1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LÀO CAI
TRƯỜNG THPT SỐ 2 VĂN BÀN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NĂM HỌC 2013 – 2014
TÊN SÁNG KIẾN:
HƯỚNG DẪN HỌC SINH CÁCH LÀM BÀI
TẬP VÀ BÀI THỰC HÀNH VẼ BIỂU ĐỒ
NHANH TRONG CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA LÝ
LỚP 12 TRƯỜNG
THPT SỐ 2 VĂN BÀN
Giáo viên: Bùi Hải Định
Tổ
: Sử - Địa - GDCD
Lào Cai tháng 5 năm 2014
2
MỤC LỤC
Mục lục.....................................................................................................................1
Các từ viết tắt............................................................................................................2
Tài liệu tham khảo....................................................................................................3
A – PHẦN MỞ ĐẦU...............................................................................................4
I. Lí do chọn đề tài....................................................................................................4
II. Mục đich nghiên cứu............................................................................................4
III. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu...............................................................4
của
sáng
kiến
kinh
nghiệm...................................................................18
C
–
KẾT
LUẬN
–
KIẾN
NGHỊ
.............................................................................19
I. Kết luận..................................................................................................................19
II.
nghị...............................................................................................................19
Kiến
Thực hành trong học tập là một khâu hết sức quan trọng đối với quá trình dạy học trong nhà trường. Nó có thể giúp HS nắm được kĩ năng cả về mặt lí thuyết cũng
như hành động. Có thể nói đây là hình thức dạy kĩ năng chủ yếu và quan trọng nhất.
Rõ ràng muốn vận dụng được tri thức vào hành động thì cần phải có kĩ năng, mà kĩ
năng xuất phát từ kiến thức, vì vậy muốn hình thành cho HS được kĩ năng, nhất
thiết phải làm cho HS vừa có kiến thức lí thuyết vừa có kiến thức hành động.
Thực hành là một loại bài học dạy về kĩ năng, trong đó có hai nhiệm vụ: Cung
cấp kiến thức lí thuyết làm cơ sở cho kĩ năng và cung cấp kiến thức hành động của
kĩ năng.
Trước đây, trong chương trình và SGK Địa lí thường mới chỉ chú trọng đến
các bài dạy kiến thức, mà chưa chú ý đến các bài thực hành, nên tỉ lệ các bài thực
hành thường quá thấp. Nội dung các bài thực hành cũng tuỳ tiện, nhiều khi đơn
điệu, thiếu hệ thống và chưa được sắp xếp theo một trình tự từ dễ đến khó, chưa bao
quát được hết các loại kĩ năng cần thiết. Một quan niệm khá phổ biến, xuất phát từ
phương pháp dạy học truyền thống, cho rằng thực hành chỉ là một bài học vận dụng
tri thức, có mục đích củng cố kiến thức và kĩ năng đã học. Với quan niệm đó bài
thực hành không đem lại kiến thức gì mới cho HS, cũng không làm cho HS thấy
hứng thú. Khi dạy bài thực hành GV thường coi nhẹ và xem nó như một bài tập tự
làm bình thường của HS, GV không cần chuẩn bị cũng không cần soạn giáo án,
nhiều GV dạy bài thực hành cũng giống như dạy bài lí thuyết. Quan niệm về bài
thực hành như vậy hoàn toàn không đúng.
