Đặc điểm từ ngữ và câu văn trong truyện ngắn võ thị hảo - Pdf 32

1

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học Vinh

Lê Thị Vinh

Đặc điểm từ ngữ và câu văn
trong truyện ngắn võ thị hảo
Chuyên ngành: lý luận ngôn ngữ
Mã số:
60.22.01

Luận văn thạc sĩ ngữ văn

Ngời hớng dẫn khoa học:
gs. Ts. Đỗ Thị Kim Liên

Vinh, 2007

Mở đầu

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cùng với thời kỳ đổi mới của đất nớc, văn học Việt Nam cũng bớc
vào một giai đoạn chuyển mình với nhiều biến đổi mạnh mẽ. Vì vậy mỗi nhà
văn đã có sự tìm tòi, sáng tạo và tìm ra những hớng đi mới cho tác phẩm của
mình. Là một nhà văn nằm trong dòng chảy chung của văn học thời kỳ này,
Võ Thị Hảo đã thể hiện cái nhìn rất riêng về con ngời và cuộc sống vào trong
tác phẩm truyện ngắn của mình và đã đợc sự chú ý quan tâm của d luận.
1.2. Tác phẩm văn học là một hệ thống ký hiệu, có tổ chức riêng hay
một bộ cấu trúc ở dạng chỉnh thể. Để đi vào tìm hiểu nó độc giả phải nắm đợc

nữ, 2005), làm đối tợng nghiên cứu.
Để tiện theo dõi, chúng tôi đánh số La Mã của từng truyện trong ba tập
truyện ngắn theo thứ tự:
- Tập truyện Goá phụ đen gồm:
I: Lửa lạnh
II: Chuông vọng cuối chiều
III: Ngời đàn ông duy nhất
IV: Bàn tay lạnh
V: Tiếng vạc đêm
VI: Goá phụ đen


3

- Tập truyện Ngời sót lại của rừng cời gồm:
VII: Trận gió màu xanh rêu
VIII: Vầng trăng mồ côi
IX: Ngời gánh nớc thuê
X: Dây neo trần gian
XI: Ngời sót lại của rừng cời
XII: Ngày không mút tay
XIII: Máu của lá
XIV: Phúc lộc thọ lên trời
XV: Mắt miền tây
XVI: Bán cốt
- Tập truyện Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm gồm:
XVII: Dệt cỏ
XVIII: Ngời chăn bò thần thánh
XIX: Đêm vu lan
XX: Lãnh cung

cuộc sống không bình ổn và nhiều biến động. Song chính ở sự trải nghiệm
cuộc sống đó chị đã tái hiện một cách sinh động, tinh tế, chân thực, mạnh mẽ
trong trang văn của mình. ẩn đằng sau câu chữ trau chuốt là những tâm sự day
dứt khôn nguôi về số phận con ngời, về cuộc đời và nhân tình thế thái.
Điểm lại quá trình, chúng tôi thấy những bài nghiên cứu về tác phẩm
truyện ngắn Võ Thị Hảo cha nhiều. Có thể kể tên một số công trình nh sau:
Tác giả Nhị Hà có bài: Tôi ngồi bệt trên đất, và viết [21], ở bài viết này
tác giả cho rằng, truyện ngắn của chị "đầy thân phận, ngọt ngào, lẫn chua xót,
trăn trở và ám ảnh", đó là những điều rất cần thiết trong ngòi bút vì chị không
chấp nhận những lối mòn. Cũng trong bài viết này "Từ những truyện ngắn đầu
tiên cho đến truyện ngắn gần đây nhất" của chị đã có những "thay đổi về
quan niệm sáng tác của ngời viết hôm qua và ngời viết hôm nay"
Tác giả Nguyên Hằng có bài: Suốt đời chỉ mơ một giấc [21], đã có
những nhận định sâu sắc về nội dung, phong cách của tác giả truyện ngắn Võ
Thị Hảo "Chị đợc xếp vào hàng những cây bút sắc sảo và giàu nữ tính. Những
thân phận đàn bà, những con ngời nhỏ bé trớc bão lũ cuộc đời, những gì rất
riêng t mà chẳng riêng t chút nào". Đặc biệt nhân vật của chị xuất hiện "Sau
chiến tranh, những số phận bị mất mát đã đứng dậy ra sao và những ngời đợc
rất nhiều, họ chuyển mình ra sao để trở thành nhân vật chính của thời đại
CNH đó là điều khiến tôi trăn trở".
Tác giả Bích Thủy có bài: Sứ mệnh nhà văn là thức tỉnh lơng tri [22],
nói đến trí tởng tợng, t tởng, ớc mơ, khát vọng của nhà văn khi viết "Có ngời
cho rằng, cho dù có xua tan hết những khoảng trời của trí tởng tợng, nghĩa là
không cho phép tởng tợng nữa, thì hàng ngàn nhà văn của một đất nớc vẫn cứ
viết" đó là sứ mệnh của nhà văn Võ Thị Hảo là chia sẻ niềm vui, nỗi đau, và
thức tỉnh lơng tri.
Trong bài viết của Lơng Thị Bích Ngọc nhan đề: Võ Thị Hảo giữa
những trang viết, trang đời [22], trong trang viết của mình chỉ bộc lộ ngòi bút
rất riêng " Có một cái gì đó nh bật dội lên một cách mạnh mẽ trong những


