Lập hồ sơ hiện hành ở các ban đảng trực thuộc ban chấp hành trung ương thực trạng và giải pháp - Pdf 32

J

,



............... .....-

.....







ĐẠI HỌC Q ư ó c GIA HÀ NỘI
TRƯ Ờ NG Đ Ạ I HỌ C K H O A HOC X Ã H Ộ I V À N H Â N VÃN
-------------

0

0

^

0

3

------------------------------


ý

nghĩa của

đề

tài

3

2. M ục tiêu của đề tài

6

3. Đ ối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu

6

4. Phạm vi nghiên cứu

7

5. L ịch sử nghiên cún

7

6. Nguồn tư liệu tham khảo

11

Ban Châp hành Trung ương Đảng Cộng sản V iệ t Nam

17

1.3. Thành phần, nội dung tài liệu hình thành trong hoạt động của các
ban trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản V iệ t Nam

24

Chương 2: Thực trạng công tác lập hồ sơ hiện hành ở các ban
trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

32

2.1. Tầm quan trọng của công tác lập hồ sơ hiện hành ở các ban trực
thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản V iệ t Nam

32

2.2. Quy định của Nhà nước, các cơ quan Đảng về công tác lập hồ sơ
hiện hành

37

2.3. Công tác lập hồ sơ hiện hành ở các ban trực thuộc Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Cộng sản V iệt Nam

46

2.3.1. Tình hình lập hồ sơ hiện hành ở các ban trực thuộc Ban Chấp

70

3.3. Mở lớp tập huấn về công tác lập hổ sơ hiện hành

73

3.4. Thực hiện kiểm tra công tác lập hồ sơ hiện hành của các đơn vị

75

3.4.1. Hình thức, nội dung kiểm tra công tác lập hồ sơ hiện hành

75

3.4.2. Khen thưởng các đơn vị làm tốt công tác lập hồ sơ hiện hành

81

3.4.3. Xử p h ạ t các đơn vị còn trì trệ trong công tác lập hồ sơ
hiện hành

82

I I I . KẾT LUẬN

85

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

87

văn thư đều có quy định về nhiệm vụ lập hồ sơ hiện hành trong công tác văn
thư ở các cơ quan. Nhưng thực tế, công tác lập hổ sơ hiện hành vẫn là một
mảng yếu, trì trệ trong công tác công văn, giấy tờ của các cơ quan. Tài liệu
hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan hầu như chưa được iập
hổ sơ, ý thức của cán bộ văn thư, cán bộ chuyên mồn về công tác lập hồ sơ
chưa cao, nhiều hồ sơ được lập cũng chưa đạt yêu cầu ...
Có thể nói, thực trạng lập hồ sơ hiện hành như trên không chỉ diễn ra ở
riêng các cơ quan Nhà nước mà thực trạng này còn diễn ra ở các cơ quan
Đảng, trong đó có các ban trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản V iệ t Nam (sau đây gọi là các ban trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương).


4
Tài liệu trong quá trình hoạt động của các ban trực thuộc Ban Chấp
hành Trung ương hầu như chưa được lập hồ sơ hoặc hồ sơ được lập nhưng chất
lượng hồ sơ không cao. Trong công tác văn thư, các ban phần nhiều chưa ban
hành những quy định, hướng dẫn về công tác lập hồ sơ, công tác lập hồ sơ
không được hướng dẫn, đôn đốc thực hiện trong cơ quan. Cán bộ, công chức
còn chưa hiểu hoặc hiểu chưa tường tận về ý nghĩa, tác dụng của lập hồ sơ,
phương pháp lập hồ sơ ...V ì thế, công tác lập hổ sơ hiện hành ở các ban trực
thuộc Ban Chấp hành Trung ương hầu như không được tiến hành, việc lập hồ
sơ trở thành khâu mờ nhạt trong hoạt động văn thư của cơ quan. Tài liệu
không được lập hồ sơ nên rất khó khăn trong việc tra tìm thông tin, quản lý,
bảo mật tài liệu. Do vậy, hoạt động hành chính ở các ban trực thuộc Ban Chấp
hành Trung ương bị ảnh hưởng trong việc quản lý chặt chẽ tài liệu, cung cấp
thông tin chính xác, kịp thời đến lãnh đạo, cán bộ, chuyên viên trong cơ quan,
gây nên nạn quan liêu giấy tờ...
Mặt khác, trong công tác lưu trữ của các ban trực thuộc Ban Chấp hành
Trung ương, khi tiến hành thu thập tài liệu vào lưu trữ cơ quan diễn ra tình
trạng tài liệu giao nộp chủ yếu là dưới dạng bó, gói, tài liệu của các đơn vị

