng
là cửa ngõ của Tây Nguyên, Nam Lào, Bắc Campuchia và Thái Lan đến biển Đông.
Vào năm 1998,Thành phố Qui Nhơn đã được công nhận là một trong 3 trung
tâm thương mại du lịch của vùng duyên hải Nam Trung Bộ cùng với Đà Nẵng và
Nha Trang.
3.1.2. Đặc điểm địa hình:

Trang 15


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Thành phố Qui Nhơn có nhiều thế đất khác nhau, đa dạng về cảnh quan địa lý
như núi rừng, gò đồi, đồng ruộng, bãi, hồ, sông ngòi, biển, bán đảo và đảo. Thành
phố Qui Nhơn chia làm hai khu vực: khu vực thành phố cũ và khu vực mở rộng bán
đảo Phương Mai.
Khu vực thành phố cũ: khu vực này được gọi là khu vực thành phố cũ vì nó
gần như bị phá hoại hoàn toàn trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam và được tái xây
dựng sau khi chiến cuộc kết thúc. Khu vục thành phố cũ nằm sát bờ biển nhưng ở
giữa khu vực nội thành có núi Bà Hỏa cao 279,2m và núi Vũng Chua cao 500m
chia thành phố thành hai khu vực : Khu vực nội thành (phía Đông núi Bà Hỏa) và
khu vực phường Bùi Thị Xuân – Trần Quang Diệu (phía Tây núi Bà Hỏa).
Khu vực nội thành có địa hình tương đối bằng phẳng: độ cao thay đổi từ 1,5 4m, hướng dốc nghiêng từ núi ra biển và từ núi về các triền sông, độ dốc trung bình
từ 0,5 % - 1 %, khu vực gần sông Hà Thanh có độ dốc thấp hơn (từ 0 - 2m) và
thường bị ngập lụt trong mùa mưa bão.
Khu vực phường Bùi Thị Xuân – Trần Quang Diệu – Long Mỹ nằm hai bên
Đông và Tây của Quốc lộ 1A là thung lũng kẹp giữa núi Bà Hỏa và núi Hòn Chả.
Địa hình phía Tây đường Quốc lộ 1A tương đối bằng phẳng có cao độ từ 5,5 m đến
8m với độ dốc từ 0,5% - 1,5% rất thuận lợi cho xây dựng, khả năng thoát nước tự
nhiên tốt và không bị úng lụt. Địa hình phía Đông Quốc lộ 1A thấp trụng khó thoát

 Khu vực Bán đảo Phương Mai: có cấu tạo địa chất tốt, chủ yếu là cát hạt
mịn, cường độ chịu lực khá cao > 1,8kg/cm2.
3.1.4. Đặc điểm khí hậu:
Khí hậu Qui Nhơn là khí hậu nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á.Tương tự các
vùng đồng bằng trong tỉnh Bình Định là có đặc điểm một nền nhiệt độ cao và ít biến
động, có chế độ mưa ẩm phong phú và có 2 mùa rõ rệt : mùa mưa và mùa khô, sự
cách biệt giữa các mùa ít rõ rệt, chịu ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới. Mùa
mua từ tháng 9 đến tháng 12, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8.
3.1.4.1. Nhiệt độ không khí:
Nhiệt độ trung bình hàng năm 27,0 - 27,6 oC. Vào mùa Đông, các tháng
lạnh nhất là tháng 12, 1, 2, nhiệt độ trung bình tháng 23 – 25 oC. Vào mùa Hạ, các
tháng nóng nhất là tháng 6, 7, 8, nhiệt độ trung bình tháng là 28 - 30oC .

Trang 17


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Bảng 1: Nhiệt độ trung bình tháng trong năm của tỉnh Bình Định
Tháng
Năm 1

2

3

4

5



ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Năm
1

2

2008 3,3

3

4

5

6

12,2 136,0 19,9 49,0

7

8

9

10

11


Bảng 3. Độ ẩm trung bình tháng trong năm của tỉnh Bình Định.
Tháng
Năm
1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

2008

79


80

76

75

64

67

77

79

79

79

2010

80

79

83

81

78

Từ tháng 3 đến tháng 9 là thời kỳ nhiều nắng, trung bình hàng tháng 200 300 giờ nắng/ tháng, số ngày âm u không nắng không quá 4 ngày. Từ tháng 10 đến
tháng 2 năm sau là thời kỳ nắng ít, trung bình 100 - 180 giờ nắng/ tháng, mỗi tháng
có khoảng 5 - 8 ngày trời âm u hoàn toàn không có nắng.
3.1.4.7. Gió:
Nằm trong khu vực gió mùa hoạt động. Hằng năm, phân biệt được hai loại
gió theo hướng gió. Đông Bắc và gió Tây Tây Nam.
3.1.4.8. Các loại thời tiết đặc biệt:
Nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, áp thấp nhiệt đới và
gió Lào.