1.1.1. Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật
Ngôn ngữ là dụng cụ, chất liệu cơ bản của văn học. Vì vậy mà văn học
đợc gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ. Ngôn ngữ nghệ thuật đợc bắt nguồn từ
ngôn ngữ toàn dân, đợc gọt dũa, chọn lọc qua lao động nghệ thuật của ngời
nghệ sĩ và chính ngôn ngữ nghệ thuật này lại làm phong phú thêm cho ngôn
ngữ toàn dân. Ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở cá tính sáng tạo, ở phong cách
và tài năng của ngời nghệ sĩ.
Thuộc tính của ngôn ngữ nghệ thuật chính là tính chính xác, tính hàm
súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình và tính biểu cảm. Căn cứ để phân biệt ngôn
ngữ nghệ thuật với các loại hình ngôn ngữ khác là ở chỗ ngôn ngữ nghệ thuật,
là thứ ngôn ngữ mang ý nghĩa thẩm mỹ. Tính hình tợng là thuộc tính bản chất
nhất xuyên suốt, quy định mọi thuộc tính khác trong ngôn ngữ nghệ thuật.
Vậy ngôn ngữ nghệ thuật đợc hiểu nh thế nào? Tác giả IU.M Lốt man,
nhà nghiên cứu văn học Nga, cho rằng: "Văn học có tính nghệ thuật nói bằng
một thứ ngôn ngữ đặc biệt, thứ ngôn ngữ đợc xây chồng lên trên ngôn ngữ tự
nhiên với t cách là hệ thống thứ hai" [32, tr.49]. Theo ông ngôn ngữ nghệ
thuật đợc hình thành từ ngôn ngữ tự nhiên, nhng giữa ngôn ngữ nghệ thuật và
ngôn ngữ tự nhiên có sự khác biệt về đặc trng: "Trong văn bản có tính nghệ


7

thuật ngôn từ thì không chỉ ranh giới giữa các ký hiệu là khác nhau, mà bản
thân khái niệm ký hiệu cũng khác nhau" [32, tr.49]. Cũng theo tác giả, thì
"ngôn ngữ tự nhiên" đợc nhắc đến ở đây "là các ký hiệu - những đơn vị ổn
định và bất biến của văn bản - và các quy tắc cú đoạn học đợc lẩy ra tơng đối
dễ dàng" [32, tr.49].
Tác giả Đinh Trọng Lạc cũng cho rằng "Ngôn ngữ nghệ thuật - tức
ngôn ngữ, trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ - là một mã phức tạp đợc
cấu tạo nên từ hệ thống tín hiệu thứ nhất (ngôn ngữ tự nhiên)" [24, tr.140]. Có