Trong quá trình giảng dạy môn học địa lí lớp 12, từ thực tiễn giảng dạy của đồng
nghiệp, nhận thức của học sinh và kết quả các kì thi tốt nghiệp THPT trong những
năm qua đối với bộ môn ở trong trường THPT Số 2 Văn Bàn, tôi rất trăn trở, suy
nghĩ về nội dung các bài tập và bài thực hành trong chương trình địa lí 12 vì đã
không thực sự được quan tâm và nhìn nhận một cách đúng mức, nhiều giáo viên
6
còn chưa coi trọng và chưa tận tình hướng dẫn học sinh làm các bài tập và bài thực
- Trong các lớp tôi tiến hành thực nghiệm HS đã tích lũy được những kĩ năng cơ
bản về :
7
+ Xử lí số liệu
+ Xác định nhanh biểu đồ cần vẽ
+ Vẽ nhanh và đúng biểu đồ theo yêu cầu
B – NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận chung của vấn đề :
1. Cơ sở lí luận
Để góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo học sinh thành những con
người năng động, độc lập và sáng tạo, tiếp thu được những tri thức khoa học, kỹ
thuật hiện đại, biết vận dụng tìm ra các giải pháp hợp lí cho những vấn đề trong
cuộc sống của bản thân và xã hội. Với nội dung học tập của môn Địa lí 12 chứa
đựng cả một kho tàng kiến thức sinh động và phong phú, hấp dẫn, dễ kích thích tính
tò mò ham hiểu biết của học sinh, tạo điều kiện cho việc hình thành động cơ, nhu
cầu nhận thức cũng như hứng thú học tập của học sinh. Địa lí là môn khoa học của
các môn khoa học, tri thức địa lí chủ yếu được hình thành bằng các phương pháp
quan sát, mô tả thực nghiệm, thực hành, tưởng tượng, liên hệ địa phương...Muốn
HS chủ động, tích cực tiếp thu, lĩnh hội các bài học trên lớp, giáo viên phải là người
hướng dẫn các em chủ động trong giờ học. Từ kiến thức lí thuyết các em đã nắm
được để vận dụng sáng tạo theo từng cấp độ để làm tốt các bài tập và các bài thực
hành. Qua thực tế hiện nay, hầu hết HS chưa nắm chắc các kĩ năng cơ bản như: đọc,
xử lí số liệu, vẽ biểu đồ và phân tích giải thích. Để HS hình thành những kĩ năng và
vận dụng thuần thục những kĩ năng trên, mỗi giáo viên đứng lớp cần dành thời gian
và quan tâm hơn nữa đến nội dung của các bài tập và bài thực hành. Vì những cơ sở
trên đây tôi muốn trao đổi với các bạn, các thầy cô tìm ra những phương pháp tối ưu
nhất để giúp các em có đầy đủ các kĩ năng địa lí, từ đó có hứng thú hơn với môn
, đánh giá... các em không chỉ ghi nhớ , củng cố kiến thức lý thuyết đã học mà còn
biết mô hình hóa các kiến thức đó qua các bài tập vẽ biểu đồ.
- Một số em HS đã có kĩ năng cơ bản sau khi học song chương trình lớp 10 và lớp
11.
- Bản thân GV khi thiết kế những bài tập thực hành cũng nhẹ nhàng hơn, bởi không
nặng nề về nội dung lý thuyết mà chủ yếu là đi sâu về các bước tiến hành, dẫn dắt
học sinh các thao tác để các em hoàn thanh bài tập.
2. Khó khăn
- Phần lớn HS và một bộ phận phụ huynh coi môn Địa lý là môn phụ nên chưa thực
sự coi trong, chưa thực sự chú tâm học.
- HS còn xem nhẹ việc rèn luyện kĩ năng thực hành địa lý so với việc rèn luyện kĩ
năng các môn học khác như văn, toán, lý hóa, ngoại ngữ... nên rất yếu kỹ năng thực
hành địa lý.
9
- Nhiều HS chưa chuẩn bị tốt các đồ dùng học tập cho bài thực hành như thước kẻ, bút
chì, compa, mấy tính.. còn coi nhẹ yêu cầu các bài thực hành nên cũng ảnh hưởng
nhiều tới kết quả : Vẽ biểu đồ chưa đẹp, chưa chính xác...
- Khi GV hướng dẫn các bước tiến hành một số HS chưa chú ý nên các em lúng túng
các thao tác: ví dụ cách xử lý số liệu, cách chọn tỷ lệ...
- Trong quá trình thực hành vẽ biểu đồ còn nhiều HS chưa biết cách nhận dạng biểu đồ
cần vẽ nên còn vẽ sai nhiều.
- HS thường quên ghi tên biểu đồ và chưa biết cách chú giải cho đúng với từng dạng
biểu đồ.