trữ).
Từ thực trạng lập hồ sơ hiện hành đáng báo động ở các ban trực
thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng như trên, chúng tô i đã chọn đề tài:

“Lập hồ sơ hiện hành ở các ban trực thuộc Ban Chấp hành Trung ươns;
Đảng Cộng sản Việt Nam -Thực trạng và giải pháp'1'’ làm luận văn tốt
n&hiệp Cao học của mình. K h i thực hiện đề tài, chúng tô i có điều kiện tìm
hiểu về công tác lập hồ sơ hiện hành ở các ban trực thuộc Ban Chấp hành
Trung ương, thấy được những mặt thuận lợi và tồn tại trong công tác lập
hồ sơ hiện hành của các cơ quan để từ đó đề ra những giải pháp nhằm cải
thiện công tác lập hổ sơ hiện hành ở các ban.
N goài ra, việc nghiên cứu đề tài sẽ giúp cho lãnh đạo, cán bộ, công
chức trong các ban trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương thấy được tầm
quan trọng, ý nghĩa của việc lập hổ sơ trong hoạt động của m ỗi cá nhân,
cơ quan. Từ đó mà có những hiểu biết về công tác này và thực hiện lập hổ


6
sơ trong hoạt động của cơ quan, dần đưa công tác lập hổ sơ hiện hành của
cơ quan đi vào nề nếp.

2. MỤC TIÊU CỦA ĐỂ TÀI
Đề tài của chúng tôi được thực hiện nhằm hai mục tiêu:
- Trình bày thực trạng của công tác lập hồ sơ hiện hành ở các ban trực
thuộc Ban Chấp hành Trung ương; đồng thời chỉ ra được những nguyên nhân
cơ bản đã và đang ảnh hưởng đến đến công tác lập hồ sơ hiện hành ở các cơ
quan.
- Kiến nghị với các cấp có thẩm quyền và lãnh đạo các ban một số giải
pháp chính, trước mắt để giải quyết tình trạng tài liệu không được lập hồ sơ
như hiện nay ở các ban, thúc đẩy công tác lập hồ sơ hiện hành ở các ban theo

hành Trung ương, phân tích những hạn chế, ưu điểm trong công tác này ở các
ban.


7
-

Trên cơ sở đó, bước đầu đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất

lượng công tác lập hổ sơ hiện hành ở các ban.

4. PHẠM VI NGHIÊN c ứ u
Luận văn của chúng tôi nghiên cứu về thực trạng công tác lập hồ sơ
hiện hành của các ban trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương và đề ra các giải
pháp cho cống tác này. Các ban tuy có chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức
khác nhau nhưng làm nhiệm vụ tham mưu cho Ban Chấp hành Trung ương mà
trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư về lĩnh vực được phân
công. Do đó, trong hoạt động của mình, các ban trực thuộc Ban Chấp hành
Trung ương đã sản sinh ra nhiều loại tài liệu với số lượng và thành phần tài
liệu khác nhau.
Trong các ban ngoài tài liệu hành chính là chủ yếu thì ở một số ban còn
có các loại tài liệu đặc thù, phản ánh chức năng, nhiệm vụ của cơ quan.
Luận văn của chúng tôi tìm hiểu về thực trạng lập hồ sơ hiện hành khối
tài liệu hành chính ở các ban trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương và đi sâu
vào tình hình ở một số ban như: Ban Dân vận Trung ương, Ban Khoa giáo
Trung ương, Ban K inh tế Trung ương, Ban N ội chính Trung ương, Ban Tư
tưởng- Văn hoá Trung ương. Qua nghiên cứu thực trạng cồng tác lập hồ sơ tài
liệu hành chính ở các ban này để có thể đề ra các giải pháp thúc đẩy công tác
lập hồ sơ tài liệu hành chính ở các ban trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương.
Còn vấn đề lập hồ sơ đối với tài liệu đặc thù, chúng tôi chưa đặt ra trong Luận