so sánh đối chiếu ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ phi nghệ thuật ở các phơng diện sau.
a. Về hệ thống tín hiệu
Ngôn ngữ phi nghệ thuật là hệ thống tín hiệu tự nhiên, mang tính toàn
dân, có thể đợc xác định nh là một mã chung, phổ biến giúp con ngời diễn đạt
suy nghĩ tình cảm, là công cụ của quá trình giao tiếp và t duy. Còn ngôn ngữ
nghệ thuật, tức ngôn ngữ trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ lại là một mã
phức tạp hơn, đợc cấu tạo nên từ hệ thống tín hiệu thứ nhất (từ ngôn ngữ tự
nhiên).
Nhà văn sử dụng ngôn ngữ để tạo nên tác phẩm nghệ thuật. Vì vậy
"ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học, "ngôn ngữ trở thành vật liệu xây
dựng nên những hình tợng diễn đạt t tởng nghệ thuật". Mỗi yếu tố ngôn ngữ
trong tác phẩm văn học là một phơng tiện biểu hiện, tham gia vào việc bộc lộ
nội dung t tởng nghệ thuật của tác phẩm.
b. Về chức năng xã hội
Ngôn ngữ phi nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật hoàn thành những
chức năng khác nhau. ở đây cần phân biệt phẩm chất thẩm mỹ với chức năng
thẩm mỹ. Phẩm chất thẩm mỹ của ngôn ngữ nh sự hoàn thiện về hình thức, sự
đầy đủ hài hoà về nội dung, tính rõ ràng sáng sủa, sự chặt chẽ cân đối trong
cách trình bày. Những yếu tố này có thể có mặt trong cả lời nói khoa học,
công văn sự vụ, chính luận. Lời nói sinh hoạt hàng ngày thờng có những thuộc
tính nh tính diễn cảm, tính tạo hình, tính hình tợng. Chức năng chủ yếu có tính
chất quyết định trong tất cả các phong cách ngôn ngữ kể trên vẫn là chức năng
giao tiếp, nh trao đổi trực tiếp, thông báo, thông tin. Những phẩm chất thẫm
mỹ nếu có thì chỉ đóng vai trò phụ thuộc thứ yếu.
Trong ngôn ngữ của văn nghệ thuật thì chức năng thẩm mỹ xuất hiện ở
bình diện thứ nhất, nó đẩy chức năng giao tiếp xuống bình diện thứ hai. Chức
năng thẩm mỹ đợc hiểu khác về chất: chức năng nghệ thuật - hình tợng. Chức
năng thẫm mỹ của ngôn ngữ trong các tác phẩm nghệ thuật là ở chỗ tín hiệu
ngôn ngữ là yếu tố tạo thành hình tợng.
c. Về bình diện nghĩa

đọc, với các công trình nghiên cứu đáng quan tâm, nh Vơng Trí Nhàn: "Sổ tay
truyện ngắn" (1980), Nguyễn Thái Hoà "Những vấn đề thi pháp của truyện"
(2000)...và nhiều bài nghiên cứu và công trình tiểu luận khác. Các nhà nghiên
cứu đã đa ra nhiều định nghĩa và những quan niệm khác nhau về thể loại
truyện ngắn nh sau:
K. Pautốpxki - nhà văn Nga, xác định: "Thực chất truyện ngắn là gì?
Tôi nghĩ rằng truyện ngắn là một truyện viết ngắn gọn, trong đó cái không
bình thờng hiện ra nh một cái gì bình thờng, và cái gì bình thờng hiện ra nh
một cái gì không bình thờng" [39, tr. 121]. ở đây K. Pautốpxki rất quan tâm
đến tính sự kiện trong truyện ngắn, ông nhấn mạnh sự đan xen giữa cái bình
thờng và cái không bình thờng - cái lôgic cuộc sống này thì truyện ngắn đã
thực sự có chỗ đứng trong lòng ngời đọc.
Tác giả A. Tônxtôi viết: "Truyện ngắn là một hình thức nghệ thuật khó
khăn bậc nhất. Trong các tác phẩm thể tài lớn, chúng ta có thể "dọn" cho độc


10

giả "no nê" với những món sang đại loại hoặc nh miêu tả cho thật sinh động,
đối thoại cho thật sâu sắc...còn nh trong truyện ngắn, tất cả nh trong bàn tay
anh. Anh phải thông minh nh anh đã phải hiểu biết. Bởi lẽ hình thức nhỏ
không có nghĩa là nội dung không lớn lao" [ 39, tr. 124]. Có thể thấy A.
Tônxtôi đã trả lời câu hỏi truyện ngắn là gì.
Nguyễn Công Hoan - cho rằng: "Truyện ngắn không phải là truyện, mà
là một vấn đề đợc xây dựng bằng chi tiết với sự bố trí chặt chẽ, và bằng thái
độ với cách đặt câu, dùng tiếng có cân nhắc...Muốn truyện ấy là truyện ngắn
chỉ nên lấy một trong ngần ấy ý làm ý chính, làm chủ đề cho truyện...Những
chi tiết trong truyện chỉ nên xoay quanh chủ đề ấy thôi" [18, tr.321-322].
Trong quan niệm về truyện ngắn, Nguyễn Công Hoan chú ý hơn đến tính chủ
đề - chỉ là "một vấn đề", một lớp truyện.