- Về phía GV: Xuất phát từ phương pháp dạy học truyền thống cho rằng thực hành
chỉ là một bài học vận dụng tri thức, có mục đích củng cố kiến thức và kĩ năng đã
học không đem lại kiến thức gì mới cho học sinh. Do đó khi dạy bài thực hành giáo
viên thường coi nhẹ và xem nó như một bài tập tự làm bình thường của học sinh,
một đại lượng (hoặc so sánh động thái phát triển của 2, 3, 4 đại lượng); so sánh
tương quan về độ lớn của 1 đại lượng (hoặc 2, 3, 4 đại lượng); thể hiện quy mô và
cơ cấu thành phần của 1 tổng thể .
- Các loại biểu đồ rất phong phú và đa dạng. Mỗi loại biểu đồ lại có thể dùng để
biểu hiện nhiều mục đích khác nhau. Vì vậy, việc đầu tiên là phải nắm hiểu đặc
điểm của từng loại và dạng biểu đồ, sau đó xem xét kĩ bảng số liệu và phần yêu cầu
cụ thể của đề bài (có thể nói: đây là 3 căn cứ cơ bản và khoa học để chọn nhanh,
đúng loại và dạng biểu đồ thích hợp nhất).
10
- Tuy vậy, bất kỳ một biểu đồ nào sau khi vẽ xong cũng cần phải đảm bảo các yêu
cầu cơ bản sau :
+ Tính khoa học (chính xác)
+ Tính trực quan (đúng, đầy đủ)
+ Tính thẩm mỹ (rõ ràng, đẹp).
2. Các loại biểu đồ thường gặp trong chương trình dạy và học địa lí :
- Biểu đồ đường (đồ thị): bao gồm các dạng: 1 đường, 2 hoặc 3 đường trong cùng 1
biểu đồ .
- Biểu đồ cột : bao gồm các dạng : cột đơn (1đại lượng); cột nhóm (nhiều đại
lượng ); cột chồng (cơ cấu thành phần của một tổng thể).
- Biểu đồ kết hợp (cột và đường) : thường gồm 1 cột + 1 đường để thể hiện cả động
thái phát triển và tương quan độ lớn giữa các đại lượng (biểu đồ cột thể hiện tương
quan độ lớn, biểu đồ đường thể hiện động thái phát triển) qua thời gian. Chỉ vẽ được
ở giá trị tuyệt đối .
- Biểu đồ hình - hình học (thường dùng hình tròn): Dùng để thể hiện quy mô và cơ
cấu thành phần của một tổng thể. Chỉ vẽ được ở giá trị tương đối (%)
2 hình tròn cho 2 năm, 3 hình tròn cho 3 năm, (chú ý đặt 2, (3) hình tròn ngang
nhau và tính toán - xác định bán kính (r) của 2, (3) năm đó .
ra”, “chia theo”… Nếu bảng số liệu cho có từ ba mốc năm trở xuống thì vẽ biểu đồ
tròn, trên bốn mốc năm thì vẽ biểu đồ miền.
- Phần căn cứ vào bảng số liệu thống kê: Khi nghiên cứu đặc điểm của bảng số
liệu để chọn vẽ biểu đồ nào thích hợp, HS cần lưu ý những điểm sau: Nếu bảng số
liệu đưa ra dãy số liệu: tỷ lệ (%) hay giá trị tuyệt đối phát triển theo một chuỗi thời
gian (có ít nhất 4 năm trở lên), HS nên chọn biểu đồ đường biểu diễn; nếu có một
dãy số liệu tuyệt đối về quy mô, số lượng của một (hay nhiều) đối tượng biến động
theo một số thời điểm (hay theo các thời kì), HS nên chọn biểu đồ hình cột đơn;
trong trường hợp có 2 đối tượng với 2 đại lượng khác nhau nhưng giữa chúng có
mối quan hệ hữu cơ như diện tích (ha), năng suất (tạ/ ha) của một vùng miền nào đó
theo chuỗi thời gian, HS nên chọn biểu đồ dạng kết hợp; nếu bảng số liệu có từ 3
đối tượng trở lên với các đại lượng khác nhau (tấn, mét, ha…) diễn biến theo thời
gian, HS nên chọn biểu đồ chỉ số; trong trường hợp bảng số liệu trình bày theo dạng
phân ra từng phần: tổng số, chia ra: nông - lâm - ngư, công nghiệp - xây dựng, dịch
vụ… Với bảng số liệu này, HS chọn dạng biểu đồ cơ cấu (hình tròn, cột chồng,
miền). Tuy nhiên, khi lựa chọn cần chú ý các điểm sau đây: Biểu đồ hình tròn (điều
kiện là các thành phần khi tính toán tổng toàn bộ phải bằng 100%); biểu đồcột
chồng (khi một tổng thể có quá nhiều thành phần, nếu vẽ biểu đồhình tròn thì các
12
góc cạnh hình quạt sẽ quá hẹp. Trường hợp này nên chuyển sang vẽ biểu đồ cột
chồng theo đại lượng tương đối (%) cho dễ thể hiện); biểu đồ miền (chỉ sử dụng khi
trên bảng số liệu các đối tượng trải qua từ 4 thời điểm trở lên, không nên vẽ hình
tròn).