xếp tài liệu trong hổ sơ.
Sau k h i bản Điều lệ về công tác công văn giấy tờ và cóng tác lưu trữ
được ban hành, vấn đề lập hổ sơ hiện hành ở các cơ quan đã được chú ý
nghiên cứu, trao đổi trên phương diện lý luận và thực tiễn ở nhiều công trình
như: các chuyên luận, báo cáo chuyên đề, các ?iáo trình, các bài viết trên các
tạp chí, khoá luận tốt nghiệp của sinh viên chuyên ngành.
Các bài viết nghiên cứu, trao đổi về công tác lập hồ sơ đã được đăng
trên các tài liệu, tạp chí chuyên ngành như: Tài liệu nghiên cứu công tác lưu
trữ của Cục Lưu trữ Phủ Thủ tướng giai đoạn 1966-1968, Tập san Lưu trữ Hổ
sơ giai đoạn 1969-1972, Tập san Văn thư- lưu trữ giai đoạn 1973-1990, Tạp
chí Lưu trữ V iệ t Nam giai đoạn 1991-2003 và hiện nay là Tạp chí Văn thư
Lưu trữ V iệ t Nam. Đặc biệt, trong những năm 1960-1970, các bài viết bàn về
lý luận và thực tiễn công tác lập hồ sơ hiện hành ở các cơ quan hành chính nhà


9

nước là một chủ đề lớn dành được sự quan tâm của bạn đọc. Tuy nhiên, các
bài viết về công tác lập hồ sơ ở các cơ quan Đảng lại chiếm một số lượng ít, có
thể kể đến bài viết của tác giả Văn Thu: Tăng cường chỉ đạo công tác lập hồ

sơ ở văn phòng các cấp uỷ và các ban của Đảng (Tạp chí Văn thư- lưii trữ số
4/1986) là m ột trong những bài viết nghiên cứu về công tác này ở các cơ quan
Đảng.
Vào cuối những năm 60 và đầu những năm 70 của thế kỷ X X , các bài
viết của tác giả Nguyễn Xuân Nung, Phạm Thân, Thiết Thạch...bàn nhiều về
công tác lập hồ sơ như: nguyên tắc, phương pháp lập hồ sơ, kinh nghiệm lập
hồ sơ ở nhiều cơ quan, lập hồ sơ khi chỉnh lý sơ bộ tài liệu cũng như vấn đề
nộp lưu hồ sơ vào lưu trữ cơ quan ở các đơn vị. V í dụ: Phương pháp lập hồ sơ


ương và địa phương như bộ, Uỷ ban nhân dân. V í dụ, các Luận văn tốt nghiệp
của sinh viên: T ổ chức quản lý công văn đi-công văn đến và lập hồ sơ hiện

nay ở cấp Bộ của Nguyễn Thị Thu Hằng (Luận văn tốt nghiệp năm 1982), Vấn
đề lập và sử dụng Danh mục hồ sơ của Uỷ ban nhân dân thành p h ố Hải
Phòng của M a i T h ị Huệ (Luận văn tốt nghiệp năm 1978) và gần đây có Luận
văn Thạc sĩ của Nguyễn Xuân Trung là Lập hồ sơ hiện hành và nộp lưu vào