...Truyện ngắn làm đợc điều đó nhờ vào sự hỗ trợ, sự lao động, sự trải nghiệm
của nhà văn, của ngôn từ. A. tônxtôi đã nói: "Hình thức nhỏ không có nghĩa là


12

nội dung không lớn lao" [ 39, tr. 116]. Xét ở hiệu quả nghệ thuật "Truyện ngắn
có quyền bình đẳng với tiểu thuyết" [54, tr.75]. Bởi truyện ngắn mang đến cho
ngời đọc một khả năng lớn trong việc tiếp nhận hiện thực.
Có thể nói rằng truyện ngắn hiện đại là một kiểu t duy mới, một cách
nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng mang tính thể loại của một
số cây bút hiện nay. Hình thức tự sự cỡ nhỏ này có thể vơn tới những giới hạn
mới.
b. Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn xét về mặt bố cục, kết cấu, cốt truyện
Truyện ngắn là cách thức tiếp cận miêu tả đời sống và con ngời. Đối với
truyện ngắn truyền thống, kết cấu truyện đóng một vai trò quan trọng "là cái
chìa khoá để mở tất cả những cánh cửa bí mật của một ngôi nhà". ở đây tác
giả thể hiện sự tôn trọng cấu trúc, trật tự. Trong tình hình đó thể loại truyện
ngắn đợc tổ chức theo một cách hiểu truyền thống phổ biến là quá trình nhân
quả. Các nhà viết truyện ngắn sau 1975 đã có những cách tổ chức mới, có khi
nhà văn vào truyện bằng cách kết thúc vấn đề rồi mới lý giải khơi ngợi sự liên
tởng, suy ngầm của ngời đọc.
Khi sáng tác nói chung và viết truyện ngắn nói riêng, nhà văn phải sắp
xếp các cảnh ngộ, tính cách và sự kiện theo một trình tự, một hệ thống nhất
định, theo những tỷ lệ nhất định để trình bày với ngời đọc nội dung tác phẩm
đợc gọi là tổ chức kết cấu tác phẩm. Tác giả Bùi Việt Thắng cho rằng: "Trong
thực tiễn sáng tác truyện ngắn thì thờng các nhà văn chú ý đến hai khâu quan
trọng nhất khi xây dựng cốt truyện: chi tiết và đoạn kết" [54, tr.84]. Cốt truyện
trong truyện ngắn là kiểu cốt truyện đơn tuyến.
Kết cấu là kiến trúc tác phẩm, là quan hệ hữu cơ giữa toàn thể với bộ