Bão: Thường đem đến những thiệt hại nghiêm trọng cho mùa màng
cũng như tài sản của nhân dân. Thời gian có bão hoạt động từ tháng 5
đến tháng 11, nhiều nhất từ tháng 9 đến tháng 11, trung bình năm có 14
cơn bão. Bão thường kèm theo những trận mưa lớn gây lụt lội, xói mòn.



Hội tụ nhiệt đới: Là dạng nhiễu động đăc trưng của gió mùa Hạ. Nó thể
hiện sự hội tụ giữa gió tín phong Bắc bán cầu và gió mùa mùa Hạ. Hội
tụ nhiệt đới gây ra những trận mưa lớn, thường thấy từ tháng 9 đến
tháng 11 và đôi khi vào các tháng 5 đến tháng 8.



Gió khô nóng gió Lào: Gió đặc biệt khô nóng xuất hiện trong mùa gió
mùa Hạ, xuất phát từ hướng Tây và Tây Nam. Hằng năm, trung bình gió
Lào hoạt động vào cuối tháng 5 đến trung tuần tháng 9.



Hồng. Do vị trí nằm trong thành phố và dọc theo dòng chảy của sông, rất nhiều hồ
trong số này (đặt biệt là hồ Bầu Sen và hồ Đống Đa) được sử dụng như những điểm
xả và xử lý tự nhiên cho các hệ thống thoát nước và cống chung. Trong những năm
gần đây, một số dự án cải tạo được tài trợ một cách cục bộ bằng vốn trong nước để
giúp duy trì khả năng thoát nước của những hồ này. Những dự án này chủ yếu nạo
vét những bùn đọng, nâng bờ hồ và bảo vệ bờ biển.
Hồ Đống Đa : là một phần của Đầm Thị Nại, nước sâu khoảng 4,1m khi
đầy và hạ xuống khoảng 2,6 m trong mùa khô. Trước đây, diện tích của hồ khoảng
50 ha nhưng gần đây khoảng 16 ha đã được lấp để phát triển đô thị. Phần còn lại dài
khoảng 1,7km. Đây là nguồn tiếp nhận chính của khu vực bên trong phía đông sân
bay cho đến nay. Hồ bị ảnh hưởng bởi thủy triều.
Hồ Bầu Sen : Nằm sát dưới chân núi Bà Hỏa thuộc phường Lê Hồng
Phong, diện tích mặt nước hồ (hồ A : 3 ha, hồ B : 1,5 ha) tổng 4,5 ha, độ cao đáy từ
0 – 0,3 m, độ cao bờ từ 2,5 – 3,2 m, dung tích 105000 m 3, các hồ đã được kè bằng
đá hộc có đường quản lý của công ty MTĐT để bảo dưỡng 12 miệng cống xả nước

Trang 21


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

thải vào lòng hồ. Do toàn bộ lượng nước thải chưa xử lý sơ bộ của các cộng đồng
khu dân cư sống quanh vùng đổ vào nên hồ càng bị ô nhiễm nặng nề.
Hồ Bông Hồng : nằm dưới chân núi Vũng Chua thuộc phường Gềnh Ráng,
đây là vùng ruộng, trũng thấp, cao độ từ 1,5 – 2,5m có dung tích 200.000 m 3.
Nhưng khu vực xung quanh hồ gần đây đã được UBND TP.Qui Nhơn đề xuất làm
khu công viên giải trí.
Hồ Phú Hòa : diện tích tự nhiên 7,5 ha. Độ sâu mực nước trung bình 0,5m
với dung tích là 112500m3 và xả thẳng ra biển thông qua sông Hà Thanh.
Hồ Bàu Lác ( ở Phú Tài) : diện tích tự nhiên 51 ha. Độ sâu mực nước trung

có rất nhiều. Giống tảo đỏ này được nuôi trồng rộng rãi trong khu vực ngập mặn để
phơi khô và làm thạch xuất khẩu. Tôm cũng được nuôi trồng rộng rãi trong khu vực
này và có thể bị ảnh hưởng bởi lượng nước xả vào đầm Thị Nại.
3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội :

3.2.1. Tình hình phát triển kinh tế :
Trong năm 2010 thành phố Quy Nhơn đã triển khai thực hiện cơ bản đạt
được các nhiệm vụ, chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra. Kinh tế thành phố tiếp tục tăng
trưởng, một số ngành, lĩnh vực phát triển, kim ngạch xuất khẩu đạt khá. Đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng, tăng năng lực sản xuất phục vụ nhu cầu phát triển KT-XH ngày
càng cao. Công tác quản lý, chỉnh trang đô thị có nhiều mặt tiến bộ. Các hoạt động
VH-XH có chuyển biến tích cực; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được
cải thiện; các chính sách xã hội được triển khai thực hiện kịp thời và hiệu quả góp
phần tích cực vào công tác giảm nghèo. An ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội
được giữ vững.
Trong năm 2010, kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu như sau:
- Tổng sản phẩm địa phương (GDP) tăng 14,81% so với năm 2009 (Nghị quyết
HĐND: tăng 15%).
- Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp ước đạt 4.064,8 tỷ đồng, tăng
18,61% so với năm 2009 (Nghị quyết HĐND: tăng 27%).
- Giá trị gia tăng các ngành dịch vụ ước đạt 1.449 tỷ đồng, tăng 13,95% so với năm
2009 (Nghị quyết HĐND: tăng trên 13%).
- Giá trị kim ngạch xuất khẩu ước đạt 346,75 triệu USD, tăng 12,33% so với năm
2009 (Nghị quyết HĐND: trên 340 triệu USD).

Trang 23


ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP




ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Phát triển khá và đa dạng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phục vụ sản
xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân.
+ Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội ước đạt 7.442 tỷ đồng –
tăng 60,66% so với năm 2009. Công tác kiểm soát thị trường, chống gian lận
thương mại, kiểm soát chất lượng hàng hoá, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm
trên địa bàn thành phố được tăng cường.
+ Giá trị kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 346,75 triệu USD, tăng 12,33%
so với năm 2009; trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước thực hiện 79,45 triệu USD –
tăng 20,19%, kinh tế tập thể 119.000 USD – giảm 58,68%, kinh tế ngoài quốc
doanh 255,59 triệu USD – tăng 10,85%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 11,59
triệu USD – giảm 1,23%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng khá, như:
hàng nông – thủy sản, gạo, giày dép các loại.
+ Giá trị kim ngạch nhập khẩu ước đạt 150,29 triệu USD, tăng 8,23% so với cùng
kỳ; trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước thực hiện 42,15 triệu USD – giảm 26,56%,
kinh tế ngoài quốc doanh 108,12 triệu USD – tăng 32,94%, kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài 16.000 USD – bằng 11,27% so với cùng kỳ. Chủ yếu nhập khẩu vật tư
phục vụ sản xuất, như: nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất, chế biến thực phẩm, may
mặc, linh kiện ô tô các loại.
+ Đã lập quy hoạch – dự án các chợ trên địa bàn, đang thi công xây dựng chợ Nam
sông Hà Thanh – phường Đống Đa; hoàn tất thủ tục để sớm đấu thầu xây dựng các
chợ: Xóm Tiêu – phường Quang Trung, mở rộng chợ khu 6; đồng thời lập thủ tục
chuẩn bị đầu tư chợ Đông Võ Thị Sáu, chợ Dinh – phường Nhơn Bình, chợ Hải
Minh – khu vực 9 phường Hải Cảng.
+ Đã cấp phép đăng ký kinh doanh cho 3.100 hộ, trong đó cấp mới cho 2.900 hộ với
tổng số vốn đăng ký kinh doanh là 315,5 tỷ đồng, tăng 2,35 lần so với năm 2008
(nguyên nhân đột biến tăng là do các hộ ngư dân đăng ký kinh doanh để được hỗ trợ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status