hút trữ của các cơ quan bộ (năm 2005).
Như vậy, ngay từ khi Chính phủ có Nghị định 142/CP ban hành Điều lệ
về công tác công văn, giấy tờ và công tác lưu trữ quy định về công tác lập hổ
sơ hiện hành thì vấn đề này đã là đề tài nghiên cứu, trao đổi của nhiều nhà
nghiên cứu, cán bộ nghiệp vụ qua các sách chuyên ngành và trên diễn đàn của
ngành như Tạp chí Văn thư- lưu trữ. Qua những công trình nghiên cứu này
cho thấy tình trạng tài liệu ở các cơ quan nhà nước cũng như ở các cơ quan
Đảng phần nhiều chưa lập được hồ sơ. Và tình trạng này vẫn tổn tại cho đến
hiện nay.
Trong những công trình nghiên cứu nói trên thì vấn đề thực trạng và
giải pháp về lập hổ sơ ở các ban trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương chưa
được quan tâm nghiên cứu nhiều. Tình hình lập hổ sơ hiện hành ở các ban trực
thuộc Ban Chấp hành Trung ương còn nhiều vấn đề đặt ra, cần phải nghiên
cứu, khảo sát để đưa ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác này được thực
hiện tốt hơn.


6. NGƯỔN T ư LIỆ U T H A M KHẢO
Để thực hiện đề tài, chúng tôi tập trung vào các nguồn tài liệu sau đây:
- Các văn bản của cơ quan Đảng và Nhà nước có thẩm quyền quy định
về công tác lập hổ sơ hiện hành như: Pháp lệnh Bảo vệ tài liệu lưu trữ quốc


12
- Đặc biệt, đề tài của chúng tôi còn được thực hiện dựa vào các tài liệu
lưu trữ phản ánh thực tế công tác văn thư, trong đó có công tác lập hồ sơ của
các ban như các báo cáo năm của cơ quan về công tác văn thư- lưu trữ. Các
báo cáo của Văn phòng Trung ương Đảng tổng kết về công tác văn thư- lưu
trữ như Báo cáo SỐ2Ỉ6-BCIVPTW ngày 19/8/2005 của Văn phòng Trung ương

tổng kết công tác văn thư, lưu trữ Đảng và các tổ chức chính trị- xã hội từ
tháng 1012003 đến nay và các nhiệm vụ trọng tâm đến năm 2007.

7. PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN

cúu

Đề tài của chúng tôi được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa M ác-Lênin để xem xét về công tác văn thư- lưu trữ, tài liệu lưu trữ,
các nguyên tắc, phương pháp của lưu trữ học.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp cụ thể như:
+ Phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích đối với việc nghiên
cứu các quy định, lý luận và phương pháp lập hồ sơ trong các công trình
nghiên cứu;
+ Phương pháp thống kê với trường hợp nghiên cứu các báo cáo về công
tác văn thư, lưu trữ của cơ quan;
+ Phương pháp điều tra đối với các cán bộ, chuyên viên về cồng tác lập
hồ sơ trong quá trình giải quyết công việc của họ.

8. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỂ TÀI
Những kiến nghị của chúng tôi về công tác lập hồ sơ hiện hành ở các

Chưong 2: Thực trạng công tác lập hồ so hiện hành ở các ban trực
thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Trong Chương này, chúng tôi tìm hiểu về tình hình lập hồ sơ hiện hành
của các ban, đề cập đến những hạn chế và nguyên nhân trong công tác lập hổ
sơ hiện hành ở các ban trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương.

Chương 3: Giải pháp thúc đẩy công tác lập hồ sơ hiện hành ở các
ban trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ kết quả nghiên cứu, tìm hiểu ở Chương 1 và Chương 2, trong Chương
3 này, chúng tô i trình bày các giải pháp cần thực hiện để đẩy mạnh công tác
lập hồ sơ hiện hành ở các ban trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương.


14
Công tác lập hồ sơ hiện hành ở các cơ quan nói chung và lập hổ sơ hiện
hành ở các ban trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương nói riêng là m ột vấn đề
tồn tại từ nhiều năm nay. Trong quá trình thực hiện đề tài về công tác này
chúng tôi đã gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu, khảo sát thực tế,
xử lý thông tin. M ặ t khác, do năng lực có hạn, luận văn của chúng tôi không
tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế trong hướng giải quyết vấn đề, trong việc
đề ra các giải pháp. V ì vậy, chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của các
nhà nghiên cứu, các cán bộ văn thư- lưu trữ ở các ban và bạn đọc.
X in trân trọn» cảm ơn.