nhng hình thức nghệ thuật phải là nơi bộc lộ tài năng, cá tính là sự thể hiện


15

tìm tòi khám phá riêng đầy công phu của tác giả. Tác giả Võ Thị Hảo cũng
vậy, nhà văn đã tự phác họa cho mình chân dung độc đáo và riêng biệt qua tập
Goá phụ đen, Ngời sót lại của rừng cời và Những truyện không nên đọc lúc
nửa đêm đã minh chứng cho sự cố gắng đó.
Rất nhiều mảng đời, những số phận cụ thể đợc nhà văn tái hiện trong
tác phẩm. Một ngời tàn tật hát rong với trái tim đa cảm, giàu tình thơng yêu
con ngời (Ngời đàn ông duy nhất); một ngời đàn ông đáng thơng luôn bị hắt
hủi, ghẻ lạnh, sống một cuộc sống cô độc nhng vẫn luôn nghĩ tới dân làng
(Vầng trăng mồ côi)...Tuy nhiên, Võ Thị Hảo đã có sự thể hiện, lựa chọn cách
viết riêng. Tác giả hớng ngời đọc vào thế giới tâm hồn sâu thẳm của con ngời
để cùng suy nghĩ, trăn trở. Những nhân vật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo thờng là những nhân vật mang hình thức dị dạng khác ngời, nhng tâm hồn họ lại
thánh thiện, giàu lòng vị tha, giàu đức hy sinh.
Truyện Ngời sót lại của rừng cời đợc tác giả khai thác từ đề tài chiến
tranh, nhng những nỗi niềm tâm sự của cô gái trẻ lại là nỗi niềm sau chiến
trận. Nhân vật Thảo - cô gái thanh niên xung phong mới bới ra khỏi chiến
tranh vừa phải mang trong mình nỗi đau thơng mất mát do bom đạn, vừa phải
chịu đựng nỗi đau của thời bình. Tởng nh cô phải chứng kiến sự hy sinh của
những ngời đồng chí thân thiết nh ruột thịt. Đây là nỗi đau tởng chừng lớn
nhất. Nhng đau hơn, đáng buồn hơn lại là việc cô phải chạy trốn những tình
cảm, hạnh phúc riêng t để nghĩ cho ngời khác. Nhân vật Thảo đã vợt lên tất cả
để giữ vững đợc bản chất, cốt cách của ngời lính: đó là sự hy sinh và lòng vị
tha.
Trong truyện Vầng trăng mồ côi, ta bắt gặp nhân vật Lão Nhát - ngời đàn
ông đã trở thành đối tợng để cả làng bỡn cợt và ghẻ lạnh. Suốt cuộc đời ông luôn
cố gắng để hoà nhập với mọi ngời, song cho dù ông đã phải đánh đổi cả sự sống

ngắn là một loại hình quan trọng trong ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ truyện
ngắn dễ dàng nhận diện ở dung lợng, bố cục, kết cấu, cốt truyện và vai trò
trong việc hình thành phong cách nhà văn.
Cũng trong chơng này chúng tôi đi đến khái quát những đặc điểm
chung về nhà văn Võ Thị Hảo, nhà văn đã khẳng định đợc mình qua một số
tác phẩm. Võ Thị Hảo là một nhà văn có sức sáng tạo dồi dào, truyện ngắn
của chị đã thể hiện tài năng, cá tính luôn thể hiện sự tìm tòi khám phá riêng
đầy công phu: ở các khía cạnh nh khai thác đề tài, sử dụng ngôn ngữ nghệ
thuật, xây dựng hình tợng nghệ thuật và trong việc lựa chọn ngôn từ. Ngôn
ngữ truyện ngắn Võ Thị Hảo lãng mạn, trữ tình, ẩn chứa nội dung ngữ nghĩa
sâu sắc, là những tâm sự day dứt khôn nguôi về số phận con ngời, về cuộc đời
và nhân tình thế thái.


17

Chơng 2
Đặc điểm sử dụng từ ngữ
trong truyện ngắn Võ Thị Hảo
2.1. Đặc điểm về từ trong ngôn ngữ và trong sử dụng
2.1.1. Định nghĩa về từ
Từ là một đơn vị cơ bản, là đơn vị cốt lõi để tạo nên những đơn vị lớn
hơn nh cụm từ, câu, văn bản. Từ là đơn vị hết sức quan trọng, giống nh viên
gạch để xây dựng nên toà lâu đài ngôn ngữ - phục vụ cho nhu cầu giao tiếp,
trao đổi thông tin của con ngời.
Từ tồn tại ở trạng thái tĩnh trong hệ thống ngôn ngữ có những đặc điểm
khác với từ tồn tại trong trạng thái động, ở khả năng hành chức của nó, và
chính "Trong hoạt động ngôn ngữ, các từ mới thực sự bộc lộ những thuộc tính
và đặc điểm vốn có của chúng trong hệ thống ngôn ngữ, mới hiện thực hoá cụ
thể các bình diện của nó, hơn nữa trong hoạt động giao tiếp, từ còn có thể

truyện không nên đọc lúc nửa đêm.
Bảng thống kê từ loại lớp từ miêu tả tâm trạng cảm xúc trong
truyện ngắn Võ Thị Hảo
Từ loại
TT
1