- Căn cứ vào lời kết của câu hỏi: Trong nhiều trường hợp, nội dung lời kết của câu
hỏi chính là gợi ý cho vẽ một loại biểu đồ nào đó. VD: Cho bảng số liệu sau… Anh
(chị) hãy vẽ biểu đồ thích hợp… Nhận xét về sự chuyển dịch cơ cấu… và giải thích
nguyên nhân của sự chuyển dịch đó. Như vậy, lời kết của câu hỏi đã ngầm cho HS
+Nếu phải vẽ nhiều đường biểu diễn mà số liệu đã cho lại thuộc nhiều đơn vị khác
nhau thì phải tính toán để chuyển số liệu thô (số liệu tuyệt đối với các đơn vị khác
nhau) sang số liệu tinh (số liệu tương đối, với cùng đơn vị thông nhất là đơn vị %).
Ta thường lấy số liệu năm đầu tiên là ứng với 100%, số liệu của các năm tiếp theo
là tỉ lệ % so với năm đầu tiên. Sau đó ta sẽ vẽ đường biểu diễn.
4.2. Biểu đồ hình cột
Dạng này sử dụng để chỉ sự khác biệt về qui mô khối lượng của 1 hay 1 số
đối tượng địa lí hoặc sử dụng để thực hiện tương quan về độ lớn giữa các đại lượng
Ví dụ: Vẽ biểu đồ so sánh dân số, diện tích... của 1 số tỉnh (vùng, nước) hoặc vẽ
biểu đồ so sánh sản lượng (lúa, ngô, điện, than... ) của 1 số địa phương qua 1 số
năm
* Các bước tiến hành khi vẽ biểu đồ hình cột
- Bước 1: Chọn tỉ lệ thích hợp
- Bước 2: Kẻ hệ trục vuông góc (trục đứng thể hiện đơn vị của các đại lượng, trục
ngang thể hiện các năm hoặc các đối tượng khác nhau)
- Bước 3: Tính độ cao của từng cột cho đúng tỉ lệ rồi thể hiện trên giấy
- Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ (ghi các số liệu tương ứng vào các cột tiếp theo vẽ kí
hiệu vào cột và lập bản chú giải cuối cùng ta ghi tên biểu đồ)
- Bước 5 : Ghi tên cho biểu đồ và thiết kế chú giải
+ Ghi tên dựa vào câu hỏi trong đề thi.