15

II. NỘ I D U N G
CHƯƠNG 1: CHỨC NĂNG, NHIỆM


Trung ương theo Quyết định số 04-Q Đ /TW ngày 24/8/1991 của Bộ Chính trị.


16
Nhìn chung, với chức năng, nhiệm vụ của mình, các ban trực thuộc Ban
Chấp hành Trung ương là cơ quan tham mưu không thể thiếu của Đảng trong
quá trình lãnh đạo nhân dân xây dựng và bảo vệ đất nước. V ì vậy, các ban trực
thuộc Ban Chấp hành Trung ương thành lập, hoạt động và phát triển trong suốt
thời kỳ lịch sử của dàn tộc và tồn tại đến ngày nay. Tuy nhiên, cũng có những
ban có thời gian hoạt động tương đối ngắn, được giải thể sau khi hoàn thành
nhiệm vụ cua thời kỳ cách mạng đó. Như trường hợp của Ban K inh tế Trung
ương được thành lập theo Quyết nghị số 57-Q N /TW ngày 30/9/1950 của Ban
Thường vụ Trung ương và từ năm 1950 đến nay đã có 18 tên gọi khác nhau:
Ban K in h tế Trung ương, Ban Nông nghiệp Trung ương, Ban Công nghiệp
Trung ương, Ban Cơ khí Trung ương...Trong cùng một thời kỳ, có những Ban
K in h tế hoạt động với chức năng khác nhau, bảo đảm tham mưu, giúp việc cho
Trung ương về từng lĩnh vực kinh tế như Ban Công tác nông thôn (3/19563/1964) có nhiệm vụ chính giúp các cấp uỷ lãnh đạo công tác nông thôn, chủ
yếu là công tác đổi công, hợp tác xã mua bán, hợp tác xã tín dụng và hợp tác
xã sản xuất nông nghiệp; theo dõi tình hình biến đổi giai cấp ở nông thôn và
xu hướng, nguyên vọng các giai cấp ở nông thôn. Cũng trong khoảng thời kỳ
đó, Ban Tài chính- Thương nghiệp Trung ương (1960-5/1974) có nhiệm vụ
chính: nắm tinh hình về vật tư, hàng hoá (kể cả vật tư dự trữ của Nhà nước); về
cung cấp cho các nhu cầu, kể cả các nhu cầu đặc biệt; về tiết kiệm nhân tài,
vật lực trong sản xuất, chiến đấu và đời sống; về thu chi tài chính và lưu thông
tiền tệ, về giá cả thị trường; nghiên cứu, theo dõi, kiểm tra về đường lối,
phương châm, các chính sách lớn và biện pháp trọng yếu về tài chính, thương
nghiệp, giá cả; nắm tình hình tổ chức và cán bộ của các ngành trong khối.
Các Ban K in h tế Trung ương sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử của
mình ở m ỗi giai đoạn lịch sử được giải thể, thành lập cơ quan mới hoặc sáp
nhập với Ban K in h tế khác thành Ban K inh tế Trung ương mới như: Ban Nông

Các cơ quan tham mưu của Ban Chấp hành Trung ương gồm các ban
như: Ban Tổ chức Trung ương, Ban K inh tế Trung ương, Ban Tư tưởng-Văn
hoá Trung ương, Ban Khoa giáo Trung ương, Ban Cán sự Đảng ngoài nước,
Ban Đ ối ngoại Trung ương, Ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương, Ban N ội
chính Trung ương, U ỷ ban K iểm tra Trung ương, Ban Dân vận Trung ương,
Ban Tài chính-Quản trị Trung ương, Văn phòng Trung ương.

g U N Afs/i T H Õ N G TIN

thư v iệ n

I


1 8

1.2.1.