Động từ
Tổng số

Tác giả, tác phẩm
Ngời đàn ông duy nhất

182

2

Tiếng vạc đêm

272

3

Goá phụ đen

104

Danh từ

Tính từ


1,9%

15,4%

49%

33,7%

9
2

27
16

102
51

134
35


20

Bảng thống kê phân loại trên cho ta thấy kết quả khảo sát lớp từ miêu tả
tâm trạng, cảm xúc trong ba tập truyện ngắn của Võ Thị Hảo về mặt từ loại
nh sau: ở truyện Ngời đàn ông duy nhất: 18 danh từ, chiếm 9,9%; Tiếng vạc
đêm: 9 danh từ, chiếm 3,3%, Goá phụ đen: 2 danh từ, chiếm 1,9%.
Danh từ nh: Nỗi đau, sự nhẹ dạ, cái d vị, niềm vui sống, sự chở che, nỗi
nhớ, cái hôn, sự hy sinh, sự nể trọng..., chiếm tỉ lệ cao nhất trong các truyện

nàng ra khỏi cơn cời loạn" [III, tr.32].
Nhân vật Thụ với những giọt nớc mắt không phải là hạnh phúc trong
đêm giao thừa mà là giọt nớc mắt của tuyệt vọng, của nỗi buồn: "Anh nằm vật
ra, nớc mắt thấm nhơm nhớp mu bàn tay đang gác lên mặt" [V, tr.119].
Trong truyện Goá phụ đen tình cảm nồng ấm, chân tình của Thuận và
Đang trên con tàu trắng dành riêng cho hai ngời. Với những cử chỉ và giọt nớc
mắt của Đang biểu hiện cho tình yêu hạnh phúc, sự gắn kết tình cảm của hai
ngời: "Đang choàng tay ôm Thuận nh giông bão. Anh run rẫy hôn những giọt
nớc mắt của nàng. Anh nói nh hụt hơi:


22

- Có cần anh phải đánh vần tên gọi tình cảm của anh đối với em lâu
nay không?
- Không! - Nàng lắc đầu" [VI, tr.158].
Những rung động tình cảm trong sâu thẳm nội tâm nhân vật cũng đợc
Võ Thị Hảo khai thác triệt để. Trong truyện ngắn Lửa lạnh nhân vật s Tuệ
Giác có những tình cảm: Thí chủ quái ác! Cái nhìn choáng rợn thu xuống
đất. Đất của tôi có cay đâu. Sao mắt của thí chủ bốc hơi mờ nh sơng" [I,
tr.14].
Nhân vật ngời mẹ trong truyện ngắn Chuông vọng cuối chiều đó là tâm
trạng nặng trĩu nỗi buồn vì cuộc đời đen bạc, vì ngời chồng không tốt đã làm
cho một nicô phá giới và có một đứa con. Nỗi buồn đó khiến ngời mẹ trong
truyện ngắn này chỉ biết tha thẩn trầm ngâm trớc cuộc đời : Rời nghĩa địa, tôi
quay về chùa, gặp mẹ tôi đang tha thẩn nhặt những cánh hoa đại rụng. Thấy
tôi, mẹ ngừng nhặt hoa, trầm ngâm một lúc rồi nhỏ nhẹ kể tiếp cho tôi nghe
chuyện về ngời đàn bà đã khuất" [II, tr.28-29]. Tâm trạng ngời mẹ hụt hẫng
xót xa, cay đắng trớc ngời chồng phụ bạc.
Trong Bàn tay lạnh nhân vật Trang lần đầu tiên rung động với những