+ Thiết kế chú giải:
* Lưu ý :
Các cột chỉ khác nhau về độ cao còn bề ngang của các cột phải bằng nhau. Tùy theo
yêu cầu cụ thể mà vẽ khoảng cách các cột bằng nhau hoặc cách nhau theo đúng tie
lệ thời gian. Cần lưu ý là ở biểu đồ hình cột thì việc thể hiện độ cao của các cột là
14
điều quan trọng hơn cả bởi vì nó cho thấy rõ sự khác biệt vì qui mô số lượng giữa
+Biểu đồ hình vành khăn
*Biểu đồ miền còn được gọi là biểu đồ diện. Loại biểu đồ này thể hiện được cả cơ
cấu và động thái phát triển của các đối tượng. Toàn bộ biểu đồ là 1 hình chữ nhật
(hoặc hình vuông), trong đó được chia thành các miền khác nhau
Ví dụ: Biểu đồ về sự thay đổi cơ cấu giá trị sản lượng của các ngành nông nghiệp
nhóm A và nhóm B (thời kì 1998 - 2007)
4.4. Biểu đồ miền
Biểu đồ miền còn được gọi là biểu đồ diện .Loại biểu đồ này thể hiện được
cả cơ cấu và động thái phát triển của các đối tượng. Toàn bộ biểu đồ là 1 hình chữ
nhật (hoặc hình vuông) , trong đó được chia thành các miền khác nhau
15
Ví dụ : Biểu đồ về sự thay đổi cơ cấu giá trị sản lượng của các ngành nông nghiệp
nhóm A và nhóm B (thời kì 1998 _2007)
*Các bước tiến hành khi vẽ biểu đồ miền
- Bước 1: Vẽ khung biểu đồ : Kẻ hệ trục tọa độ vuông góc (trục đứng thể hiện tỉ lệ
%( giá trị bằng 100 %), còn trục nằm ngang thể hiện thời gian( chú ý chia khoảng
cách các năm phù hợp với bảng số liệu)
- Bước 2: Vẽ ranh giới của miền : Xác định các điểm ranh giới của miền, sau đó nối
các điểm đó lại với nhau. Vẽ lần lượt các miền theo bảng số liệu. Vẽ miền thứ 2
bằng cách cộng số liệu của miền thứ nhất với số liệu của miền thứ 2 sau đó xác định
các điểm rồi lại chúng lại với nhau, các miền tiếp theo vẽ tương tự như vậy cho đến
hết.
- Bước 3 : Hoàn thiện biểu đồ (ghi số liệu vào các miền )
- Bước 4 : Ghi tên cho biểu đồ và thiết kế chú giải
+ Ghi tên dựa vào câu hỏi trong đề thi.
+ Thiết kế chú giải:
*Lưu ý : Trường hợp bản đồ gồm nhiều miền chồng lên nhau , ta vẽ tuần tự từng
ví dụ :
+
: sản lượng lương thực qua các năm .
+
: số dân qua các năm .
- Các kí hiệu cần sử dụng màu sắc hoặc gạch nền để phân biệt các đại lượng khác
nhau, các kí hiệu ở bảng chú giải phải tương ứng với kí hiệu thể hiện trong biểu đồ.
6. Các biểu đồ minh họa:
- Biểu đồ cột:
Ví dụ: Biểu đồ thể hiện biến động diện tích cây công nghiệp hăng năm và cây công
nghiệp lâu năm ở nước ta giai đoạn 1975-2005
17
- Biểu đồ đường - đồ thị
Ví dụ: Biểu đồ biểu diễn dân số và sản lượng lương thực của nước ta giai đoạn
1980 - 2005
18
- Biểu
đồ kết hợp cột + đường:
Ví dụ: Biểu đồ thể hiện sự biến đổi diện tích rừng và độ che phủ rừng ở nước ta
giai đoạn 1943 - 2005
2013 - 2014:
Tổng số HS
227
Học lực dưới trung bình
Điểm từ
Điểm từ
0- 3,4
0
Học lực từ trung bình trở lên
Điểm từ
Điểm từ 6,5- Điểm
3,5 - 5
4 HS
5- 6,4
60 HS
7,9
122 HS
8- 10
41HS
= 1,8%
= 26,4%
đủ. Tất cả những điều này mong quý thầy cô giáo cùng đóng góp ý kiến để đề tài
hoàn chỉnh hơn .
II. Kiến nghị
- Đối với các giáo viên giảng dạy khối lớp 12, cần tạo mọi điều kiện về thời gian ở
trên lớp để hướng dẫn cho học sinh các kỹ năng cần thiết về chọn, vẽ, hoàn thiện
một loại hoặc một dạng biểu đồ.
- Đối với các giáo viên giảng dạy ở các khối lớp 10, 11 cần thực hiện tốt hơn các
loại bài thực hành địa lí, nhất là kĩ năng lựa chọn vẽ và hoàn thiện một biểu đồ.
Xin chân thành cảm ơn !
Văn Bàn, ngày 25 tháng 05 năm 2014
Người viết
Bùi Hải Định
22