Chức năng, nhiệm vụ của các ban trực thuộc Ban Chấp hành

Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Các ban trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương là cơ quan có chức năng
tham mưu cho Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp và thường xuyên là Bộ
Chính trị, Ban Bí thư về các chủ trương, chính sách lớn thuộc các lĩnh vực của
đời sống xã hội, các lĩnh vực chỉ đạo của Đảng.
V í dụ: Ban Đối ngoại Trung ương là cơ quan có chức năng tham mưu
cho Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị,
Ban Bí thư về chủ trương và các chính sách lớn thuộc lĩnh vực đối ngoại đồng
thời là cơ quan tổ chức thực hiện quan hệ đối ngoại của Đảng [43; 1]. Còn
chức năng của Ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương là cơ quan tham mưu

Chính trị, Ban Bí thư.
V í dụ: Ban Dân vận Trung ương có nhiệm vụ thẩm định các Đề án về
công tác dân vận của các ban, ngành, mặt trận và các đoàn thể Trung ương
trước khi trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư; thẩm định các chính sách, Đề án có
liên quan đến quyền dân chủ của nhân dân và công tác dân vận của Chính
phủ, các Bộ, ngành, cơ quan Nhà nước (bao gồm cả quân đội và công an).
[36; 1-2]
* Hướng dẫn, kiểm tra

- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện đường lố i, chủ trương, chính sách
về lĩnh vực mà ban tham mưu hoặc được phân công.
V í dụ: Ban Dân vận Trung ương có nhiệm vụ hướng dẫn và kiểm tra
việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Đảng về dân vận đối với
các tỉnh, thành uỷ, các ban Đảng, ban cán sự Đảng, Đảng uỷ trực thuộc Trung
ương, đảng đoàn; Phối hợp hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác dân vận
đối với đội ngũ cán bộ phụ trách công tác dân vận của cấp uỷ địa phương
[36;2].
Các ban còn phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn chức
năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế của cơ quan tham mun các tỉnh,
thành uy.
* Tham gia công tác xây dựng Đảng và xây dựng dội ngũ cán bộ trong

khối các cơ quan thuộc lĩnh vực mình phụ trách
- Tham gia với Đảng uỷ khối mình về phương hướng, công tác xây
dựng Đảng.


2 0

- Tham gia ý kiến về quy hoạch, đào tạo, bổi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm,


21
- Văn phòng Trung ương là cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung
ương Đảng, có chức năng tham mưu, giúp Ban Chấp hành Trung ương Đảng
mà trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức, điều hành công việc lãnh đạo
của Đảng; phối hợp, điều hoà hoạt động của các cơ quan tham mưu của Trung
ương; đổng thời, là một trung tâm thông tin tổng hợp phục vụ lãnh đạo.
Văn phòng Trung ương có nhiệm vụ: Xây dựng và tổ chức thực hiện
chương trình công tác, quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tổ chức phục vụ các cuộc họp, ghi biên bản,
lập hồ sơ các H ội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị,
Thường vụ Bộ Chính trị; Theo dõi, đôn đốc, thẩm tra việc chuẩn bị các Đề án
trình Trung ương; Tổng hợp tình hình của các tỉnh, thành uỷ về lãnh đạo, chỉ
đạo tổ chức thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương, phối hợp với
các ban đảng nắm tình hình hoạt động của các ban, Ban Cán sự đảng, đảng
đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương, báo cáo kịp thời với Bộ Chính trị; Tổ
chức tiếp dân tại Trụ sở tiếp dân của Trung ương, tiếp nhận và chuyển giao
đơn thư của nhân dàn đến các cơ quan có trách nhiệm giải quyết, theo dõi kết
quả giải quyết m ột số vụ việc được Thường trực Bộ Chính trị giao; Các nhiệm
vụ khác: tổ chức quản lý, khai thác mạng tin học diện rộng của Đảng; tiếp
nhận, phát hành và quản lý các tài liệu, văn kiện của Trung ương, quản lý tập
trung, thống nhất Phông Lưu trữ Đảng Cộng sản V iệ t Nam, quản lý Kho lưu
trữ của Trung ương Đảng, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra nghiệp vụ công tác
văn thư, lưu trữ trong các cơ quan Đảng và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
M in h ... [34; 1-3].
- Ưỷ ban K iểm tra Trung ương:
Về chức năng, trách nhiệm của U ỷ ban K iểm tra Trung ương đã được
quy định trong Quyết định số 07-Q Đ /TW ngày 22/8/2001 của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng về Quy chế làm việc của U ỷ ban Kiểm tra Trung ương khoá