"Sao ta lại bỏ trốn? Sao ta lại hèn nhát? Sao không vứt bộ mặt lạnh này
đi. Sao không gục đầu vào ngực anh, nói rằng em mỏi mệt, rằng em muốn
khóc, để nớc mắt em làm ớt ngực anh...rằng ...dù ngày mai có ra sao thì anh
vẫn là ngời đàn ông mà em cần...
Hạnh run rẩy. Cô không dám ngớc nhìn vào mắt anh. Một nỗi sợ hãi
bản năng lại xâm chiếm cô...
...và, cố nén để không bật khóc, nh cố sức vần tảng đá trên ngực, Hạnh
từ từ chống tay ngồi dậy. Giọng run run" [V, tr.114 - 115].
Sự không thống nhất giữa hành động và tâm trạng đó càng khắc họa rõ
sự giằng xé, mâu thuẫn trong nội tâm của nhân vật.
Nhân vật Thành trong Ngời sót lại của rừng cời cũng xuất hiện với tâm
trạng gặp lại ngời yêu - Thảo ở chiến trờng về. Khi con ngời ở vào hoàn cảnh
éo le nếu không có sự cảm thông chia sẽ thì rất khó hoà hợp tâm hồn: "Thành
dần tin là thật. Anh thầm trách con ngời phụ bạc, nhng đồng thời thấy nhẹ
nhõm nh vừa cất đợc gánh nặng" [XI, tr. 101]. Hành động đợc miêu tả đã làm
rõ tâm trạng của nhân vật.
Nh vậy, các động từ chỉ hành động, cử chỉ trong truyện ngắn Võ Thị
Hảo đã làm tăng tính diễn cảm, tính hàm ẩn và tính hình ảnh cho ngôn ngữ tác
phẩm.
2.2.1.2. Dùng hệ thống từ ngữ miêu tả sự đa dạng, phức tạp của tâm
trạng, cảm xúc
a. Dùng những từ, ngữ cùng nghĩa, gần nghĩa liên tiếp trong câu miêu
tả
Các từ đồng nghĩa của tiếng Việt là những đơn vị thoả mãn đợc những
đòi hỏi nói trên ."Mỗi từ đồng nghĩa là một bức tranh, một mảnh nhỏ của một
tác phẩm văn học cô gọn lại trong một từ" [8, tr. 212]. Những từ đồng nghĩa
hoặc gần nghĩa là những phơng tiện quý báu của nghệ thuật văn học.


24

nhân vật mà còn tăng tính biểu đạt cho ngôn ngữ nghệ thuật.
Trong khi tìm hiểu truyện ngắn Võ Thị Hảo, chúng tôi thấy tác giả kết
hợp nhiều từ ngữ thuộc trờng nghĩa chỉ hành động, cử chỉ, cảm giác, trạng
thái, tính chất...để miêu tả tâm trạng cảm xúc của nhân vật. Mỗi truyện ngắn
là một bức tranh sinh động đợc tạo nên bởi chính lớp từ này vì vậy bức tranh
cuộc sống đợc hình dung một cách rõ nét và cụ thể hơn, thâm nhập vào thế
giới nội tâm nhân vật qua lớp từ miêu tả cảm xúc: Trong truyện Trận gió màu


25

xanh rêu ngời mẹ đã hoá điên khi biết hài cốt của chồng mình lại là một nửa
bộ xơng, đầu có cái mõm dài. Nỗi đau đó khiến cho bà tê dại ngất đi "Bà mẹ
vẫn cời say sa, mắt mơ màng nh thiếu nữ" [VII, tr. 17]; nhân vật cô con gái với
tâm trạng buồn lặng lẽ nh kiếp những ngời đàn bà ở Làng Đẽo này, quanh năm
suốt tháng chỉ biết đục đá với bàn tay chai sạn. Cuộc sống hàng ngày nh đè
nặng lên tâm hồn cô con gái: "Thấy một tia sáng chợt ngời lên trong đôi mắt
đen lúc nào cũng thui thủi buồn của cô gái" [VII, tr. 22]; cũng với tâm trạng
nh thế ngời phụ nữ già nhất Làng Đẽo cũng đè nén tâm trạng bằng tiếng "thở
dài sờn sợt" [VII, tr. 23]; "Bà già nở một nụ cời héo hắt và bất chợt vùng vằng
bỏ đi. Chẳng ai trông thấy đợc những giọt nớc mắt của bà chỉ chực tràn ra
sau nếp khăn vuông". Thực tế nghiệt ngã phũ phàng đã làm cho cuộc đời của
họ, những ngời phụ nữ bị thiệt thòi, mất mát trong chiến tranh và sau chiến
tranh. Đó cũng là vẻ đẹp tâm hồn của Võ Thị Hảo khi thấu hiểu những tâm sự,
cuộc đời, tâm nguyện, ẩn ý, nỗi lòng khát khao từ sâu thẳm trong tâm hồn
nhân vật. Chị đã tạo nên cái hồn cho tác phẩm của mình.
Nhân vật Lão Nhát trong Vầng trăng mồ côi bị cả làng ghẻ lạnh xa lánh
nên với tâm trạng dè dặt và kìm nén nỗi đau đó: "Lão Nhát ngấm ngầm đau
đớn trớc những cái nhìn gằn hắt của làng" [VIII, tr. 26]; Ông Tiếu - ngời gánh
nớc thuê luôn thấy sự đè nặng bao quanh từ nội tâm đến hình hài, sự khắc khổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status