động đã hình thành nên các đơn vị trực thuộc, ở các ban, các đơn vị trực thuộc
cũng có sự biến động, điều chỉnh như thành lập mới, tách, nhập các đơn vị để
phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, lề lố i làm việc của các ban ở từng giai đoạn
lịc h sử.
Hiện nay, cơ cấu tổ chức của các ban tương đối ổn định, về cơ bản đã
đáp ứng được các yêu cầu về thực hiện nhiệm vụ được giao.
Lãnh đạo ban gồm: Trưởng ban và các Phó Tnrởng ban.


23
Cơ cấu tổ chức của các ban thường có các đơn vị như: Văn phòng, Vụ
Tổ chức- cán bộ. Ngoài ra, tuỳ theo lĩnh vực tham mưu của các ban mà mỗi
ban tổ chức các vụ, bộ phận theo dõi từng chuyên ngành, lĩnh vực nhỏ trong
phạm vi lĩnh vực mà ban tham mưu cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính
trị, Ban Bí thư.
V í dụ: Ban Dân vận Trung ương có các vụ theo dõi về lĩnh vực dân vận
như: Vụ Công tác dân vận của các cơ quan nhà nước; Vụ Đoàn thể nhân dân,
Vụ Công tác tôn giáo, V ụ Dân tộ c .. ,[36;2-3].
Trong cơ cấu tổ chức của các ban còn có các Tạp chí, Bản tin như: Tạp
chí Công tác khoa giáo (của Ban Khoa giáo Trung ương), Tạp chí Dân vận
(của Ban Dân vận Trung ương), Bản tin K inh tế (của Ban K inh tế Trung
ương).. .Nhiều ban còn có các đơn vị nghiên cứu, ví dụ: Trung tâm thông tin
công tác tư tưởng, Trung tâm nghiên cứu dư luận xã hội (của Ban Tư tưởngVăn hoá Trung ương)...
Nhìn chung, cơ cấu tổ chức của các ban tham mưu tương đối gọn nhẹ.
Nhung trong số đó, cũng có một số ban có tổ chức bộ máy tương đối lớn do
chức năng, nhiệm vụ của ban. V í dụ: Ban Tài chính- Quản trị Trung ương là
cơ quan quản lý tài chính, tài sản của Đảng và đảm bảo hậu cần của Trung
ương. Cơ cấu tổ chức của ban ngoài các vụ, Cục Quản trị thì với chức năng,
nhiệm vụ của mình, còn có các đơn vị kinh doanh và sự nghiệp có thu trực
thuộc như: Công ty trách nhiệm hữu hạn in Tiến Bộ, Công ty trách nhiệm hĩíu

giúp việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nên tài liệu
hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan này không chỉ gồm tài
liệu đi mà còn gồm tài liệu từ nhiều nguồn khác như từ các cơ quan Trung
ương và địa phương gửi đến với nội dung phản ảnh các lĩnh vực của đời sống
xã hội, phản ánh sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, phản ánh sự triển khai, thực
hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng trong thực tế .. .Thành phần
tài liệu ở các ban gồm:

*Nhóm tài liệu đến của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị,
Ban B í thư, Quốc hội, Chính phủ
-

Tài liệu đến của Trung ương đề cập đến những vấn đề mang tính chú

trương, đường lố i, chính sách chung về các lĩnh vực của đất nước để các ban
nghiên cứu hoặc giải quyết công việc hàng ngày. Như: Văn kiện Đại hội Đảng
toàn quốc, N ghị quyết H ội nghị Trung ương.


Trích đoạn Mục đích, ý nghĩa của công tác lập hồ sơ hiện hàn hở các ban Quy định của Nhà nước về công tác lập hồ so hiện hành Quy định của cơ quan Đảng vê công tác lập hồ sơ hiện hành Xây dựng bản danh mục hồ sơ cơ quan \N (HA PHÀN HT RUNG ƯƠNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status